XÂY DỰNG HƯƠNG ƯỚC, QUY ƯỚC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VỚI SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TẠI THỊ TRẤN THỨA, HUYỆN LUƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH - Pdf 36

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG

Vũ Thị Hằng

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

XÂY DỰNG HƯƠNG ƯỚC, QUY ƯỚC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG VỚI SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TẠI
THỊ TRẤN THỨA, HUYỆN LUƠNG TÀI,
TỈNH BẮC NINH

HÀ NỘI, 2016

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG

VŨ THỊ HẰNG

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
XÂY DỰNG HƯƠNG ƯỚC, QUY ƯỚC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG VỚI SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TẠI
THỊ TRẤN THỨA, HUYỆN LUƠNG TÀI,
TỈNH BẮC NINH
Ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã ngành: D850101

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH

đây. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho
quá trình nghiên cứu đồ án tốt nghiệp mà còn là hành trang quý báu giúp ích cho công
việc của em sau này để em thành công hơn trong cuộc sống
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô
TS. Nguyễn Thị Hồng Hạnh người đã tận tâm hướng dẫn em trong suốt quá trình viết
và hoàn thành đồ án tốt nghiệp.
Mặc dù đã cố gắng nhiều để hoàn thành đồ án một cách hoàn chỉnh song do
mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học cũng như hạn chế về kiến thức, ít tiếp
cận với thực tế và kinh nghiệm nên vẫn còn những thiếu sót mà bản thân chưa thấy
được. Nên em rất mong được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn để đồ án được hoàn
chỉnh hơn
Sau cùng, em xin kính chúc quý thầy cô trong Khoa Môi trường nói riêng và
toàn thể các thầy cô giáo trong Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội thật
dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền
đạt kiến thức cho thế hệ mai sau.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Bắc Ninh, ngày 27 tháng 05 năm 2016

Sinh viên
Vũ Thị Hằng

4


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
CT: Chỉ thị
TT: Thông tư
CP: Chính phủ
NQ: Nghị quyết
NĐ: Nghị định

xã dần dần khởi sắc. Tuy nhiên, cùng với đó nhiều vấn đề ô nhiễm môi trường phát
sinh ngày càng phức tạp. Tình trạng ô nhiễm môi trường chủ yếu do sản xuất nông
nghiệp, từ các KCN và một lượng không nhỏ chất thải rắn sinh hoạt người dân thải ra
đã khiến cho môi trường sống tại Thị Trấn Thứa đang xuống cấp.
Bảo vệ môi trường sống là trách nhiệm của cộng đồng, của mỗi người dân,
không phải là điều mới mẻ, thế nhưng chưa mấy ai làm được, nhất là đối với cư dân
các vùng nông thôn. Thực trạng này cũng diễn ra tại một số xã trên địa bàn huyện
Lương Tài. Do điều kiện sống, tập quán, và ý thức bảo vệ môi trường còn hạn chế nên
lâu nay, người dân vẫn xả rác, nước thải gây ô nhiễm môi trường những năm qua,
chính quyền địa phương luôn vận động, tuyên truyền nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh
môi trường sống trong nhân dân, đặc biệt là việc thu gom, đổ rác thải sinh hoạt đúng
nơi qui định, xây bể chứa nước thải sinh hoạt trong từng hộ gia đình để không xả thẳng
nước thải ra môi trường…Tuy nhiên, chuyển biến trong hành động của người dân còn
rất chậm.
Hương ước bảo vệ môi trường (BVMT) được xây dựng trên cơ sở tham gia và
đồng thuận của tất cả các thành viên trong cộng đồng dân cư tại địa phương; nhằm
tuyên truyền, vận động, giáo dục nhân dân xoá bỏ các hủ tục, thói quen mất vệ sinh, có
hại cho môi trường. Đồng thời, hương ước BVMT có tác dụng nâng cao trách nhiệm,
tính tự lực của từng người dân đối với nhiệm vụ BVMT tại địa phương, làm cho quê
hương làng xóm ngày càng xanh - sạch - đẹp, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
cho cả cộng đồng. Bên cạnh đó, góp phần thực hiện tốt và đạt 17 tiêu chí về môi
trường trong Bộ chỉ tiêu quốc gia về nông thôn mới.
Việc xây dựng hương ước, quy ước bảo vệ môi trường ở thôn, xã cần có sự
tham gia của cộng đồng trong việc phân tích hiện trạng môi trường tại địa phương, xác
định những hành động và quy định nhằm cải thiện và bảo vệ môi trường. Đặc điểm
9


quan trọng của mô hình này là tập trung vào sự tham gia của cộng đồng và lồng ghép
các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng trong tất cả các giai đoạn

