Đánh giá thực trạng Đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại quận Thanh Xuân Thành phố Hà Nội - Pdf 36

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Tài Nguyên và
Môi Trường Hà Nội, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các
thầy cô giáo trong trường, đặc biệt là các thầy cô giáo khoa Quản lý đất đai.
Các thầy cô đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản về chuyên ngành làm
hành trang cho em vững bước về sau. Với long cảm ơn sâu sắc, em xin chân
thành cảm ơn Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Đất
Đai, các thầy cô đã giảng dậy, hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập tại
trường.
Đặc biệt, để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản
thân, em còn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của cô giáo, TS. Thái
Thị Quỳnh Như, sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Quản Lý Đất Đai
cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ Phòng Tài Nguyên và Môi
Trường quận Thanh Xuân – Thành phố Hà Nội, sự động viên của gia đình,
bạn bè đã tạo điều kiện để em hoàn thành đồ án tốt nghiệp này.
Trong đồ án tốt nghiệp sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em rất
mong nhận được sự đóng góp chỉ đạo của các thầy cô cùng các bạn sinh viên
để em có thể vững bước hơn trong chuyên môn sau này.
Cuối cùng, em xin kính chúc các thầy cô giáo, các cán bộ Phòng Tài
Nguyên và Môi Trường quận Thanh Xuân, gia đình, bạn bè luôn mạnh khỏe,
hạnh phúc và đạt được nhiều thành công trong cuộc sống.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên

Đặng Thu Giang

1


MỤC LỤC




gia; đồng thời giúp cho người dân yên tâm sản xuất và đầu tư phát triển trên
mảnh đất đó.
Quận Thanh Xuân là đơn vị hành chính của thành phố Hà Nội với
nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, là nơi đang có nhiều chính sách để thu
hút đầu tư. Cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại
hóa thì công tác cấp GCN là một trong những công cụ để nhà nước quản lý
chặt chẽ quỹ đất của địa phương.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, đồng thời được sự phân công
của khoa Quản lý đất đai - trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội,
dưới sự hướng dẫn của TS. Thái Thị Quỳnh Như, em tiến hành thực hiện đồ
án tốt nghiệp: “Đánh giá thực trạng Đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
tại quận Thanh Xuân - Thành phố Hà Nội”.
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
- Mục đích:
+ Nhằm đánh giá thực trạng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn
quận Thanh Xuân-Thành phố Hà Nội
+ Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên
địa bàn quận Thanh Xuân- thành phố Hà Nội.
- Yêu cầu:
+ Đề xuất các giải pháp mang tính khả thi, thiết thực nhằm cải thiện
công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất trên địa bàn quận Thanh Xuân-thành phố Hà Nội

4



nước cần thực hiện việc đăng ký đất đai, cấp GCN, để giải quyết các quan hệ
phát sinh trong quá trình sử dụng đất, để việc sử dụng đất trở nên hợp lý, hiệu
quả và tiết kiệm.
1.1.1. Đăng ký đất đai
1.1.1.1. Khái niệm đăng ký đất đai
Đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính thiết lập hồ sơ địa chính đầy
đủ và cấp giấy chứng nhận cho người sử dụng đất hợp pháp nhằm xác lập mối
quan hệ pháp lý giữa nhà nước với người sử dụng đất, làm cơ sở để Nhà nước
quản lý chặt chẽ đất đai theo pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
người sử dụng đất.
1.1.1.2. Vai trò của công tác đăng ký đất đai
- Đăng ký đất đai là công cụ của Nhà nước nhằm đảm bảo lợi ích Nhà
nước, cộng đồng công dân như quản lý nguồn thuế, Nhà nước với vai trò
trung gian tiến hành cân bằng lợi ích giữa các chủ thể, bố trí cho mục đích sử
dụng tốt nhất. Nhà nước biết được cách để quản lý chung qua việc dùng công
cụ đăng ký đất đai để quản lý. Lợi ích của công dân có thể thấy được như Nhà
nước bảo vệ quyền và bảo vệ người công dân khi có các tranh chấp, khuyến
khích đầu tư cá nhân, hỗ trợ các giai dịch về đất đai, giảm khả năng tranh
chấp đất đai.
- Là cơ sở để bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, thực chất là sở
hữu nhà nước. Nhà nước chia cho dân sử dụng trên bề mặt, không được khai
thác trong lòng đất và trên không, nếu được phải có sự cho phép của Nhà
nước. Bảo vệ hợp pháp và giám sát nghĩa vụ theo quy định của pháp luật để
đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội. Vì vậy đăng ký đất đai với vai trò thiết
lập hệ thống thông tin về đất đai sẽ là công cụ giúp Nhà nước quản lý.
- Đăng ký đất đai để Nhà nước nắm chắc và quản lý chặt chẽ nguồn tài
nguyên đất. Biết mục đích sử dụng, từ đó điều chỉnh hợp lý các thông tin hồ
6



