Vấn đề giảm nghèo của đồng bào dân tộc khmer ở đồng bằng sông cưu long trong quá trình phát triển bền vững - Pdf 36

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Trong cộng đồng dân tộc Việt
Nam, so với người Kinh, mức độ nghèo của các DTTS trầm trọng và sâu sắc
hơn. Theo số liệu thống kê, đồng bào các DTTS chỉ chiếm 15% dân số nhưng
lại chiếm tới 47% số người nghèo của cả nước và chiếm 68% số nghèo cùng
cực. Đặc biệt, mật độ DTTS trong nhóm hộ nghèo có xu hướng tăng: nếu như
năm 1993, nghèo có tính rộng khắp và hộ nghèo DTTS chỉ chiếm 20% tổng
số hộ nghèo thì năm 2010 hộ nghèo DTTS chiếm khoảng 47% tổng số hộ
nghèo [151, tr.ii, 23]. Do đó, giảm nghèo đối với DTTS là mục tiêu hàng đầu
trong các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
ĐBSCL là vùng đất rộng lớn ở miền Tây Nam bộ gồm 13 tỉnh, thành
phố là: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An
Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố
Cần Thơ. Đây là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế,
an ninh, quốc phòng, đối ngoại; là vùng có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát
triển kinh tế. Thế nhưng, một nghịch lý là: đây lại là vùng có tỷ lệ nghèo cao
nhất cả nước. Trong đó, tập trung chủ yếu ở ĐBDT Khmer [1].
ĐBSCL cũng là nơi sinh sống của nhiều dân tộc anh em như: Kinh,
Khmer, Hoa, Chăm, Tày, Nùng, Ngái, Mnông, Stiêng, Chơro, Châu mạ…
nhưng DTTS đông nhất là người Khmer sống ở 9 tỉnh với 1.198.499 người,
chiếm 10,64% dân số toàn vùng, trong đó tập trung chủ yếu ở 2 tỉnh Trà Vinh
và Sóc Trăng với trên 30% dân số toàn tỉnh [3]. Đây cũng là dân tộc có tỷ lệ
hộ nghèo cao nhất. ĐBDT Khmer chỉ chiếm hơn 10% dân số toàn vùng
nhưng trong tổng số hộ nghèo toàn vùng thì có đến hơn một nửa là ĐBDT
Khmer [3]. Mặc dù qua nhiều năm đổi mới đã có rất nhiều chính sách,
chương trình cụ thể giúp đồng bào thoát nghèo; bản thân ĐBDT Khmer sống
hiền lành chất phác, cần cù, chịu khó làm ăn, thế nhưng tỷ lệ hộ nghèo vẫn
cao, khoảng cách giàu nghèo vẫn tăng, và đặc biệt, tỷ lệ tái nghèo ở ĐBDT
Khmer rất cao.

Nghiên cứu giảm nghèo đối với ĐBDT Khmer ở ĐBSCL trong quá
trình phát triển bền vững.

2


3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu ở 9 tỉnh vùng ĐBSCL có ĐBDT Khmer sinh sống và tập
trung chủ yếu ở 2 tỉnh đông nhất là Sóc Trăng và Trà Vinh vì đây cũng là nơi
có số người Khmer nghèo nhiều nhất.
- Thời gian khảo sát từ năm 2006 đến 2014 và đề xuất định hướng giải
pháp đến năm 2020.
4. Cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý thuyết
Trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án sử dụng một số lý thuyết sau:
- Lý thuyết về PTBV. Năm 1987, Ủy ban quốc tế về môi trường và
phát triển công bố báo cáo “Tương lai của chúng ta” trong đó chính thức sử
dụng thuật ngữ “PTBV” với nội dung gồm 3 trụ cột chính: TTKT; Giải quyết
các vấn đề xã hội nâng cao đời sống; và cải thiện môi trường sinh thái.
- Lý thuyết của Deumnger và Squire (1988) cho rằng tăng trưởng
không làm tăng bất bình đẳng mà ngược lại, khi tăng trưởng đạt đến trình độ
nhất định sẽ là điều kiện để thực hiện CBXH vì tăng trưởng làm tăng của cải
cho nên sẽ mở rộng phạm vi lựa chọn của con người.
- Lý thuyết về phân phối thu nhập. Bình đẳng trong phân phối thu
nhập sẽ tạo động lực cho phát triển kinh tế và sẽ giúp giảm nghèo bền vững.
- Lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng nền KTTT có sự
quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa được Đảng ta đề
xướng và thực hiện đã mang lại những khởi sắc cho nền kinh tế Việt Nam.

