MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là cơ sở không gian
của mọi quá trình sản xuất, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, là thành
phần quan trọng nhất của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây
dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại chương II
Điều 18 quy định “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật
đảm bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả”. Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998, năm 2001 (Điều 13) đều quy định: “Quy
hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất” là 1 trong 7 nội dung quản lý Nhà nước về
đất đai. Luật Đất đai năm 2013 một lần nữa khẳng định rõ nội dung lập điều chỉnh quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai theo ngành, theo cấp lãnh thổ hành chính và được cụ
thể hóa tại Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 06 năm 2014 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất.
Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
nhằm định hướng cho các cấp, các ngành lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết trên địa
bàn lãnh thổ; là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm căn cứ
cho việc giao đất, cho thuê đất... và đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Đồng thời việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một biện pháp hữu hiệu của
Nhà nước nhằm hạn chế việc sử dụng đất chồng chéo, lãng phí, kém hiệu quả, ngăn
Tiến hành điều tra, khảo sát thực địa để so sánh, đối chiếu, chỉnh lý, bổ sung
với tài liệu đã thu thập trong quá trình điều tra nhằm có được những thông tin xác
thực nhất, từ đó biên tập bản đồ hiện trạng sử dụng đất đai phục vụ cho công tác xây
dựng phương án quy hoạch.
6
2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu
Phân tích các tài liệu, số liệu đã có trên địa bàn tỉnh; quy hoạch của các
ngành đã và đang được xây dựng có liên quan đến việc sử dụng đất đai để rút ra quy
luật phát triển, biến động đất đai.
2.3.4. Phương pháp xây dựng bản đồ
Tất cả nhu cầu sử dụng đất của các ngành được thể hiện trên bản đồ quy
hoạch sử dụng đất, bản đồ này được chồng ghép từ các loại bản đồ chuyên đề khác
để trên cơ sở đó phát hiện chồng lấn và những bất hợp lý nhằm xử lý loại bỏ các
chồng lấn và bất hợp lý đó.
2.3.5. Phương pháp dự báo
Dự báo nhu cầu đất đai của các ngành đến năm 2020.
7
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Xã Trung Hưng nằm phía Nam huyện Yên Mỹ, cách trung tâm huyện
khoàng 3 km, có địa giới hành chính tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp :
c. Khí hậu
Xã Trung Hưng thuộc vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của
chế độ gió mùa. Gió mùa Đông Bắc thổi vể mùa lạnh và gió mùa Đông Nam thổi về
mùa nóng. Thời tiết trong năm chia làm 4 mùa rõ rệt :
Mùa Xuân: Từ tháng 2 đến tháng 4 có nhiêt độ trung bình từ 20 – 25 oC, thời
8
tiết mát mẻ, khí hậu ôn hòa
Mùa Hạ: Từ tháng 5 đến tháng 7 có nhiệt độ trung bình từ 26 – 28oC, thời tiết
nóng ẩm và mưa nhiều
Mùa Thu: Từ tháng 7 đến tháng 10 có nhiệt độ trung bình từ 20 – 24 oC, thời
tiết mát mẻ.
Mùa Đông: Từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, có nhiệt độ trung bình hàng
năm từ 16 - 24 oC, thời tiết lạnh thường có những đợt rét đậm, đôi khi có sương
muối, hanh khô, ít mưa, thường là mưa phùn ảnh hưởng tới sản xuất.
Nhiệt độ trung bình năm là 23,2 0C, nhiệt độ trung bình cao nhất từ 35 0C 370C tập trung từ tháng 6 đến tháng 8. Nhiệt độ trung bình thấp nhất có năm xuống
dưới 100C (tháng 12 năm trước đến tháng 1 năm sau).
Số giờ nắng trung bình trong năm là 1520giờ/năm thuộc loại tương đối cao đủ
cho khả năng canh tác trong năm.