quyết các tranh chấp đất đai, xác định nghĩa vụ tài chính về tài chính của
người sử dụng đất, đền bù thiệt hại về đất đai, xử lí vi phạm về đất đai.
1.1.3. Sự cần thiết phải cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Đối với nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất
quản lý. Nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn
định lâu dài và mọi người sử dụng đất đều phải tiến hàh đăng ký quyền sử
dụng đất. Đây là một yêu cầu bắt buộc phải thực hiện đối với mọi đối tượng
sử dụng đất trong các trường hợp như: đang sử dụng đất chưa đăng ký, mới
được nhà nước giao đất, cho thuê đất, thay đổi mục đích sử dụng đất, chuyển
quyền sử dụng đất hoặc thay đổi những nội dung quyền sử dụng đất đã đăng
ký. Chúng ta phải thực hiện việc đăng ký và cấp giấy chứng nhận bởi vì:
- Giấy chứng nhận là cơ sở để bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân đối với
đất đai
Bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai thực chất là bảo vệ lợi
ích hợp pháp của người sử dụng đất, đồng thời giám sát họ thực hiện những
nghĩa vụ khi sử dụng đât theo đúng pháp luật nhằm đảm bảo sự công bằng
giữa các lợi ích trong việc sử dụng đất.
Thông qua việc đăng ký và cấp giấy chứng nhận, cho phép xác lập một
sự rang buộc về trách nhiệm pháp lý giữa cơ quan Nhà nước và người sử
dụng đất trong việc chấp hành luật đất đai. Đồng thời, việc đăng ký và cấp
giấy chứng nhận sẽ cung cấp thông tin đầy đủ nhất và làm cơ sở pháp lý để
Nhà nước xác định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được Nhà nước
bảo vệ khi xảy ra tranh chấp, xâm phạm...đất đai.
- Giấy chứng nhận là điều kiện bảo đảm Nhà nước quản lý chặt chẽ
toàn bộ quỹ đất trong phạm vi lãnh thổ, đảm bảo cho đất đai được sử dụng
đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao nhất.
8