quán, văn hóa sinh hoạt cộng đồng… mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho bà
con. Từ đó có cách tiếp cận, đánh giá thực trạng làm cơ sở đề xuất giải pháp.
- Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng: Theo cách tiếp cận trên,
Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, bổ sung cho nhau
nhưng cơ bản nhất là phương pháp quan sát tham dự và phỏng vấn sâu kết hợp
với điều tra và tổng hợp số liệu để phân tích trên cơ sở kế thừa những kết quả
nghiên cứu liên quan đến đề tài… Đây là vấn đề tổng hợp mang tính liên ngành
nên cách tiếp cận liên ngành được đặc biệt chú ý.
- Chọn mẫu: chọn ngẫu nhiên thuận tiện trên gần hết các địa phương có
4


ĐBDT Khmer sinh sống (6/9 tỉnh) trong đó có tỉnh tỷ lệ dân tộc Khmer cao như
Trà Vinh (31,58%), Sóc Trăng (30,39%); có tỉnh tỷ lệ thấp như An Giang
(4,23%), Vĩnh Long (2,34%) với mong muốn nghiên cứu tình hình nghèo đói
của ĐBDT Khmer ở những địa phương khác nhau để làm rõ thực tế: dù ở đâu thì
tỷ lệ nghèo của ĐBDT Khmer vẫn luôn cao hơn dân tộc Kinh. Trên cơ sở đó,
đánh giá thực trạng và nguyên nhân nghèo của đồng bào, rà soát các chính sách
giảm nghèo đã và đang thực hiện để đề xuất thêm những giải pháp giảm nghèo
cho ĐBDT Khmer ở ĐBSCL phù hợp thực tế hơn, nhằm đạt hiệu quả cao hơn.
- Phương pháp điều tra theo bảng hỏi:
Nhằm làm rõ thực trạng nghèo của đồng bào dân tộc Khmer ở
ĐBSCL, luận án đã sử dụng phương pháp lập phiếu điều tra, bảng hỏi đối với
các hộ Khmer nghèo ở ĐBSCL, các cán bộ làm công tác giảm nghèo, kết hợp
với phỏng vấn sâu chuyên gia.
4.2.3. Thông tin/dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu:
Đối với dữ liệu thứ cấp:
Luận án tham khảo số liệu từ các nguồn: Các báo cáo về thực trạng
nghèo của Ủy ban nhân dân các tỉnh, các huyện qua các năm; số liệu thống kê
của Ban dân tộc các tỉnh; số liệu và báo cáo về công tác giảm nghèo của Vụ địa

Mỹ (Huyện Tam Bình-Vĩnh Long). Mỗi địa phương chọn một xã có đông dân
tộc Khmer với mục đích kết hợp với lần khảo sát thứ nhất để có cái nhìn rộng
hơn, bao quát hơn. Từ đó, rút ra những nguyên nhân nghèo chung nhất.
Trong tổng số 1200 phiếu phát ra, đã thu được kết quả trả lời bình quân
cho mỗi câu hỏi đạt trên 80%.
4.2.4. Phương pháp phân tích thông tin/dữ liệu đã thu thập được
+ Phân tích số liệu, bảng biểu dựa trên phương pháp phân tích: Thống kê
mô tả, So sánh tỷ lệ, nhằm đánh giá sự thay đổi của các số liệu trong quá khứ,
từ đó đưa ra các nhận định và giải pháp phù hợp.
+ Sử dụng phần mềm Excel để phân tích các yếu tố thống kê cơ bản,
nhằm khẳng định lại các nhận định mà tác giả đưa ra trong Luận án.
+ Kết quả điều tra được tác giả sử dụng trong phần đánh giá thực trạng
nghèo gắn với PTBV ở phần thành tựu và hạn chế của chương 3.