Phía Đông giáp xã Trung Chính, xã Phú Hoà
Phía Tây giáp xã Bình Định

Hình 1.1. Bản đồ hành chính huyện Lương Tài
11


Thị trấn Thứa gồm 8 thôn: Bùi, Giàng, Đông Hương, Phượng Giáo, Phượng
Trì, Tân Dân, Đạo Sử, Kim Đào.
-

Địa hình, địa mạo
Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên nhìn chung địa hình tương đối bằng
phẳng. Có hướng dốc chủ yếu từ Đông Bắc xuống Tây Nam về chênh lệch địa hình
trong khoảng 2,3 - 4,2m so với mực nước biển, do vậy gặp khó khăn trong sản xuất
vào mùa mưa.
- Khí hậu
Thị trấn Thứa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, vùng khí hậu
nóng ẩm mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Mùa hè nóng ẩm
mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình 28,5 oc, độ ẩm trung bình
87,5 %, tổng lượng mưa 1750 mm. Mùa đông ít mưa từ tháng 11 đến tháng 3 năm
sau, nhiệt độ trung bình 18,5 oC, tổng lượng mưa 255 mm.
Với điều kiện khí hậu như trên nhìn chung tạo điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển trồng trọt và chăn nuôi. Tuy nhiên có những giai đoạn khí hậu thay đổi
thất thường, mùa hè nhiệt độ lên cao tới 34 oC - 36 oC. Ngược lại mùa đông có ngày
nhiệt độ hạ thấp xuống dưới 10 oC. Có những năm hết hạn hán kéo dài lại đến bão
lụt xảy ra đã ảnh hưởng xấu đến trồng trọt và chăn nuôi.
Nhìn chung Thị trấn Thứa có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp đa dạng và phong phú. Mùa đông lạnh khô làm cho vụ đông trở thành vụ chính
có thể trồng nhiều loại rau màu ngắn ngày có giá trị kinh tế cao. Hạn chế lớn nhất đối

đất chính sau:
* Đất phù sa không được bồi, không có tầng glây của hệ thống sông Thái Bình.
Hình thái phẫu diện phân hóa khá rõ, tầng đất mặt thường có màu nâu tươi, các
tầng dưới có mầu nâu lẫn các vệt vàng nâu. Thành phần cơ giới thường là thịt trung
bình, nhiều nơi có thành phần cơ giới thịt nặng. Phản ứng của đất chua, pH KCL: 4,5 5,5. Hàm lượng mùn khá ~ 2%, đạm tổng số từ trung bình đến khá (0,10 - 0,15%), lân
tổng số trung bình (0,05%), lân dễ tiêu rất nghèo (0,5 - 2 mg/100g đất), Kali tổng số
rất nghèo (
tiến bộ nhưng một số khu vực dân cư tình trạng đổ rác thải, chất thải diễn ra tự phát
gây khó khăn trong công tác thu gom xử lý. [10]
1.1.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Khu vực kinh tế nông nghiệp [6]
Lĩnh vực kinh tế nông nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của
thị trấn, với cơ cấu là nông nghiệp - thủy sản là ngành sản xuất chủ yếu. Trước đây
nền nông nghiệp chủ yếu của thị trấn là sản xuất lúa. Đến nay sản phẩm nông nghiệp
của thị trấn đa dạng hơn, với các loại rau, màu, thuỷ sản,... trong đó một số đã trở
thành nông sản hàng hoá có giá trị xuất khẩu.
Ngành trồng trọt
Trồng cây lương thực và cây chủ lực, trong đó chủ yếu là lúa. Diện tích gieo
trồng qua các năm đều đạt 100% chỉ tiêu kế hoạch huyện giao, hệ số sử dụng đất 2,4
lần. Năng suất lúa bình quân cả năm tăng khá: Từ 55,5 tạ/ha năm 2005 lên 62,5 tạ/1ha
năm 2015. Trong đó vụ chiêm xuân năng suất tăng cao từ 60 tạ lên 67,2 tạ/ha. Vụ mùa
năng suất tăng từ 52 tạ/ha lên 57,5 tạ/ha. Sản lượng lương thực có hạt tăng từ 4.835 tấn
năm 2005 lên 4.731 tấn năm 2015, là thời kỳ sản lượng lúa tương đối ổn định. Năng
suất các loại cây trồng đã được tăng lên do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nông
nghiệp. Bình quân lương thực đạt trên 530 kg/người (năm 2015), đảm bảo đủ lương
thực cho người, chăn nuôi có dự trữ.