Việc xấy dựng các vắn bản pháp quy về quản lý, sử dụng đất phải dựa
trên thực tế của các hoạt động quản lý sử dụng đất, trong đó việc cấp giấy
chứng nhận là một cơ sở quan trọng.Ngược lại, các văn bản pháp quy lại là cơ
sở pháp lý cho việc cấp giấy chứng nhận đúng thủ tục, đúng đôi tượng, đúng
quyền và nghĩa vụ sử dụng đất. Đối với công tác điều tra đo đạc: kết quả điều
tra đo đạc là cơ sở khoa học cho việc xác định vị trí, hình thể, kích thước, diện
tích, loại đất và tên chủ sử dụng thực tế để phục vụ yêu cầu tổ chức cấp giấy
chứng nhận.
Đối với công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất: trước hết kết quả
của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động gián tiếp đến công tác cấp
giấy chứng nhận thông qua việc giao đất. Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
chính là căn cứ cho việc giao đất, mặt khác quy hoạch và kế hoạch sử dụng
đất cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc cấp giấy chứng nhận vì nó cung cấp
thông tin cho việc xác minh những mảnh đất có nguồn gốc không rõ ràng.
Công tác giao đất, cho thuê đất: quyết định giao đất, cho thuê đất của
Chính phủ hoặc UBND các cấp có thẩm quyền là cơ sở pháp lý cao nhất để
xác định quyền hợp pháp của người sử dụng đất khi đăng ký.
Công tác phân hạng đất và định giá đất: dựa trên kết quả phân hạng và
định giá đất để xác định trách nhiệm tài chính của người sử dụng đất trước và
sau khi đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời nó là cơ
sở để xác định trách nhiệm của người sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất
của họ.
Đối với công tác thanh tra, giải quyết tranh chấp đất đai: nó giúp việc
xác định đúng đối tượng được đăng ký, xử lý triệt để những tồn tại do lịch sử
để lại, tránh được tình trạng sử dụng đất ngoài sự quản lý của nhà nước.

10



- Nghị định số 84/2007/NĐ - CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy
định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận, thu hồi đất, thực hiện quyền sử
dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
- Thông tư số 23/2014/TT - BTNMT ngày 19/5/2004 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường ban hành quy định về cấp giấy chứng nhận QSD đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.
1.2.2. Một số quy định hiện hành về đăng ký đất đai, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất.
1.2.2.1. Nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Cấp giấy chứng nhận là bước xác lập mối quan hệ pháp lý chặt chẽ, đầy
đủ giữa Nhà nước và người sử dụng đất, từ đó, người sử dụng đất được thực
hiện tốt nhất các quyền và lợi ích tối đa của mình được pháp luật cho phép.
Cấp GCN lần đầu được thực hiện đối với đất đai trên phạm vi cả nước và
được thực hiện từ cơ sở cấp xã, phường, thị trấn.
Khi người sử dụng đất hoàn tất việc kê khai đăng ký đất đai ban đầu
theo đúng trình tự thủ tục pháp luật và được các cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền phê duyệt, người sử dụng đất sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm tổ chức việc đăng ký đất đai
cho người sử dụng đất, xét duyệt và chuẩn bị hồ sơ trình UBND cấp có thẩm
quyền cấp GCN đối với đất thuộc phạm vi quản lý của địa phương.
Văn phòng đăng ký nhà đất thuộc Phòng Tài nguyên và môi trường- là
cơ quan dịch vụ công có chức năng tổ chức thực hiện đăng ký sử dụng đất và

12



- Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy
định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật đất đai 2013
- Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật đất đai
2013 có hiệu lực thi hành;
- Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận
tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người
nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất
để thu hồi nợ;
- Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh
chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi
hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu
nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
- Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;
- Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế
xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;
- Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;
- Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở;
người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
- Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc
các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp
nhất quyền sử dụng đất hiện có;
- Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị
mất.

14


1.2.2.3. Điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ
cấp cho người sử dụng đất;
g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo
quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ
quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm
theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên
quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ
tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có
tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định
của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản
công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại,
tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải
thực hiện theo quy định của pháp luật.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê
đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa
được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ
tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu,
am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của
Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có
đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.


17


2. Phần diện tích đất mà tổ chức đang sử dụng nhưng không được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất được giải quyết như sau:
a) Nhà nước thu hồi phần diện tích đất không sử dụng, sử dụng không
đúng mục đích, cho mượn, cho thuê trái pháp luật, diện tích đất để bị lấn, bị
chiếm;
b) Tổ chức phải bàn giao phần diện tích đã sử dụng làm đất ở cho Ủy ban
nhân dân cấp huyện để quản lý; trường hợp đất ở phù hợp với quy hoạch sử dụng
đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì người sử dụng đất ở
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất; trường hợp doanh nghiệp nhà nước sản xuất nông nghiệp, lâm
nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối đã được Nhà nước giao đất mà doanh nghiệp
đó cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng một phần quỹ đất làm đất ở trước ngày 01
tháng 7 năm 2004 thì phải lập phương án bố trí lại diện tích đất ở thành khu dân cư
trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất phê duyệt trước khi bàn giao cho địa
phương quản lý.