6


5. Những đóng góp của Luận án
So với tình hình nghiên cứu hiện nay như đã nói ở trên thì Luận án có
thể có một số đóng góp như sau:
- Về lý luận: phân tích, chứng minh vai trò của giảm nghèo trong mối
quan hệ với PTBV.
- Về thực tiễn: với phương pháp quan sát tham dự, chỉ ra những
nguyên nhân nghèo mang tính đặc thù của ĐBDT Khmer, những mâu thuẫn
cơ bản trong vấn đề giảm nghèo hiện nay đối với ĐBDT Khmer ở ĐBSCL:
mâu thuẫn giữa sản xuất nhỏ tiểu nông chịu ảnh hưởng bởi giáo lý Phật giáo
Tiểu thừa hướng nội với sự chuyển biến ngày càng mạnh mẽ của KTTT; mâu
thuẫn giữa mặt bằng dân trí còn thấp với yêu cầu ngày càng cao của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển kinh tế với
giữ vững ổn định chính trị; mâu thuẫn giữa yêu cầu PTBV với tác động ảnh

về lịch sử kinh tế không chỉ đơn thuần kinh tế mà đặt trong tổng thể KT - XH,
làm nổi bật những mối tương tác giữa kinh tế với các lĩnh vực khác, nhất là
văn hóa. Về mỗi thời kỳ lịch sử, về mỗi quốc gia, dân tộc, cuốn sách đều nêu
lên được những kinh nghiệm bổ ích, những điều đáng suy ngẫm, trong đó có
những điều có ý nghĩa thiết thực đối với công cuộc đổi mới và phát triển đất
nước ta hiện nay. Tuy nhiên, với phương pháp phân tích như tự sự của người
dẫn truyện kể về những trải nghiệm của chính tác giả về những vùng đất mà
tác giả đã từng đặt chân đến, từng có những công trình nghiên cứu thì góc
nhìn và đánh giá của tác giả là rất rộng và trải đều đối với tất cả các dân tộc
nên khía cạnh riêng, sâu sắc của từng dân tộc phần nào còn hạn chế.
- Nhóm tác giả ở NHTG gồm Richarh M.Bird, Jennie I.Livack và
M.Govinda Rao đã khảo sát đói nghèo trong “Quan hệ tài chính nhà nước
các cấp và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam”. Với phương pháp khảo sát và
phân tích định lượng đã chỉ ra rất rõ ràng, cụ thể mối quan hệ phân cấp tài
chính giữa chính quyền Trung ương với chính quyền địa phương trong công
tác xóa đói, giảm nghèo qua hệ thống phân phối ngân sách. Tuy nhiên, đây là
một nghiên cứu chủ yếu dựa vào các chương trình phân tích số liệu cho nên
các yếu tố khác ảnh hưởng nghèo và vấn đề giảm nghèo như yếu tố văn hóa,
xã hội, phong tục tập quán không được đề cập.
8


- Philip Taylor “Những vấn đề của phát triển nông thôn Việt Nam
hiện nay: các cách tiếp cận” (Đặng Thế Truyền dịch), Tạp chí Xưa và Nay từ
số 408 (7/2012) đến 413 (10/2012). Ở loạt bài này, tác giả phân tích những vấn
đề đặt ra trong quá trình phát triển nông thôn vùng ĐBSCL qua nghiên cứu về
đời sống, phong tục tập quán, tôn giáo, tâm lý dân tộc, phân hóa giàu nghèo,
bất bình đẳng… trong toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã hội và ảnh hưởng
của KTTT cùng những chính sách của Chính phủ. Trong đó, đề cập đến những
định kiến về nguyên nhân nghèo đói nơi người Khmer ở Nam bộ dưới góc nhìn

