Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
LƯU THỊ CHIỀU
sử DỤNG CÂU HỎI ĐẺ ĐÁNH GIÁ
THƯỜNG XUYÊN TRONG DẠY HỌC TOÁN
CHO HỌC SINH LỚP 4
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2015
LƯU THỊ CHIỀU
sử DỤNG CÂU HỎI ĐÊ ĐÁNH GIÁ
THƯỜNG XUYÊN TRONG DẠY HỌC TOÁN
CHO HỌC SINH LỚP 4
Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc Tiểu học)
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngưòi hướng dẫn khoa học: TS. PHÙNG NHƯ THỤY
Tác giả xỉn bày tỏ lòng biết ơn sâu sẳc tới thầy giáo hướng dẫn khoa học TS. Phùng Như Thụy đã tận tình
hướng dẫn, hết lòng giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Tác giả xỉn bày tỏ lòng biết ơn tới Ban chủ nhiệm cùng các thầy cô , phòng Đào tạo Sau đại học, trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận
ĐC
Dạy học
Đối chứng
GV
Giáo viên
HS
KT
Học sinh
Kiểm tra
PHT
Phiếu học tập
pp
Phưong pháp
SGK
Sách giáo khoa
TN
PPDH
trường phải biết cách khơi dậy và phát triển đầy đủ những tiềm năng của mỗi
học sinh. Chính vì thế giáo dục tiểu học có vị trí rất quan trọng trong hệ thống
giáo dục quốc dân, là nền tảng của giáo dục phổ thông, là cấp học đầu tiên cho
sự phát triển nhân cách toàn diện của trẻ. Do vậy việc đổi mới giáo dục tiểu học
là một nhiệm vụ hàng đầu. Trong dạy học các cấp học nói chung và trong dạy
học tiểu học nói riêng có những phương pháp dạy học khác nhau phù hợp với
đặc trưng của cấp học, môn học hay bài học. Điều quan trọng là người giáo viên
phải biết cách vận dụng những phương pháp đó cho từng đối tượng học sinh cụ
thể, đặc biệt là hoc sinh tiểu hoc.
Do đó, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kí ban hành nghị quyết Hội nghị
lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ưong khóa XI (Nghị quyết số 29 - NQ/TW) với
nội dung Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đáp ứng yêu cầu Công nghiệp
hóa - Hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết đã nêu rõ :"Tiếp tục đổi mới phương
pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt
một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích
tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát
triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lóp sang tổ chức hình thức học tập đa
dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh
ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học". "Đổi mới căn bản
hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo,
đảm bảo trung thực, khách quan. Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục
và đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng
8
giáo dục thế giới tin cậy và công nhận. Phối họp kết quả đánh giá trong quá
trình học và đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh
Toán cho học sinh lóp 4.
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
-
Quan sát.
-
Trò chuyện, phỏng vấn các chuyên gia, các giáo viên có nhiều kinh
nghiệm, các em học sinh.
-
Điều tra bằng phiếu kiểm tra.
5.3 Phương pháp thực nghiêm sư phạm: Tố chức thực nghiệm sư phạm để
đánh giá tính hiệu quả và khả thi của các nội dung được đề xuất.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được cách sử dụng các câu hỏi phù hợp thì sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả dạy học toán lóp 4 cho tiểu học.
7. Đóng góp của luận văn
-
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc thiết kế câu hỏi để đánh giá trong dạy
học môn Toán 4 ở truờng Tiểu học
-
Đề xuất cách thiết kế câu hỏi để đánh giá thường xuyên vào dạy học môn
Toán lóp 4.
ra đầy đủ các tác dụng, các quy tắc và các bước đặt câu hỏi hiệu quả trong dạy
học. [10]
Ý tưởng của Ivan Hannel đã được sử dụng khá rộng rãi, hiệu quả ở nhiều
nước. Ý tưởng này cũng đã bắt đầu được nghiên cứu tới ở Việt Nam trong thời
gian gần đây. Tuy nhiên, chưa có những ứng dụng cụ thể, rõ nét ý tưởng này
trong quá trình dạy học.
1.1.2.