15


Bảng 1. 1. Năng suất sản lượng lúa của thị trấn qua các năm
Cây trồng
1. Lúa cả năm
+ Diện tích
+ Năng suất
+ Sảnlượng
2. Lúa xuân


784
60,7
4.761

757
62,5
4.731

Ha
Tấn/Ha
Tấn

385
58,8
2.265

383
60,2
2.310

394
58,7
2.311

394
67,3
2.650

388

1. Lợn
2. Đàn Trâu
3. Đàn Bò
4. Thuỷ sản (cá)

ĐVT
Con
Con
Con
Ha

Năm

Năm

2005

2008

Năm 2010

Năm 2012

Năm
2015

185
13
10
11

Tuy nhiên, các giá trị của ngành công nghiệp và xây dựng vẫn còn rất nhỏ bé và
không ổn định, cơ cấu thành phần kinh tế trong công nghiệp chưa ổn định, có biến
động lớn.
Khu vực kinh tế dịch vụ
Các ngành kinh tế dịch vụ của thị trấn phát triển nhanh trong những năm gần
đây, tận dụng được lợi thế của khu kinh tế đô thị. Thị trường buôn bán được mở rộng,
hàng hoá ngày càng phong phú, hình thành chợ đầu mối tại trung tâm thị trấn Thứa,
tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng dịch vụ thương mại thông thương hàng hoá,
tiêu thụ sản phẩm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Một số hộ làm dịch vụ
cung ứng vật tư nông nghiệp và thu gom sản phẩm khi đến vụ, các dịch vụ này thực
hiện không những trên địa bàn thị trấn mà còn cả ở các xã khác trong huyện.
Bảng 1. 3. Thống kê các doanh nghiệp đóng trên địa bàn thị trấn
Tên doanh nghiệp
C.ty CP Tư Vấn Và Đầu Tư Xây
Dựng Thăng Long
C.ty Xây Dựng Tân Châu
C.ty Phát Triệu

Ngành nghề SXKD
chính
Xây Dựng Công Trình
Xây Dựng Công Trình
Dân Dụng
Xây Dựng Công Trình