- Ngân hàng thế giới, “Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam 2012. Khởi
đầu tốt nhƣng chƣa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tƣợng của Việt
Nam trong giảm nghèo và những thách thức mới”. Với phương pháp
nghiên cứu hiện đại đáng tin cậy kết hợp cả định lượng và định tính, số liệu
khảo sát chi tiết kết hợp khảo sát của Tổng cục Thống kê trong thời gian dài
từ 2004, 2006, 2008 đến 2010 để đánh giá về thành tựu giảm nghèo của Việt
Nam và chỉ ra những thách thức mới đó là: Khoảng cách giàu nghèo ngày
càng tăng, đặc biệt là khoảng cách giữa dân tộc Kinh với các DTTS; bộ phận
nghèo còn lại tập trung nhiều ở vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS và ngày càng
khó tiếp cận hơn. Báo cáo cũng phân tích và chứng minh những nhân tố đặc
trưng của người nghèo ở thập kỷ 90 vẫn tiếp tục đặc trưng cho người nghèo
trong giai đoạn hiện nay, đó là: học vấn, kỹ năng làm việc, sản xuất còn nhiều
yếu tố tự cung tự cấp, cô lập về địa lý, xã hội, chịu nhiều rủi ro thiên tai…
Nghĩa là để có giải pháp đột phá cho những đối tượng nghèo còn lại là không
hề dễ dàng, và đó cũng chính là thách thức lớn đối với cuộc chiến chống đói
nghèo những năm tiếp theo. Đây là tài liệu thật sự bổ ích cho nghiên cứu của
đề tài, giúp có cái nhìn toàn diện về công cuộc giảm nghèo và bộ phận nghèo
dai dẳng mà chủ yếu là đồng bào DTTS, để từ đó có những gợi ý cho việc
nghiên cứu đề xuất giải pháp mang tính đột phá cho ĐBDT Khmer.
- Dự án “Phân tích hiện trạng nghèo, đói ở ĐBSCL” (MDPA) do tổ
chức Tầm nhìn thế giới kết hợp với công ty Adam Ford thực hiện. Các hoạt
động nghiên cứu được các chuyên gia thuộc Viện Khoa học xã hội và trường
đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh tiến hành năm 2004. Trong báo cáo
10


tổng hợp của dự án, các tác giả đã chỉ ra đặc điểm của người nghèo vùng
ĐBSCL. Đặc biệt, trong chuyên đề 3: “Ngƣời Khmer vùng ĐBSCL” của dự
án, các tác giả đã làm rõ các nguyên nhân của hiện tượng đói nghèo ở cộng
đồng người Khmer, xác định những cơ hội cũng như rào cản đối với sự tăng

thôn nước ta. Tài liệu này tiếp cận ở địa bàn rất rộng trên phạm vi cả nước và
tiếp cận ở góc độ xã hội nên chủ yếu phân tích, đánh giá những ảnh hưởng xã
hội của tình trạng nghèo đói ở nông thôn, chưa đề cập đến đối tượng ĐBDT.
+ Nguyễn Thị Hoa (2010), Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đến
năm 2015, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, Hà Nội. Nghiên cứu này
tiến hành đánh giá tác động của một số chính sách đến công tác xóa đói giảm
nghèo ở nước ta hiện nay. Trong đó tập trung vào 4 chính sách chủ yếu:
Chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo; Chính sách đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng xã nghèo; Chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo; Và chính sách
hỗ trợ y tế cho người nghèo. Ngoài việc phân tích, đánh giá và phản ánh thực
trạng thực hiện các chính sách, tác giả còn đưa ra những phương hướng nhằm
hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm
2015. Tuy nhiên, công trình tiếp cận ở góc độ đánh giá chính sách cho người
nghèo nói chung, chưa đi vào đánh giá đối tượng người nghèo là đồng bào
DTTS người Khmer.
+ Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2011), “Giảm nghèo ở Việt Nam:
thành tựu và thách thức”, Hà Nội. Công trình đã đánh giá những thành tựu
trong công cuộc giảm nghèo của Việt Nam trong hai thập kỷ qua (cụ thể là từ
năm 1993 đến nay); phân tích công tác giảm nghèo đặt trong bối cảnh sau khi
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong đó đặc biệt
chú ý đến cách ứng phó với các rủi ro mang tính hệ thống ở cấp độ nền kinh
tế, cũng như với các rủi ro ở cấp độ hộ gia đình hoặc cấp cá nhân và cách tạo
ra nhiều cơ hội hơn cho người nghèo và người thu nhập thấp trong bối cảnh
kinh tế mới. Cụ thể các vấn đề liên quan đến duy trì ổn định kinh tế vĩ mô,
tăng cường hệ thống an sinh xã hội, mở rộng cơ hội và nâng cao năng lực cho
người nghèo và người thu nhập thấp; và nhận định những thách thức ở phía
trước. Công trình này mặc dù có phân tích tình trạng nghèo của đồng bào
12