Tình hình nghiên cứu trong nước
Những năm 80, 90 của thế kỷ trước, việc kiểm tra đánh giá học sinh,
chưa được chú trọng hoặc chưa hiểu hết ý nghĩa và tác động của đánh giá tới
việc phát triển trí lực và đạo đức của học sinh. Hoạt động Đánh giá học sinh có
mục đích chủ yếu là nhằm phân loại học tập của học sinh, là đối chiếu với các
tiêu chí, chuẩn mực về hạnh kiểm để áp đặt, xếp loại, cho học sinh. Đe xác định
học lực của học sinh, giáo viên phải tính điểm trung bình cộng tất cả các bài
kiểm tra viết và của tất cả các môn mà học sinh đã được học, sau đó mỗi học
sinh được phân loại vào một trong 5 bậc, là Giỏi - Khá - Trung bình - Yếu và
Kém.[l],[19]
Như vậy, học sinh trong mỗi lóp được sắp xếp theo thứ tự, từ học sinh có
điểm trung bình cộng học lực cao nhất tới học sinh “đội sổ” có điểm trung bình
cộng thấp nhất về học lực.
Đối với Đánh giá hạnh kiểm, cũng trên cơ sở bảng các tiêu chí về hạnh
kiểm, vào cuối kỳ và cuối năm học, giáo viên cũng đối chiếu, so sánh, sắp xếp
hạnh kiểm của mỗi học sinh vào một trong 5 loại Tốt - Khá - Trung bình -Yếu
và Kém.
Cuối năm học, những học sinh xếp loại Hạnh kiểm loại Kém hoặc xếp
loại Học lực và Hạnh kiểm cùng loại Yếu sẽ ở lại lóp.
lực từng môn và tất cả các môn cũng như thi tốt nghiệp tiểu học.
ở giai đoạn thứ hai, từ ngày 30/9/2005, mục đích của đánh giá được chỉ
ra rõ ràng và cụ thể. Đánh giá là để đổi mới cách dạy và cách học, để khuyến
khích học sinh học tập liên tục, tích cực, sáng tạo, tự học. Kết họp đánh giá
bằng định lượng và bằng định tính. Khuyến khích động viên học sinh, không
tạo áp lực cho giáo viên học sinh và cha mẹ các em. Giai đoạn này đã có bước
phát triển đi lên về quan điểm đánh giá và đã tiếp cận phương pháp đánh giá
đổi mới. Chú trọng đánh giá thường xuyên bằng hình thức nhận xét để giúp đỡ,
khuyến khích động viên học sinh học tập tiến bộ không ngừng. Không đánh giá
bình quân chung về học lực các môn học. Tiếp tục duy trì đánh giá 9 hoặc 11
môn học ở tiểu học, vẫn coi trọng đánh giá bằng kiểm tra viết cho điểm số
thang 10, tuy nhiên quá trình tính toán xếp loại học lực có đơn giản hơn so với
giai đoạn trước. Duy trì khen thưởng học sinh theo các tiêu chí cụ thể và chặt
chẽ.
Đánh giá quá trình học tập, năng lực và phẩm chất học sinh. Bắt đầu từ
tháng 8/2014, việc đổi mới đánh giá học sinh là triệt để nhất và cũng phù họp
nhất với quan điểm đánh giá hiện đại. Đánh giá theo quá trình học tập của học
sinh, đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh.
Đánh giá thường xuyên kịp thời nhằm điều chỉnh cách dạy và cách học.
Coi trọng đánh giá thường xuyên bằng nhận xét và coi nó là hình thức đánh giá
chủ yếu. Đánh giá thường xuyên các môn học và hoạt động giáo dục.
Kết họp sự đánh giá của học sinh và cha mẹ các em, trong đó đánh giá
của giáo viên là quan trọng nhất. Đánh giá dựa trên từ nhiều nguồn chứng cứ
khác nhau, không đon thuần chỉ qua bài kiểm tra viết. Không còn khái niệm
cũng như phân chia riêng biệt đánh giá học lực và đánh giá hạnh kiểm của học
sinh. Đánh giá tổng họp chung về hình thành và phát triển nhân cách toàn diện
của học sinh.
Có 3 nội dung đánh giá: Đánh giá quá trình học tập - Đánh giá biểu hiện
1.2.
Câu hỏi và câu hỏi dạy học
1.2.1.
Câu hỏi
Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, Trung tâm Từ điển ngôn
ngữ, Hà Nội -1992, trang 455), “Hỏi” tức là: Nói ra điều người muốn người ta
cho biết với yêu cầu được trả lời. Nói ra điều mình đòi hỏi hoặc mong muốn ở
người ta với yêu cầu được đáp ứng.
Đại từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa: “câu hỏi là câu biểu thị sự cần biết
hoặc không rõ với những đặc trưng của ngữ điệu và từ hỏi”.
