Nghiên cứu ảnh hưởng của MgSO4 đến sinh trưởng năng suất và chất lượng của hai giống chè shan chất tiền và LDP1 tại phú thọ - Pdf 36

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp
đỡ cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông tin, tài liệu trình bày
trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả

Hà Thị Thanh Đoàn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan
tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa
sau đại học, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi Phía Bắc,
Phòng thí nghiệm trung tâm, các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, cơ
quan và gia đình.
Trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới t hầy giáo
PGS.TS. Nguyễn Hữu Hồng - Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên - người hướng dẫn khoa học thứ nhất và thầy giáo TS. Đỗ

Văn Ngọc - Phó Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp
miền núi Phía Bắc- người hướng dẫn khoa học thứ hai đã tận tình giúp đỡ tôi
trong quá trình hoàn thành luận văn này.

Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy, cô giáo trong
khoa Sau đại học, các thầy cô giáo giảng dạy chuyên ngành, Trung tâm


1

1.1

Tính cấp thiết của đề tài………………………………………………………...

3

1.2

Mục đích của đề tài

4

1.3

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4

1.3.1

Ý nghĩa khoa học

4

1.3.2

Ý nghĩa thực tiễn

8

2.2.1

Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới

8

5

2.2.1.1 Tình hình sản xuất

8

2.2.1.2 Tình hình tiêu thụ

11

2.2.2

Tình hình sản xuất và phương hướng phát triển của ngành chè Việt Nam

16

2.2.2.1 Tình hình sản xuất tiêu thụ chè

16

2.2.2.2 Phương hướng phát triển ngành chè



2.3.1.4 Dinh dưỡng kali đối với chè

26

2.3.1.5 Dinh dưỡng khác

27

2.3.2

Tình hình nghiên cứu về phân bón cho chè trên thế giới

29

2.3.3

Tình hình nghiên cứu về phân bón cho chè ở Việt Nam

34

2.3.4

Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

38

PHẦN 3: NỘI DUNG , VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1


Đặc điểm khu thí nghiệm

43

3.3.3.1 Lịch sử khu thí nghiệm

43

3.3.3.2 Hiện trạng đất đai trước khi tiến hành thí nghiệm

43

3.4

Phương pháp nghiên cứu

43

3.4.1

Phương pháp điều tra, thu thập số liệu

43

3.4.2

Phương pháp bố trí thí nghiệm

44


3.4.5.4 Các yếu tố cấu thành năng suất

47

3.4.5.5 Chất lượng chè nguyên liệu

47

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




4.1

Điều kiện tự nhiên

49

4.1.1

Địa hình và đất đai

49

4.1.2

Khí hậu thủy văn

60

4.3.2

Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 đến các yếu tố cấu thành năng suất chè

62

4.3.2.1 Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 đến mật độ búp chè

63

4.3.2.2 Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 đến khối lượng búp chè

66

4.3.2.3 Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 đến chiều dài búp chè

68

4.3.2.4 Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 đến tỷ lệ búp có tôm của chè

70

4.3.2.5 Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 đến thành phần cơ giới búp chè

73

4.4



Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 đến thành phần cơ giới đất

87

4.8

Sơ bộ hoạch toán kinh tế biện pháp bón MgSO4 cho chè

89

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1

Kết luận

91

5.2

Đề nghị

94

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt

95

Tiếng Anh

TT

Trung tâm

USD

Đô la Mỹ

WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng

Nội dung

Trang

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1

Diện tích, năng suất, sản lượng chè trên thế giới qua các thời kỳ

9





2.7

Hàm lượng một số nguyên tố khoáng trong chè ở một số nơi

29

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1

Một số chỉ tiêu hóa tính đất trước khi bố trí thí nghiệm

49

4.2

Diễn biến thời tiết khí hậu tại thị xã Phú Thọ năm 2008

51

4.3

Sinh trưởng của nương chè trước khi tiến hành thí nghiệm

53

4.4

Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 đến chiều dài búp 1 tôm 2 lá

69

4.10

Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 đến tỷ lệ búp có tôm

71

4.11

Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 đến thành phần cơ giới búp 74
chè

4.12

Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 đến khả năng tích lũy vật 77
chất khô của các giống chè tham gia thí nghiệm

4.13

Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 đến hàm lượng Mg trong 78
búp chè