DTTS. Tuy nhiên, đây chỉ là những nhận định dưới góc độ một bài viết cho
nên chưa thể hiện được tính toàn diện và cũng chưa đề cập tới một đối tượng
cụ thể mang tính đặc thù nào.
+ Tiến sỹ Phạm Bảo Dương: “Nghiên cứu các giải pháp hỗ trợ giảm
nghèo cho khu vực ĐBSCL”. Đề tài nghiên cứu thuộc Dự án VIE/02/001
Hỗ trợ cải thiện và thực hiện các chƣơng trình mục tiêu quốc gia về giảm
nghèo, năm 2008. Trong đề tài, với phương pháp điều tra khảo sát thực tế kết
hợp cả định lượng và định tính, tác giả làm rõ nguyên nhân đói nghèo, đánh
giá thực trạng và biểu hiện đặc thù về đói nghèo của người dân trong vùng.
Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp và các chính sách giảm nghèo phù hợp
với tính đặc thù của khu vực ĐBSCL. Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu
của một chương trình mục tiêu, những giải pháp chỉ được thực hiện trong
kinh phí định trước và chỉ là hỗ trợ do đó chưa mang tính toàn diện.
+ Tiến sỹ Bùi Văn Trịnh: “Người DTTS vùng ĐBSCL”, đề tài nghiên
cứu khoa học cấp cơ sở của khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Trường Đại
học Cần Thơ, năm 2007. Trong đề tài tác giả đã khái quát những đặc điểm
của các DTTS vùng ĐBSCL; thực trạng về đời sống và đề xuất giải pháp
nhằm góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các
DTTS vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, do tiếp cận ở góc độ Dân tộc học nên việc
phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp chủ yếu liên quan đến chính sách
Dân tộc của Đảng.
- Những nghiên cứu tập trung vào vấn đề nghèo và công tác xóa đói giảm
nghèo của ĐBDT Khmer ở ĐBSCL
+ Ngô Văn Lệ và Nguyễn Văn Tiệp (đồng chủ biên): “Thực trạng kinh tếxã hội và những giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở người Khmer tỉnh Sóc Trăng”,
Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2003. Cuốn sách đã khái
quát một bức tranh chung về thực trạng kinh tế - xã hội của ĐBDT Khmer ở tỉnh
Sóc Trăng; chỉ ra nguyên nhân của nghèo đói. Trên cơ sở đó, đề ra một số giải
pháp, kiến nghị nhằm nâng cao đời sống của ĐBDT Khmer tỉnh Sóc Trăng.

dân tộc ở ĐBSCL. Đây là đề tài có cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
khoa học dựa trên những số liệu điều tra rất chi tiết bao gồm cả định tính và
15


định lượng, chỉ ra hàng loạt các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và mức sống
của đồng bào DTTS ở ĐBSCL như: dân số, điều kiện sống, điều kiện canh tác,
ảnh hưởng tác động của thị trường, chính sách của nhà nước, phong tục tập
quán, văn hóa truyền thống của cả hai dân tộc… Tuy nhiên, đây là những
nghiên cứu được tiếp cận ở góc độ xã hội nên những đề xuất giải pháp chủ yếu
về chính sách xã hội, chưa lấy kinh tế làm nền tảng động lực chính. Mặt khác,
cũng là những chính sách chung cho cả hai dân tộc Khmer và Chăm.
+ TS. Mai Chiếm Hiếu (2014), “Nghèo và phân hoá giàu nghèo tại
khu vực đồng bào khmer tập trung sinh sống ở ĐBSCL”, Luận án tiến sĩ
kinh tế, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt nam. Luận án đã làm rõ thực
trạng nghèo, thực trạng phân hóa giàu nghèo tại khu vực đồng bào Khmer tập
trung sinh sống ở ĐBSCL. Xác định và lượng hóa các nhân tố tác động đến
tình trạng nghèo đói tại khu vực đồng bào Khmer với bảy nhóm nhân tố ảnh
hưởng trực tiếp đến tình trạng nghèo đói của hộ gia đình Khmer tại khu vực
nghiên cứu, bao gồm: (i) nghề nghiệp-việc làm, (ii) khả năng tiếp cận các
nguồn lực sản xuất, (iii) trình độ học vấn, (iv) đặc điểm nhân khẩu học, (v) sự
tách biệt xã hội, (vi) các rủi ro của hộ, (vii) yếu tố tâm lý-dân tộc (Ở yếu tố
thứ bảy này, luận án đã định lượng được sự ảnh hưởng của yếu tố tâm lý ảnh
hưởng đến nghèo đói để gợi mở một cách tiếp cận phương pháp nghiên cứu
định lượng về nghèo mang tính toàn diện hơn). Ngoài ra, luận án cũng đã tìm
thấy những bằng chứng về sự bất cập và hạn chế trong các chính sách phân bổ
nguồn lực, tạo cơ hội và giáo dục tư tưởng liên quan đến công tác XĐGN tại
địa bàn nghiên cứu. Qua đó đề xuất các giải pháp giảm nghèo cho khu vực
đồng bào Khmer tập trung sinh sống ở ĐBSCL. Luận án là kênh tham khảo
quan trọng về vấn đề nghèo và phân hóa giàu nghèo của đồng bào Khmer ở