Trên thế giới chắc không ai quên được Socrate ngày xưa là người thuyết
phục giỏi nhất thế giới. Ông đã bán rất chạy những ý kiến của ông đến nỗi ngày
nay người ta còn học hỏi ông. Bí quyết lớn nhất của ông là “đặt câu hỏi”.
Voltaire cũng đã nói: “Hãy xét người qua câu hỏi của họ chứ không xét
người qua lời đáp”.
Rudyard Kipling, nhà hùng biện nổi tiếng trên thế giới đã phát biểu:
“Tôi có sáu người bạn trung thành. Họ đã dạy cho tôi tất cả những gì mà tôi đã
biết. Tên của họ là “Cái gì?”, “Tại sao?”, “Khi nào?”, “Như thế nào?”, “ở
đâu?”, “Ai?”.
Theo quan niệm đó thì câu hỏi có tầm quan trọng lớn trong cuộc sống
nói chung và trong dạy học nói riêng. Sử dụng câu hỏi trong dạy học chỉ là một
phần trong quá trình dạy học, tuy nhiên nó có vị trí cực kì quan trọng. Nó giúp
học sinh hiểu bài và hình thành kĩ năng tư duy ở mức độ cao, từ đó sẽ nâng cao
chất lượng dạy học.
Theo Ancher, được gọi là người giáo viên bậc thầy trong việc đặt câu
hỏi đã truyền lại rằng “Đặt câu hỏi là một trong những cách dạy học cơ bản mà
qua đó người thầy có thể kích thích việc học và suy nghĩ của học sinh” [26].
Theo Frander qua cuộc điều tra của ông vào năm 1970, việc đặt câu hỏi
trong dạy học là một trong 10 tiêu chí cho những người thầy cần phải nghiên
cứu.
Tất nhiên câu hỏi được sử dụng dưới cả hình thức nói và viết nhưng
trong phạm vi của đề tài tôi chỉ đề cập đến câu hỏi dưới dạng nói của giáo viên
trong quá trình dạy học.
1.2.4.
Phăn loại câu hỏi
Tùy theo từng lĩnh vực tri thức đời sống, xã hội khoa học mà có những
cách phân loại câu hỏi khác nhau. Sau đây là một số kiểu phân loại câu hỏi:
I.2.4.I.
Phăn loại câu hỏi theo mức độ nhận thức
Theo cách này có thể phân loại câu hỏi theo 6 cấp độ tư duy sau:
-
Câu hỏi nhận biết: Ai, cái gì, ở đâu, bao giờ, khi nào,...?
-
Câu hỏi hiểu: Mô tả, so sánh, giải thích, phát biểu ý chính, dấu hiệu cơ
bản của đối tượng,...?
-
B. sai
Câu trả lời đúng: A
•
Câu hỏi mở
Câu hỏi mở kích thích học sinh đào sâu suy nghĩ và đưa ra nhiều quan
điểm. Không chỉ có một câu trả lời đúng. Đưa ra các câu hỏi mở cho nhóm học
sinh sẽ thu được vô số các ý tưởng và câu trả lời khác nhau.
Câu hỏi mở dùng để cung cấp thông tin, thảo luận thêm hoặc đặt thêm
câu hỏi, thúc ép đối thoại.
Các câu hỏi mở:
-
Câu hỏi mang tính sự kiện, sự thực.
-
Câu hỏi mở rộng.
-
Câu hỏi bào chữa, biện hộ.
- Câu hỏi giả định.
Ví dụ: Dưới đây ghi lại thời gian bốn người đến dự cuộc họp. Giờ họp
đúng vào lúc 7 giờ 30 phút. Khoanh vào chữ cái đặt trước thời gian người đến
họp chậm nhất:
A. 7 giờ 35 phút
-
Câu hỏi tạo sự giao tiếp, trao đổi giữa trò và thầy, giữa thầy và trò.
-
Câu hỏi cho hoạt động nhóm.
-
Câu hỏi yêu cầu tự nghiên cứu trong lớp.
-
Câu hỏi nhằm giáo dục ý thức, thái độ học sinh tùy theo từng loại kiến
thức và yêu cầu về kỹ năng của bài học.
1.2.4.4.
Phân loại câu hởi theo mức độ phát triến của
tư duy Cách phân loại này chia làm 3 mức độ:
- Câu hỏi mức độ bình thường học sinh có thể trả lời nhằm ghi nhớ kiến
thức.
- Câu hỏi tạo tình huống, chứa đựng một trở ngại về nhận thức yêu cầu
học sinh phải tư duy mới trả lời được.
- Câu hỏi mở.
1.2.4.5.