3. Đối với tổ chức đang sử dụng đất thuộc trường hợp Nhà nước cho
thuê đất quy định tại Điều 56 của Luật này thì cơ quan quản lý đất đai cấp
tỉnh làm thủ tục ký hợp đồng thuê đất trước khi cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
4. Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi có đủ các điều kiện sau
đây:

a) Được Nhà nước cho phép hoạt động;

chấp đất đai được UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công nhận;
có quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc chia tách hoặc sáp
nhập tổ chức; có văn bản về việc chia tách hoặc sáp nhập tổ chức kinh tế phù
hợp với pháp luật; có thỏa thuận về xử lý quyền sử dụng đất đã thế chấp bảo
19


lãnh để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật; có quyết định hành chính về
giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai, có bản án hoặc
quyết định của toà án nhân dân, quyết định của cơ quan thi hành án đã được
thi hành.
+ Người sử dụng đất thực hiện đăng ký biến động về sử dụng đất khi
hợp thửa, tách thửa mà thửa đất trước khi hợp thửa, tách thửa đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
+ Người sử dụng đất được cấp lại hoặc cấp đổi giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
+ Cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các loại giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp theo pháp luật về đất đai trước ngày 01
tháng 7 năm 2004.
1.3. Cơ sở thực tiễn của việc đăng ký, cấp giất chứng nhận
1.3.1. Tình hình đăng ký, cấp giấy chứng nhận trên thế giới
Trên thế giới có rất nhiều quốc gia và ở mỗi quốc gia có một hình thức sở
hữu đất đai và các quan hệ đất đai riêng. Điều đó phụ thuộc vào bản chất của
từng Nhà nước và lợi ích của giai cấp thống trị của quốc gia đó. Chúng ta có
thể tham khảo một số nước sau:
a)

Mỹ:
Mỹ là một quốc gia phát triển, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
thống nhất quản lý. Đến nay, Mỹ đã hoàn thành việc cấp GCN và hoàn thiện

-

Đối với các chủ sử dụng đất hợp pháp và mảnh đất không có tranh chấp thì

-

được cấp bìa đỏ.
Đối với các chủ sử dụng mảnh đất có nguồn gốc chưa rõ rang, cần xác minh

-

lại thì được cấp bìa xanh.
Đối với các chủ sử dụng mảnh đất không có giấy tờ thì được cấp bìa vàng.
Tuy nhiên sau đó, những người có thẩm quyền sẽ xem xét tất cả các
trường hợp sổ bìa xanh, nếu xác minh mảnh đất được rõ rang, họ sẽ chuyển
sang cấp bìa đỏ. Đối với trường hợp bìa vàng thì Nhà nước sẽ xem xét các
quyết định xử lý cho phù hợp và nếu hợp pháp sẽ chuyển sang cấp bìa đỏ.

d)

Australia:
Australia là một đất nước rộng lớn, bốn bề là biển, tỷ lệ diện tích trên đầu
người cao, 90% quỹ đất tự nhiên là do tư nhân sở hữu. Khi Nhà nước muốn
sử dụng thì họ phải tiến hành làm hợp đồng thuê đất của tư nhân. Để quản lý
21


tài nguyên đất, Australia đã tiến hành cấp GCN và tiến hành hoàn thiện hệ
thống thông tin đất. Vì vậy, các giao dịch về đất đai rất thuận tiện, quản lý đất
đai rất nhanh chóng.