4.14

Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 đến hàm lượng tanin và các 80
chất hòa tan trong búp chè


Shan Chất Tiền và LDP1 năm 2008

DANH MỤC CÁC HÌNH
Nội dung

Hình

Trang

4.1

Đồ thị diễn biến thời tiết khí hậu tại thị xã Phú Thọ năm 2008

4.2

Đồ thị ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 đến năng suất 86

53

giống chè Shan Chất Tiền
4.3

Đồ thị ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 đến năng suất 86
giống chè LDP1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






1




biệt của chè thành phẩm. Chất catesin của chè xanh còn có chức năng phòng
ngừa ung thƣ bằng cách củng cố hệ miễn dịch phòng ngừa bệnh huyết áp cao
hay bệnh đái tháo đƣờng, ngăn ngừa cholesterol tăng cao trong máu, chống
lão hóa bằng cách cung cấp cho cơ thể con ngƣời chất chống oxi hóa. Ngoài
ra các nhà khoa học Nhật Bản đã phát hiện và chứng minh tanin chè có thể
hấp thu mạnh các chất độc thâm nhập vào cơ thể con ngƣời, nhƣ chất phóng
xạ Strontium 90. Ngƣời ta cho rằng tanin có tác dụng nhanh đến nỗi
Strontium đã bị hấp thu trƣớc khiến nó không vào kịp tới tủy xƣơng, uống chè
có thể chống đƣợc sự nhiễm phóng xạ, vì vậy nƣớc chè là một loại nƣớc uống
của thời đại nguyên tử [41], [42].
Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng
cao. Sản xuất chè cần nhiều lao động, góp phần thu hút lao động dƣ thừa và
thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, đặc biệt là nông
thôn vùng Trung du và miền núi. Khả năng về phát triển cây chè của nƣớc ta
là rất lớn, không chỉ trong hiện tại mà cả trong tƣơng lai.
Để đạt đƣợc các mục tiêu trên đây, một loạt các vấn đề về kỹ thuật đã
và đang đƣợc quan tâm, đó là vấn đề áp dụng kỹ thuật gieo trồng, kết hợp với
các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến. Trong các biện pháp kỹ thuật thì vấn
đề quản lý dinh dƣỡng cây trồng là một khâu quan trọng trong việc xây dựng
hệ thống nông nghiệp bền vững. Việc sử dụng phân bón là một trong những
biện pháp làm tăng sản lƣợng và chất lƣợng búp chè. Tác dụng của phân bón
không những tăng cao đƣợc sản lƣợng nguyên liệu chè mà còn nâng cao đƣợc
chất lƣợng của nó. Nếu bón phân không cân đối nhƣ bón đơn độc nitơ mà
thiếu kali và phospho sẽ gây ảnh hƣởng xấu đến chất lƣợng chè. Ngoài các

lƣợng bón MgSO4 khác nhau đến năng suất, chất lƣợng hai giống chè Shan
Chất Tiền giai đoạn chè kiến thiết cơ bản và LDP1 giai đoạn chè kinh doanh.
- Bƣớc đầu xác định liều lƣợng bón MgSO4 thích hợp nhất cho giống
chè Shan Chất Tiền thời kỳ kiến thiết cơ bản và giống chè LDP1 giai đoạn chè
kinh doanh.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học
nghiên cứu về dinh dƣỡng khoáng cho chè, tác động của dinh dƣỡng tới năng
suất, chất lƣợng búp chè.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3




- Làm cơ sở bƣớc đầu xây dựng quy trình bón phân cân đối, bón bổ
sung MgSO4 cho giống chè Shan Chất Tiền và LDP1 trong điều kiện tỉnh
Phú Thọ.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu ảnh hƣởng của MgSO4 đến năng suất, chất lƣợng của hai
giống chè Shan Chất Tiền và LDP1. Từ đó đƣa ra các mức bón hợp lý và
khuyến cáo sử dụng nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng chè cho vùng chè
Phú Thọ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4

trong trƣờng hợp thiếu Mg cũng bị ảnh hƣởng [25].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5




