Phân tích các quy định của pháp luật về áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp khẩn cấp tạm thời ở tòa án sơ thẩm, phúc thẩm và thực tiễn thực
hiện
Chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời là một trong những chế định pháp lý có ý
nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
trong tố tụng dân sự. Chế định pháp lý này ghi nhận về biện pháp tố tụng tương đối
đặc biệt, được Tòa án sử dụng kết hợp với các biện pháp tố tụng khác như chứng
minh, hòa giải... nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án
dân sự. Để tìm hiểu quy định của pháp luật về quy định của pháp luật về áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ BPKCTT em xin lựa chọn đề tài:“Phân tích các quy định của pháp
luật về áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời ở tòa án sơ thẩm,
phúc thẩm và thực tiễn thực hiện.”
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI.
1. Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong quá trình tò tòa án giải quyết vụ việc dân sự thì đôi khi tòa án phải quyết định
áp dụng một hoặc một số biện pháp cần thiết để giải quyết nhu cầu cấp bách của
đương sự, bảo vệ bằng chứng hoặc để bảo đảm thi hành án. Các biện pháp này được
gọi là Biện pháp khẩn cấp tạm thời: “ Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp mà
tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết
nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn tình trạng tài sản, bảo vệ bằng chứng hoặc
bảo đảm việc thi hành án”
2. Mục đích và ý nghĩa của biện pháp khẩn cấp tạm thời
Với mục đích là để giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn tình trạng
tài sản, bảo vệ bằng chứng hoặc để bảo đảm việc bảo vệ kịp thời cac quyền và lợi
ích hợp pháp và nhu cầu cấp bách của đương sự, tạo điều kiện cho đương sự sớm ổn
định được cuộc sống cũng như những người sống phụ thuộc vào họ.
Thực tế vì những xung đột lợi ích nên có những vụ việc đương sự đã tẩu tán tài sản,
hủy hại chứng cứ… nhằm gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó,
BPKCTT được quy định tại khoản 1 Điều 99 BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung
năm 2011 và Điều 1 Nghị quyết 02/2005 thì những chủ thể này bao gồm:
+ Các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự;
+ Các cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác. Như các cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em; Hội liên hiệp
phụ nữ khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân
và gia đình quy định; Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở khởi kiện vụ án lao
động trong trường hợp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động
do Bộ luật lao động và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan quy định.
Ngoài ra, Tòa án có thể tự mình ra quyết định áp dụng BPKCTT trong trường hợp
đương sự không có yêu cầu áp dụng BPKCTT đối với một số biện pháp quy định tại
khoản 1,2,3,4,5 Điều 102 BLTTDS (Điều 119BLTTDS).
1.2. Thời điểm được yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 99 BLTTDS thì ngoài được khởi kiện trong quá
trình giải quyết vụ án còn được nộp đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT trong trường
hợp do tình thế khẩn cấp, cần bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm
trọng có thể xảy ra, cá nhân, cơ quan tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng
ngay BPKCTT vào cùng thời điểm nộp đơn khởi kiện (trước khi tòa án thụ lý vụ
án). Đây chính là điểm tiến bộ và cũng là điểm mới của BLTTDS năm 2004 so với
quy định PLTTGQVADS năm 1989 trước đây.
1.3. Thẩm quyền, thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
Thẩm quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT được xác định theo
thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự. Theo quy định tại Điều 100 BLTTDS thì:
Trước khi mở phiên tòa, việc giải quyết một vụ án dân sự do một thẩm phán tiến
hành nên việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT do một thẩm phán xem xét, quyết
định. Tại phiên tòa, việc giải quyết vụ án do Hội đồng xét xử tiến hành nên việc áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
1.3.1. Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
đơn và các chứng cứ kèm theo, hỏi ý kiến của người yêu cầu và người bị yêu cầu áp
dụng BPKCTT, thảo luận và thông qua tại phòng xử án.