các công trình nghiên cứu khác tiếp cận từ khía cạnh văn hoá và xã hội của
người Khmer. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu về phật giáo Nam tông, về
một số chính sách của các tỉnh đối với ĐBDT Khmer là những cứ liệu tốt cho
khảo sát đánh giá của Luận án.
- Những công trình nghiên cứu có liên quan đến mối quan hệ giữa
TTKT với thực hiện CBXH và nghèo đói, điển hình như:
17


+ GS.TS Đỗ Thế Tùng: “Phân phối và tác động của phân phối đến
sự phân hóa giàu, nghèo trong nền KTTT”. Tác giả phân tích một trong
những nguyên nhân của tình trạng nghèo ngày càng gia tăng trong nền KTTT
là từ chính sách phân phối. Từ đó, đề xuất một số giải pháp cụ thể từ phía
chính sách của nhà nước - đặc biệt là chính sách trong lĩnh vực phân phối để
có thể hạn chế bớt sự phân hóa.
+ GS.TS Đỗ Thế Tùng: “Mối quan hệ giữa TTKT và thực hiện chính
sách xã hội trong PTBV - Những giải pháp chủ yếu đối với Việt Nam”. (Bài
tham luận tại Hội thảo khoa học: “Giải quyết tốt mối quan hệ giữa TTKT và
phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và CBXH”). Ở bài viết này, tác giả phân
tích, chứng minh làm rõ: TTKT là động lực cơ bản thúc đẩy phát triển, là nhân tố
quan trọng hàng đầu và điều kiện vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội. Đồng
thời các chính sách xã hội phù hợp cũng là công cụ để phát triển KT - XH bền
vững. Trên cơ sở đó, đề ra một số giải pháp cụ thể để có thể thực hiện hài hòa 2
yếu tố này trong điều kiện đất nước ta hiện nay.
Ở hai nghiên cứu này, chủ yếu phân tích về mặt lý luận và lấy số liệu
thực tiễn để chứng minh làm rõ những tác động của KTTT đến phân hóa giàu
nghèo. Những nghiên cứu này cả về lý luận và thực tiễn đều mang tính khái quát
chung mà không đề cập đến một đối tượng đặc thù riêng nào.
+ Nhóm tác giả Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương với
“Ảnh hưởng của tự do hóa giá cả và cải cách thị trường đối với tình trạng

Tuy nhiên công trình này cũng tập trung vào mối quan hệ chung chứ chưa đi
sâu vào phân tích cụ thể đến vấn đề đói nghèo với TTKT.
1.3. Nhận định tình hình nghiên cứu
Tất cả các công trình nghiên cứu, các đề tài, Luận án, Luận văn, các
bài viết… đề cập đến đói, nghèo và xóa đói giảm nghèo ở rất nhiều góc độ
khác nhau và trên nhiều địa bàn khác nhau. Cụ thể:
- Nghiên cứu của nước ngoài như NHTG đề cập đến đói nghèo và
XĐGN trên phạm vi cả nước và dưới góc độ kinh tế tài chính. Không đề cập
đến mối quan hệ trong sự PTBV.
19