Chè là cây trồng ƣa đất chua, trong đất chua sự thiếu hụt Mg càng lớn.
Để bổ sung sự thiếu hụt Mg vào đất, ngƣời ta thƣờng bón MgO dƣới dạng
đôlômit chứa từ 20 - 35% MgO, hoặc bón phối hợp MgO với các lần bón
phân khoáng trong năm. Trong một số trƣờng hợp có thể kết hợp bón phân đa
lƣợng qua lá để bón bổ sung Mg [32].
Đất trồng chè vùng Phú Hộ thuộc loại đất Mica và Gnai, là vùng đất
luôn thiếu hụt Mg do quá trình Feralit và môi trƣờng chua [38]. Đất ở đây đã
đƣợc sử dụng để trồng chè qua nhiều năm (trên 20 năm). Đất có độ dốc, xảy
ra hiện tƣợng rửa trôi, làm cho hàm lƣợng Mg trong đất càng giảm vì vậy để
nâng cao năng suất, chất lƣợng chè nguyên liệu cần bón bổ sung Mg cho đất
trồng chè. Từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài bón bổ sung Mg cho đất
trồng chè vùng thấp Phú Hộ dƣới dạng MgSO4.
Mỗi một loại cây trồng, một giống khác nhau có yêu cầu về phân bón
khác nhau. Ở Việt Nam, giống chè Shan Chất Tiền là giống có năng suất cao,
chất lƣợng khá. Song do đặc điểm màu sắc lá chè Shan Chất Tiền có màu
vàng khá rõ do đó ảnh hƣởng rất lớn đến chất lƣợng chè thành phẩm (mặt chè
vàng) không đáp ứng đƣợc nhu cầu thị hiếu ngƣời tiêu dùng. Mặt khác cần cải
thiện hơn nữa, hƣơng vị của sản phẩm chè từ nguyên liệu giống chè Shan
Chất Tiền trồng ở vùng thấp [20], [22], [24].
Giống LDP1 là giống có tiềm năng năng suất cao, đƣợc trồng nhiều ở
vùng trung du miền núi phía Bắc. Búp có màu xanh, mật độ búp dày, khối

quên trong lúc tọa thiền nên tức giận tự cắt mí mắt của mình quăng xuống đất
và nơi ấy mọc lên một thứ cây kỳ lạ, hái lá nấu nƣớc uống khiến cho tâm hồn
tỉnh táo, đƣợc gọi là trà. Từ đó trà trở nên thức uống thông dụng của thiền
môn. Gần hơn còn có câu chuyện của một ngƣời tiều phu nghèo khó sống ở
miền núi cao tỉnh Phúc Kiến, bao nhiêu năm vẫn ôm ấp thầm thƣơng trộm
nhớ một cô gái làng bên và hằng mong có tiền để cƣới nàng. Ngày nọ lên núi
hái củi, anh ta phát hiện một cây trà có dáng dấp kỳ lạ, mọc trong một kẽ núi
nên vội bứng đem về nhà trồng. Hai năm sau cây trà lớn, anh vội hái vài lá có
màu xanh đen, đem pha nƣớc uống, mới ngộ ra đây là một loại trà độc đáo,
mới đặt tên là "Thiết Quan Âm" vì loại trà này khi lên men có màu đen nhƣ
sắt thép và nặng hơn những lá trà thƣờng, cho ra thứ nƣớc uống thuần khiết

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7




nhƣ tấm lòng vị tha bác ái của Đức Phật Bà Quan Âm. Trà Thiết Quan Âm ra
đời từ đó [46].
Nhƣng đó chỉ là huyền thoại, thật ra theo Trung Hoa sử hiện nay, thì
ngƣời Trung Quốc chính thức biết uống chè vào thời Tam Quốc, nhƣng mãi
cho tới thời nhà Đƣờng, chè vẫn chƣa đƣợc trồng và chế biến, thứ chè uống
chỉ là loại chè mọc hoang trong rừng núi, thuần khiết vẫn đƣợc coi nhƣ một vị
thuốc Bắc để trị bệnh. Do vậy chè mới lƣu hành trong giới thƣợng lƣu mà
thôi, còn hạng bình dân hầu nhƣ chƣa mấy ai biết tới. Về cách uống cũng
khác biệt, giữa hai bờ Đại Giang và nhất là dân du mục ngoài Trƣờng Thành
thì uống trà pha sữa trâu bò, dê ngựa [56].
Năm 1606 trƣớc Công Nguyên, Chu Vũ Vƣơng đời nhà Tấn đem quân