Trong trường hợp yêu cầu áp dụng BPKCTT được thực hiện cùng với đơn khởi
kiện. Theo quy định của khoản 2 Điều 99 thì trong một số trường hợp chủ thể có
quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT có thể nộp đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT đồng
thời với đơn khởi kiện như do tình thế khẩn cấp, tức là cần phải giải quyết ngay,
không chậm trễ; cần phải bảo vệ ngay bằng chứng trong trường hợp nguồn chứng
cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được;
ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra.
Đối với các trường hợp này thì theo quy định tại khoản 3 Điều 117 BLTTDS và 6
Nghị quyết 02/2005 hướng dẫn khoản 3 Điều 117 BLTTDS thì đối với yêu cầu áp
dụng BPKCTT nộp cùng đơn khởi kiện thì sau khi nhận được đơn yêu cầu cùng với
đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo Chánh án Tòa án chỉ định một thẩm phán thủ
lý giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận được đơn yêu
cầu áp dụng BPKCTT, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và chứng cứ kèm
theo để xác định đơn khởi kiện có thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Toà án
mà họ yêu cầu áp dụng BPKCTT hay không:
+ Nếu thuộc thẩm quyền thì tiếp tục xem xét giải quyết đơn yêu cầu áp dụng
BPKCTT thì thủ tục được thực hiện tương tự như đối với trường hợp đơn yêu cầu
áp dụng BPKCTT trong quá trình giải quyết vụ án (hướng dẫn tại các tiểu mục 5.2,
5.3 và 5.4 mục 5 Nghị quyết 02/2005). Trong trường hợp tòa án ra quyết định áp
dụng BPKCTT là phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc
nhà nước, phong tỏa tài khoản phải có giá trị tương đương với nghĩa vụ thì tài
khoản, tài sản được phong tỏa phải có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài sản mà
người bị áp dụng BPKCTT có nghĩa vụ phải thực hiện. Trường hợp thẩm phán
không chấp nhận yêu cầu áp dụng BPKCTT thì phải thông báo bằng văn bản cho
người yêu cầu biết và trong đó có nêu rõ lý do của việc không chấp thuận .
+ Nếu không thuộc thẩm quyền thì trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu áp dụng
- Về thủ tục hủy bỏ BPKCTT: Theo quy định tại Điều 122 BLTTDS thì Toà án ra
ngay quyết định huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng khi có một
trong các trường hợp sau đây: Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
đề nghị huỷ bỏ; Người phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ
đối với bên có yêu cầu; Nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ chấm dứt theo quy
định của Bộ luật dân sự.
Trong trường hợp hủy bỏ BPKCTT, Tòa án phải xem xét, quyết định để người yêu
cầu áp dụng BPKCTT nhận lại khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá
khi thực hiện biện pháp bảo đảm và khi áp dụng quy định quy định tại Điều 120, trừ
trường hợp: Người yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trong trường hợp yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường (khoản
1 Điều 101 BLTTDS)
Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT có hiệu lực thi hành ngay. Khi ban
hành quyết định này, Tòa án gửi ngay quyết định cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có
liên quan, cơ quant hi hành án dân sự có thẩm quyền và Viện Kiểm sát cùng cấp. Cơ
quan thi hàn án chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
1.4. Khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn
cấp tạm thời.
Theo quy định tại Điều 124 BLTTDS thì đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm
sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án giải quyết vụ án về quyết định áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ BPKCTT hoặc việc thẩm phán không ra quyết định áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ BPKCTT. Thời hạn khiếu nại, kiến nghị là 3 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT hoặc trả lời của Thẩm
phán về việc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT.
Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 125 BLTTDS và Mục 11 Nghị quyết 02/2005
- Trường hợp người có yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng mà gây thiệt hại cho
người bị áp dụng hoặc cho người thứ ba thì họ phải chịu trách nhiệm về việc thực
hiện quyền yêu cầu đó (khoản 1 Điều 101 BLTTDS).
- Trường hợp Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng BPKCTT không đúng mà gây
thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường trong
các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 101 BLTTDS và Mục 4 Nghị quyết
02/2005: Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Toà án áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, cơ quan,
tổ chức có yêu cầu; Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức (Tòa án chỉ bổi
thường phần vượt quá).