- Rất nhiều nghiên cứu về tình trạng đói nghèo và phân hóa giàu
nghèo ở nông thôn Việt Nam của các tác giả như: Nguyễn Thị Hằng, Chu
Hữu Quý, Nguyễn Văn Hồi, Philip Taylo… và các giải pháp của các tác giả
đã và đang phát huy hiệu quả hoặc tiếp tục được thực hiện. Tuy nhiên, do
nông thôn là khu vực có rất nhiều biến động - đặc biệt về lao động và đất đai
trong quá trình công nghiệp hóa cho nên những nghiên cứu từ những năm 90
đến nay cần phải được bổ sung cho phù hợp.
- Những nghiên cứu về phân hóa giàu, nghèo ở vùng sâu vùng xa, vùng
đồng bào DTTS trong đó có ĐBDT Khmer được đề cập đến ở rất nhiều góc độ
khác nhau và các địa bàn khác nhau. Có đề tài nghiên cứu về giảm nghèo của
ĐBDT Khmer nhưng chỉ ở từng địa phương riêng biệt như đề tài của Ngô Văn Lệ
và Nguyễn Văn Tiệp chỉ nghiên cứu ở riêng tỉnh Sóc Trăng. Có đề tài nghiên cứu
cả vùng ĐBSCL nhưng gồm cả dân tộc Khmer và dân tộc Chăm như đề tài của
Nguyễn Quốc Nghi, Nguyễn Thị Ánh. Ở đề tài này, tác giả cũng chỉ nghiên cứu ở
góc độ khảo sát thực trạng sinh kế và những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của
ĐBDT Khmer và dân tộc Chăm ở ĐBSCL. Cho nên những giải pháp mà tác giả
đưa ra chỉ ở góc độ cải thiện đời sống cho ĐBDT nói chung và cụ thể là dân tộc
Khmer và dân tộc Chăm ở vùng này. Hơn nữa, những đề xuất giải pháp là chung

Có thể bó hẹp ở từng địa phương mà không chung cho cả vùng; có thể chung
cho cả vùng nhưng lại chưa phân tích được nguyên nhân và những giải pháp
đặc thù để mang lại hiệu quả… Đó cũng chính là mục tiêu mà tác giả muốn
nghiên cứu tìm hiểu. Từ mục tiêu này, luận án xác định những nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể, cách tiếp cận và các phương pháp sẽ sử dụng để đạt mục
tiêu đề ra.

21


CHƢƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIẢM NGHÈO
VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
2.1. Cơ sở lý luận của giảm nghèo
2.1.1. Quan niệm về nghèo
2.1.1.1. Quan niệm của thế giới về nghèo
Trong thời đại ngày nay, nghèo không chỉ đơn thuần là sự thiếu thốn về
vật chất, về miếng cơm manh áo, mà quan niệm về nghèo đã được rất nhiều
nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu và tiếp cận dưới các góc độ khác nhau:
Tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội ở Copenhagen,
Đan Mạch (tháng 3/1995) xác định: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu
nhập dưới 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để
mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” [1,12].
Việc phân loại các nước theo mức độ giàu hay nghèo được tư duy
theo cùng lôgic này và tùy thuộc vào chỉ số GDP (tổng sản phẩm quốc
nội tính theo đầu người). Nhà kinh tế học được người Ấn Độ đạt giải
thưởng Nobel, năm 1998, Amartya Sen đã phê phán mạnh mẽ quan điểm
thiển cận nói trên về nghèo. Theo ông, nghèo đối với mỗi cá nhân trước
hết là không có cơ hội khai thác năng lực và định hướng cuộc sống của

khổ tuyệt đối và nghèo khổ tương đối.
+ Nghèo khổ tuyệt đối: là trình trạng một bộ phận dân cư không được
hưởng những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống.
+ Nghèo khổ tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống
dưới mức trung bình của cộng đồng.
Ủy ban KT - XH khu vực Châu Á - Thái Bình Dương ESCAP tổ chức
hội nghị tại Băng-Cốc năm 1993 thống nhất định nghĩa: “nghèo là tình trạng
một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản
của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế
xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”. [39,16]
23