* Chè có nguồn gốc ở Việt Nam
Những nghiên cứu của Djemukhate (1961-1976) về phức Catechin giữa
các loại chè đƣợc trồng và mọc hoang dại đã đƣa ra luận điểm về sự tiến hóa,
sinh hóa của chè và từ đó ông đã đi đến kết luận: “ nguồn gốc của cây chè
chính là ở Việt Nam” [18], [26].
Các quan điểm nêu trên tuy có khác nhau về địa điểm nhƣng đều có
điểm chung: nguyên sản của cây chè là ở Châu Á, nơi có điều kiện khí hậu
nóng ẩm.
2.2.2. Phân loại
Tên khoa học là Camellia sinensis (L) O. Kuntze.
Trong hệ thống phân loại thực vật cây chè đƣợc sắp xếp nhƣ sau:
Ngành

Hạt kín

Angiospermae

Lớp

Song tử diệp

Dicotyledonae

Bộ

Chè

Theales

Họ


- Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var. Macrophylla).
- Chè Shan (Camellia sinensis var. Shan).
- Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var. Assamica)
2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới và ở việt nam
2.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
2.3.1.1. Tình hình sản xuất
Chè là cây trồng có lịch sử lâu đời (trên 4000 năm). Lúc đầu chè chủ
yếu đƣợc dùng làm dƣợc liệu, sát trùng, rửa các vết thƣơng. Ngày nay chè là
thứ nƣớc uống phổ biến và chủ yếu với những sản phẩm chế biến đa dạng và
phong phú. Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu về giải khát, dinh dƣỡng, thƣởng
thức chè ở nhiều nƣớc đã đƣợc nâng lên tầm văn hóa với cả những nghi thức
trang trọng và thanh cao của trà đạo.
Từ Trung Quốc chè truyền bá ra khắp năm châu: đầu tiên sang Nhật
Bản do các vị hòa thƣợng mang về, sau này phát triển thành trà đạo; sang
vùng Ả Rập, Trung Đông bằng con đƣờng tơ lụa; sang Châu Âu, Anh, Pháp,
Đức do các thủy thủ, tàu buôn Bồ Đào Nha; sang Mông Cổ, Nga bằng các
đoàn lạc đà xuyên sa mạc Nội Mông. Cho đến nay chè đã đƣợc trồng ở 58
nƣớc, trong đó có 30 nƣớc trồng chè chủ yếu, phân bố từ 330vĩ Bắc đến 490 vĩ
Nam, trong đó vùng thích hợp nhất là 160 vĩ Nam đến 200 vĩ Bắc, ở vùng này
cây chè sinh trƣởng quanh năm còn trên 200 vĩ Bắc cây chè có thời gian ngủ
nghỉ và tính chất mùa rõ rệt [29].
Trong vài thập kỷ gần đây, sản lƣợng chè ở các nƣớc tăng cao. Sản
lƣợng đạt trên 200 nghìn tấn gồm 4 nƣớc: Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya,
Srilanka. Sản lƣợng đạt trên 100 nghìn tấn gồm 2 nƣớc: Indonesia và Thổ Nhĩ
Kỳ. Trên 20 nghìn tấn có 9 nƣớc, trong đó có Việt Nam [4].
Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè thế giới qua các thời kỳ đƣợc thể
hiện ở bảng 2.1 [34].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


74,63

2

1964

101,60

10,00

101,60

3

1974

189,71

7,73

146,61

4

1984

240,32

9,13

- Năng suất chè thế giới tăng nhanh qua các năm, từ 8,97 tạ khô/ha
(năm 1954) đến 12,99 tạ khô/ha (năm 2004).
Sản lƣợng chè tăng nhanh qua các thập kỷ, năm 2004 đạt 319,69 vạn
tấn, với nhịp độ tăng sau mỗi thập kỷ từ 13,4% - 49,7%, tăng mạnh nhất vào
giai đoạn từ năm 1964-1984.
Qua theo dõi sản lƣợng chè thế giới và các khu vực trồng chè từ năm
2002 đến năm 2006, diễn biến sản lƣợng chè đƣợc thể hiện qua bảng 2.2:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status