Lao động bình quân
(người)
Tổng số Tr.đó: Nữ
42


22

8

78

43

C.ty Minh Tâm
C.ty Hùng Cường
C.ty Huyền Nhung

Lương Tài
17

Mại Tạp Hoá


Tên doanh nghiệp

Lao động bình quân

Ngành nghề SXKD

(người)
Tổng số Tr.đó: Nữ

chính

C.ty Công Nghệ Thanh Thanh Kinh Doanh Vật Liệu

2010

2011

2012

2013

Người

8.511

8.723

8.765

8.808

8.851

2014
8.91

2015
8.95

6

5


2.79

1.230

1.221

1.233

1.239

1.248

2
1.22

8
1.25

4.441

4.439

4.497

4.526

4.601

1
5.05

với tổng diện tích là 714,57 ha, dân số 8.955 người. Trong những năm gần đây cùng
với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, cơ sở hạ tầng, các công trình văn hóa, y tế,
giáo dục, phúc lợi được đầu tư. Chất lượng sống ở thị trấn ngày càng được nâng cao.
Đồng thời các hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn ngày
càng phát triển góp phần quan trọng và việc thúc đẩy kinh tế thương mại – dịch vụ của
huyện.
Tuy nhiên thị trấn vẫn chưa đạt chỉ tiêu đô thị loại IV. Quy mô đô thị còn nhỏ,
dân số chưa đông, khu vực trung tâm của thị trấn chủ yếu hình thành dọc theo các
tuyến tỉnh lộ. Dân cư không tập trung, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, chưa theo quy
hoạch và không có thiết kế kiến trúc đồng bộ.
Ngoài ra các vấn đề xử lý rác thải đô thị, cấp thoát nước sinh hoạt cũng khá
bức xúc cần được đầu tư xây dựng.
Bên cạnh đó, dân cư đô thị của thị trấn ngoài khu vực dân cư mới, phần lớn dân
cư vẫn chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông nghiệp với tập quán sinh hoạt mang nét
đặc trưng của dân cư nông thôn. Trong tương lai việc phát triển các khu đô thị, thương
mại dịch vụ, công trình công cộng vẫn tập trung chính ở khu vực này. Việc bố trí đất
đai ở đô thị cần phải được xem xét thật hợp lý nhằm tạo điều kiện phát triển cho đô thị
mà vẫn đảm bảo tiết kiệm đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái cảnh quan thiên nhiên.
1.1.5. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
Giao thông
* Giao thông đối ngoại: trên địa bàn có hai tuyến giao thông đối ngoại chính:
- Đường TL 280 đi Cẩm Giàng (7.5 km) là đường giao thông chính của Thị trấn
có chiều dài 1.5 km.
- Đường TL 281 đi Kênh Vàng đoạn qua Thị trấn dài 3 km.
- Đường tỉnh lộ 284 đoạn qua Thị trấn dài 0.5 km
* Giao thông đối nội:
- Các con đường liên xã liên thôn, đường ngõ xóm. Phần lớn đã được dải bê
tông và cấp khối.

19

khu vực.
UBND Thị trấn thực hiện triệt để biện pháp bảo đảm giữ gìn vệ sinh phòng
chống dịch bệnh, thực hiện tốt và có hiệu quả các chương trình y tế cơ sở.
20


Văn hóa – thể thao
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác văn hoá còn hạn chế nhưng vẫn
đảm bảo phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương và đáp ứng nhu cầu đời sống
tinh thần ngày càng cao của nhân dân. Văn nghệ quần chúng ngày càng đa dạng và
phong phú. Đặc biệt hoạt động văn nghệ quần chúng cấp huyện được duy trì và phát
triển. Thiết chế văn hoá cơ sở được tăng cường.
Phong trào thể dục thể thao quần chúng được duy trì và có bước phát triển mới
cả về chất và lượng. Số lượng người thường xuyên tập TDTT ngày càng tăng, đặc biệt
là hoạt động thể thao quần chúng (môn cầu lông) phát triển mạnh mẽ. Các cuộc thi đấu
gắn liền với các lễ hội truyền thống (môn vật truyền thống) tạo nên không khí sôi nổi
thi đua tập luyện, giao lưu đoàn kết.
Tuy nhiên cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ sự nghiệp văn hoá thể thao còn hạn
chế, đặc biệt là sân chơi thể thao ở các thôn cơ bản là chưa có hoặc có thì cũng xuống
cấp. Tương lai cần chú trọng nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật mở rộng quỹ đất đai đáp
ứng nhu cầu cho các hoạt động vui chơi giải trí của nhân dân ngày một cao.
Năng lượng
Nguồn năng lượng sử dụng hiện nay của thị trấn chủ yếu là điện năng. Hiện nay
100% số hộ trên địa bàn thị trấn có điện lưới quốc gia. Tuy nhiên chất lượng điện vẫn
còn thấp, cùng với sự gia tăng nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất và sinh hoạt trong
giai đoạn tới thì mạng lưới điện trên địa bàn huyện cần được đầu tư xây dựng mới
cũng như nâng cấp, cải tạo các tuyến cũ.
1.2 Tổng quan các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu
1.2.1 Cơ sở pháp lý xây dựng hương ước, quy ước BVMT với sự tham gia của cộng
đồng