- Loại câu hỏi lựa chọn đúng (Đ), sai (S).
- Loại câu hỏi chọn đúng hoặc sai trong số những câu trả lòi cho sẵn.
Câu hỏi trắc nghiệm khách quan thường dùng kiểm tra kiến thức học sinh
một cách tổng họp, dàn trải, kiểm tra được khả năng tư duy của học sinh và
thường dùng trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh sau một quá
trình học tập. Khi sử dụng loại câu hỏi này cần cân nhắc độ khó, độ phân giải
của câu hỏi.
1.2.5.
Bản chất, chức năng câu hỏi trong dạy học
Câu hỏi trong dạy học khác với câu hỏi trong đời sống vì nó có chức năng
cơ bản là tổ chức, điều khiển quá trình lĩnh hội tri thức cho học sinh, ngoài ra
còn có chức năng kích thích khả năng tư duy của học sinh, dẫn dắt học sinh vào
tình huống có vấn đề, giao nhiệm vụ cho học sinh và đòi hỏi học sinh dùng các
thao tác tư duy như: phân tích, tổng họp, so sánh, khái quát, trừu tượng, khái
quát hóa, cụ thể hóa,... để tìm hiểu, giải quyết vấn đề. Câu hỏi cũng có ý nghĩa
tập cho học sinh suy luận, giải thích, chứng minh, trình bày,...Giáo viên thực
hiện ý đồ truyền thụ tri thức của mình thông qua hệ thống câu hỏi dẫn dắt học
sinh tìm hiểu vấn đề theo định hướng của mình nhằm đạt được kiến thức, kỹ
năng. [23]
1.2.6.
Ỷ nghĩa của câu hỏi
Trong dạy học toán theo định hướng đổi mới PPDH, nếu xây dựng được
hệ thống câu hỏi tốt, phù hợp với nội dung kiến thức, phù hợp đối tượng học
sinh, đảm bảo tính khoa học, đồng thời sử dụng hệ thống câu hỏi đó thì sẽ có
tiểu học.[l]
7.3.7.7. Mục đích đánh giá
a. Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt
động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc
mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thòi phát hiện những cố gắng, tiến
bộ của học sinh để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn
chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận
định đúng những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh để
có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học
tập, rèn luyện của học sinh; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu
học.
b. Giúp học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học, tự
điều chỉnh cách học; giao tiếp, họp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện
để tiến bộ.
c. Giúp cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ (sau đây gọi chung là cha mẹ
học sinh) tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá
trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của con em mình; tích
cực họp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục học sinh.
d. Giúp cán bộ quản lí giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo
dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt
hiệu quả giáo dục.[l]
7.3.7.2.
Nguyên tắc đánh giá
a. Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến
khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của học sinh;
giúp học sinh phát huy tất cả khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng,
Đánh giá thường xuyên
a. Đánh giá thường xuyên là đánh giá trong quá trình học tập, rèn luyện,
của học sinh, được thực hiện theo tiến trình nội dung của các môn học
và các hoạt động giáo dục khác, trong đó bao gồm cả quá trình vận dụng
kiến thức, kĩ năng ở nhà trường, gia đình và cộng đồng.
b. Trong đánh giá thường xuyên, giáo viên ghi những nhận xét đáng chú ý
nhất vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục, những kết quả học sinh đã đạt
được hoặc chưa đạt được; biện pháp cụ thể giúp học sinh vượt qua khó
khăn để hoàn thành nhiệm vụ; các biểu hiện cụ thể về sự hình thành và
phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh; những điều cần đặc biệt lưu
ý để giúp cho quá trình theo dõi, giáo dục đối với cá nhân, nhóm học
sinh trong học tập, rèn luyện. [1]
1.3.2.1.
Đánh giá thường xuyên hoạt động học tập, sự tiến bộ và kết
quả học tập theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học, hoạt động
giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học
a. Tham gia đánh giá thường xuyên gồm: giáo viên, học sinh (tự đánh giá
và nhận xét, góp ý bạn qua hoạt động của nhóm, lớp); khuyến khích sự
tham gia đánh giá của cha mẹ học sinh.
b. Giáo viên đánh giá:
Trong quá trình dạy học, căn cứ vào đặc điểm và mục tiêu của bài học,
của mỗi hoạt động mà học sinh phải thực hiện trong bài học, giáo viên tiến
hành một số việc như sau:
- Quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra quá trình và từng kết quả thực hiện
nhiệm vụ của học sinh, nhóm học sinh theo tiến trình dạy học;