2. Tòa án phúc thẩm
Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT ở tòa án Phúc thẩm được quy định tại Điều
261 BLTTDS: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm có
quyền quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định
tại Chương VIII của Bộ luật này”. Về cơ bản các quy định tại chương VIII BLTTDS
là những quy định nhằm áp dụng cho giai đoạn xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm.
Do đó trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm hoặc tại phiên tòa phúc thẩm nếu
có yêu cầu áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT thì việc xem xét, giải quyết được
thực hiện theo quy định tại các điều tương ứng của chương VIII BLTTDS về các
biện pháp khẩn cấp tạm thời và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2005 của HĐTP TANDTC như trình bày ở trên.
Trong trường hợp đương sự kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm mà trong đơn
kháng cáo hoặc kèm theo đơn kháng cáo, đương sự khiếu nại quyết định áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ BPKCTT của tòa án sơ thẩm thì tòa án phúc thẩm thông báo ngay
cho người yêu cầu là tòa án phúc thẩm không có quyền giải quyết khiếu nại và giải
thích cho họ có quyền yêu cầu tòa án phúc thẩm thay đổi, áp dụng bổ sung
BPKCTT, hủy bỏ BPKCTT đã được áp dụng hoặc ra quyết định áp dụng BPKCTT
phải bồi thường. Nhưng nếu là kiên nghị Tòa án thì cơ quan, tổ chức này không
phải bồi thường (Điều 118 không quy định trách nhiệm bồi thường trong trường
hợp này). Do đó, Điều 99 và Điều 118 BLTTDS cần phải sửa đổi để có quy định
một cách thống nhất về quyền yêu cầu của cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền
lợi và lợi ích cho người khác.
- Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ cho phép thời điểm được yêu
cầu áp dụng BPKCTT sau khi khởi kiện và sớm nhất là cùng với đơn khởi kiện
(Điều 99 BLTTDS). Thực tế có nhiều trường hợp, đương sự chỉ muốn yêu cầu tòa
án áp dụng ngay một biện pháp KCTT để bảo toàn tài sản và bảo vệ quyền và lợi
ích của mình mà không muốn khởi kiện hoặc sau đó, họ tự giải quyết được tranh
chấp nên không khởi kiện. Tuy nhiên với quy định trên để Tòa án ra quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ khi các đương sự phải khởi kiện, kể cả trường
hợp họ không muốn. Do đó phải chăng nên thừa nhận quyền yêu cầu tòa án áp dụng
BPKCTT của đương sự khi họ không khởi kiện và coi yêu cầu này là một loại việc
dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
- Thủ tục xem xét, ra quyết định áp dụng BPKCTT theo quy định tại Điều 117
BLTTDS không có quy định về thủ tục gửi quyết định không áp dụng BPKCTT
sang cho Viện kiểm sát và khoản 2 Điều 123 BLTTDS chỉ quy định việc gửi quyết
định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT sang cho viện kiểm sát. Như vậy, nếu Tòa
án không ra quyết định áp dụng BPKCTT thì VKS sẽ không thể kiểm sát được là
việc không ra quyết định đó của Tòa án là đúng hay không. Cụ thể: khoản 2 Điều
117 chỉ quy định trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu áp dụng BPKCTT thì
Thẩm phán phải thông báp bằng văn bản cho người yêu cầu biết nhưng lại không có
quy định phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát. Do đó, Viện kiểm sát khó
có thể thực hiện được quyền kiến nghị về việc Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
BPKCTT theo Điều 124 BLTTDS. Để đảm bảo tính minh bạch, khách quan của
việc giải quyết yêu cầu áp dụng BPKCTT thì bộ luật tố tụng dân sự nên bổ sung
quy định về việc phải thông báo cho Viện kiểm sát biết về việc không ra quyết định
rằng, mặc dù BLTTDS sửa đổi, bổ sung 2011 quy định khá cụ thể và được hướng
dẫn trong Nghị định 02/2005, tuy nhiên thực tế khi áp dụng vẫn còn gặp một số
vướng mắc như phần bài làm phía trên em đã trình bày.