đắn về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, chưa biến nhận thức, trách
nhiệm thành hành động cụ thể của từng cấp, từng ngành và từng người cho việc bảo vệ
môi trường; chưa bảo đảm sự hài hoà giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường,
thường chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinh tế mà ít quan tâm việc bảo vệ môi trường;
nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường của nhà nước, của các doanh nghiệp và cộng
đồng dân cư rất hạn chế; công tác quản lý nhà nước về môi trường còn nhiều yếu kém,
phân công, phân cấp trách nhiệm chưa rõ ràng; việc thi hành pháp luật chưa nghiêm.
2) Chỉ thị số 29/ CT-TW Chỉ thị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghị quyết 41/
NQ-TW của Bộ chính trị
- Tổ chức kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ
Chính trị; xác định rõ những ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân, nhất là nguyên
22


nhân chủ quan, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân; đề ra các giải pháp cụ thể để thực
hiện tốt các nhiệm vụ trong Nghị quyết 41 và Chỉ thị này; đưa nội dung kiểm điểm
công tác bảo vệ môi trường vào báo cáo tổng kết, đánh giá định kỳ của cơ quan, đơn
vị.
- Tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự chuyển biến
mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc, đoàn thể, cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân về trách nhiệm, ý thức bảo vệ
môi trường. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng trong tuyên truyền về
bảo vệ môi trường; đa dạng hóa nội dung, hình thức tuyên truyền, làm cho nhân dân
hiểu rõ hậu quả trước mắt cũng như lâu dài của ô nhiễm môi trường và biến đổi khí
hậu đối với sức khỏe con người, đời sống xã hội và sự phát triển bền vững của đất
nước; những bài học và kinh nghiệm về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí
hậu của các nước trong khu vực và trên thế giới; công bố công khai những tổ chức,
doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và hình thức xử lý. Đưa nội dung
giáo dục môi trường vào chương trình, sách giáo khoa của hệ thống giáo dục quốc dân.
Coi trọng việc phát động phong trào bảo vệ môi trường trong các tầng lớp nhân dân.

chung do cộng đồng dân cư cùng thoả thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội
mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán
tốt đẹp và truyền thống văn hoá trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, góp phần
hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân
trí, phát huy phong tục, tập quán tốt đẹp, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống của
cộng đồng dân cư, nội dung của hương ước tập trung vào một số vấn đề cụ thể sau
đây:
- Đề ra các biện pháp, phương thức thích hợp giúp dân cư trên địa bàn tham gia
quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo đảm và phát huy quyền tự do, dân chủ của nhân
dân; động viên và tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ công
dân;
- Bảo đảm giữ gìn và phát huy thuần phong, mỹ tục, thực hiện nếp sống văn
minh trong ứng xử, giao tiếp, ăn, ở, đi lại, xoá bỏ hủ tục, phát triển các hoạt động văn
hoá lành mạnh, xây dựng và phát huy tình làng nghĩa xóm, đoàn kết, tương thân,
tương ái, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư; thực hiện tốt các chính sách
xã hội của Đảng và Nhà nước;

24


- Đề ra biện pháp góp phần bảo vệ tài sản nhà nước tài sản công cộng và tài sản
công dân, bảo vệ môi trường sống,bảovệ rừng, biển,sông, hồ, danh lam thắngcảnh, đền
chùa,miếu mạo, các nguồn nước, đê điều, đập nước, kênh mương, kè cống, đường dây
tải điện; xây dựng và phát triển đường làng, ngõ xóm, trồng cây xanh;
- Đề ra các biện pháp bảo vệ thuần phong mỹtục, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã
hội và mê tín dị đoan trong việc cưới hỏi, việc tang; lễ hội, thờ phụng ở địa phương;
khuyến khích những lễ nghi lành mạnh, tiết kiệm, hạn chế ăn uống lãng phí, tốn kém;
- Góp phần xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, xây dựng làng, bản,
thôn, ấp, cụm dân cư văn hoá, hình thành các quy tắc đạo đức mới trong gia đình và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status