thực hiện trình tự thủ tục có sự thay đổi thuận lợi cho người sử dụng đất,
người sở hữu tài sản. Thời gian cấp GCN lần đầu giảm từ 55 ngày xuống còn
50 ngày, cấp đổi GCN giảm từ 28 ngày xuống còn không quá 20 ngày.
Kết quả thực hiện việc cấp giấy chứng nhận trước Luật Đất đai 2003
Trong thời kỳ này, nước ta còn hạn chế tiếp cận tới khoa học công
nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, do đó mà công tác lưu trữ hồ sơ, lập hồ
sơ địa chính hầu như được thực hiện một cách thủ công trên giấy.
Việc cấp giấy chứng nhận được thực hiện từ năm 1990 theo quy định
tại Luật Đất đai năm 1998 và Quyết định số 201/QĐ-ĐKTK ngày 14/07/1989
của Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) về
việc cấp giấy chứng nhận. Trong những năm trước Luật Đất đai năm 1993,
kết quả cấp giấy chứng nhận đạt được chưa đáng kể, phần lớn các địa phương
mới triển khai thí điểm hoặc thực hiện cấp giấy chứng nhận tạm thời cho hộ
gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp.
Sau khi có Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số Điều
của Luật Đất đai năm 1998 và năm 2001, Tổng cục Địa chính đã ban hành
nhiều văn bản đất đai hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận
thì việc cấp giấy chứng nhận được các địa phương coi trọng và triển khai
mạnh, song do còn nhiều khó khăn về các điều kiện thực hiện (chủ yếu là
thiếu về kinh phí, lực lượng chuyên môn yếu và thiếu về năng lực) và còn
nhiều vướng mắc trong các quy định về cấp giấy chứng nhận nên tiến độ cấp
giấy chứng nhận còn chậm.
Kết quả cấp giấy chứng nhận các loại đất của cả nước đến hết năm
2004 như sau:
23


- Đất sản xuất nông nghiệp cấp được 12.194.911 GCN với diện tích
7.011.454 ha, đạt 75% diện tích cần cấp;
- Đất lâm nghiệp cấp được 764.449 GCN với diện tích 5.408.182 ha,

của Luật nhà ở.
- Đất chuyên dùng cấp được 159.583 GCN với diện tích 475.498 ha,
đạt 62,8% diện tích cần cấp.
- Đất tôn giáo, tín ngưỡng cấp được 19.148 GCN với diện tích 10.873
ha, đạt 83,4% diện tích cần cấp.
Nhìn chung, việc cấp giấy chứng nhận đã thực hiện theo đúng quy định
của pháp luật về đất đai, đã thực hiện được cải cách hành chính trong nhiều
khâu, đặc biệt là nhiều địa phương đã có kinh nghiệm để đơn giản hóa thủ tục,
rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận. Có được kết quả này là do: Nhà nước
đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật; thực hiện chính sách
một cửa; công tác cấp giấy chứng nhận gắn với lợi ích thiết thực của người
dân.
1.3.3. Tình hình đăng ký, cấp GCN trên địa bàn thành phố Hà Nội
Hà Nội nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng. Sau đợt mở rộng
địa giới hành chính vào tháng 08/2008, thành phố Hà Nội gồm 10 quận, 18
huyện và một thị xã với 154 phường, 401 xã và 22 thị trấn. Tổng diện tích tự
nhiên là 334.460,22ha (số liệu thống kê kiểm kê năm 2013), mật độ dân số
trung bình 1.979 người/km2. Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa, lên
tới 35.341 người/km2, trong khi đó ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn,
Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ dân số dưới 1.000 người/km2.
Công tác cấp GCN quyền sử dụng đất được xác định là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm của thành phố Hà Nội, nhằm quản lý đến từng
thửa đất, từng chủ sử dụng đất, tạo điều kiện để người sử dụng đất thực hiện
quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, từng bước hình thành và
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status