Có thể thấy, định nghĩa này bao quát hơn cả, gồm cả nghèo tuyệt
đối và nghèo tương đối. Đặc biệt, nghèo theo định nghĩa này hoàn toàn là
một khái niệm động, mang tính lịch sử cụ thể. Điều này được thể hiện rõ
trong thực tế quá trình vận động phát triển của xã hội loài người. Chẳng
hạn, ở thời kỳ sơ khai, mông muội thì nghèo lúc này mang ý nghĩa tuyệt
đối. Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển cho đến thời đại ngày nay thì
ngoài nghèo tuyệt đối còn hiện tượng nghèo theo nghĩa tương đối tùy từng
quốc gia với những đặc điểm kinh tế-xã hội, phong tục tập quán, mức sống,
quan niệm khác nhau.
Ví dụ: với thu nhập 500USD/người/năm, đây là những người nghèo
trong các nước đang phát triển. Nhưng với thu nhập 13.000USD/người/năm
thì đây lại là những người nghèo ở các nước phát triển.
Mặt khác, nghèo tương đối còn phải được xem xét đến các nhu cầu
tinh thần như học tập, vui chơi giải trí, hưởng thụ văn hóa...
Theo Ngân hàng thế gới (WB): Chỉ tiêu để đánh giá mức độ giàu
nghèo của các quốc gia sẽ căn cứ vào thu nhập quốc dân tính theo đầu người
với hai cách:



Và sau đó, WB đã phân loại các nước năm 2009/2010 thành các nhóm
nước/vùng lãnh thổ theo mức GNI năm 2008, với 3 nhóm cụ thể sau:
(1) Nhóm nước có thu nhập thấp (có GNI dưới 975 USD/người);
(2) Nhóm nước có thu nhập trung bình (có GNI từ khoảng 976
USD/người đến 11.905 USD/người, trong đó có hai phân nhóm trung bình
thấp từ 3.855 USD/người trở xuống và trung bình cao);
(3) Nhóm nước có thu nhập cao (trên 11.906 USD/người). [120]
Nếu chỉ căn cứ vào mức thu nhập bình quân đầu người để phân tích
thì sẽ là phiến diện, bởi lẽ chỉ cần TTKT, nâng cao mức thu nhập của dân
chúng là sẽ giải quyết được nghèo. Song trong thực tế, không ít trường hợp
hai nước có cùng mức GDP và thu nhập bình quân đầu người như nhau nhưng
hệ số bất bình đẳng về thu nhập lại khác nhau. Thậm chí ở những nước giàu
hệ số bất bình đẳng hay khoảng cách giàu nghèo còn cao hơn so với những
nước nghèo. Chẳng hạn như ở Mỹ năm 2012, thu nhập bình quân đầu người
51.749 USD, nhưng 80% dân số nước này hiện đang sống ở mức cận nghèo.
Theo báo cáo của Cục Điều tra dân số Mỹ công bố ngày 23/4/2013 thì 7%
những người giàu nhất ở Mỹ đã chiếm tới 63% tổng tài sản của hộ gia đình
trên toàn quốc [97]. Như vậy cũng có nghĩa là 93% dân số còn lại sẽ chia
nhau 37% tài sản còn lại. Và khoảng cách giàu nghèo ở cường quốc số một
này là 24 lần!
Trong khi Việt Nam thuộc nhóm nghèo thu nhập bình quân đầu người
2.028USD (năm 2014), nhưng hệ số này là 9,4 lần [146]. Tuy nhiên, nếu chỉ
dừng ở đây, sẽ có thể hiểu rằng, những người nghèo ở những nước giàu là
nghèo theo nghĩa tương đối. Thế nhưng trong thực tế, ngay tại các nước giàu
vẫn tồn tại hiện tượng nghèo một cách tuyệt đối. Xin được dẫn lời của tác giả
Michael Roberlt khi viết về “Tình trạng chung của Anh và Mỹ” vào tháng
8/2004 được in trong tạp chí Thông tin tư liệu chuyên đề số 4/12/2004, của
HVCTQGHCM. Ông viết: “Ở Anh, có 11% số công nhân triền miên nghèo đói


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status