- Lượng mưa trung bình hàng năm: 1450 – 1650mm. Mưa tập trung từ tháng 5
đến tháng 9, nhiều nhất là tháng 7 - tháng 8, lượng mưa chiếm tới 78,4% tổng lượng
mưa cả năm.
Bão lụt thường xảy vào tháng 7 đến tháng 10 trong năm, mỗi năm có khoảng
4-6 cơn bão ảnh hưởng khu vực Miền Bắc, thường kéo theo mưa lớn nên thường
xuyên gây ngập úng ảnh hưởng lớn tới sản xuất vụ mùa, ảnh hưởng tới sinh hoạt của
nhân dân.
Độ ẩm không khí bình quân trong năm là 75- 84%, tháng có độ ẩm cao nhất
là tháng 2,3 đôi khi tới 92%, tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 6 có khi chỉ đạt 60%.
yếu là nguồn nước từ Sông Bắc Hưng Hải, đây là điều kiện rất thuận lợi không chỉ
cho sản xuất nông nghiệp mà còn cho phục vụ phát triển dịch vụ vận tải thủy. Ngoài
ra, còn có nguồn nước trữ lại trong các hệ thống kênh mương, ao hồ, đầm rải rác trong
xã vừa để chứa nước và thả cá là điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản.
* Nguồn nước ngầm
Xã Trung Hưng thuộc vùng có nước mạch nông, độ sâu 1,8 -2,5 m vào mùa
mưa và 6 - 7 m vào mùa khô. Mực nước mạch nông ổn định ở độ sâu 5 – 5,8 m, áp
lực yếu không ảnh hưởng đến xây dựng công trình. Nguồn nước ngầm khá phong
phú, có ở độ sâu trên 8m. Chất lượng nước ngầm nhìn chung khá tốt, đang được
khai thác phục vụ sinh hoạt cho nhân dân qua hình thức giếng khoan của các gia
đình có độ sâu từ 30-55m, chất lượng nước ngầm tương đối đảm bảo, thuộc loại
nước nhạt nhưng hàm lượng sắt trong nước khá cao, phải xử lý trước khi sử dụng.
10
Trên địa bàn xã có điểm quan trắc nước của Bộ Tài nguyên- Môi trường theo dõi
mực nước ngầm của khu vực phía Đông Nam thành phố Hà Nội.
* Hiện trạng môi trường không khí
Môi trường không khí trên địa bàn xã chịu ảnh hưởng của các hoạt động sản
xuất tiểu thủ công nghiệp của các hộ gia đình, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn xã.
Thành phần các khí thải chủ yếu là SO2, NO, CO2, CO bụi và tiếng ồn. Ngoài các cơ
sở sản xuất việc sử dụng nhiên liệu thân, củi đốt trong sinh hoạt hàng ngày cũng là
một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí. Đồng thời các phương
tiện tham gia giao thông còn phát ra lượng lớn tiếng ồn nhất định làm ảnh hưởng
đến đời sống dân cư ở gần các trục giao thông đây cũng là nguyên nhân rất đáng kể
làm ô nhiễm môi trường không khí ở xã Trung Hưng.
* Môi trường nước mặt
Theo kết quả quan trắc nước của ngành chức năng từ năm 2010-2015 cho
thấy ô nhiễm nước mặt trong hệ thống sông Bắc Hưng Hải tăng lên hàng năm cả về
phạm vi và mức độ đặc biệt là ô nhiễm chất hữu cơ, nitrit, amoni và vi sinh vật. Ô
Năm
Năm
2011
23,04
2012
22,67
2013
20,12
2014
18,47
2015
17,53
40,02
36,94
41,12
36,27
42,23
37,65
42,86
năm 2015.
Tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 39,82% năm 2010 lên
43,28% năm 2015 ( trong giai đoạn tới nganh công nghiệp và xây dựng được xác
-
định là ngành phát triển chủ lực của xã, là nền tảng cho sự phát triển).
Tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 35,9% năm 2010 lên 39,19% năm 2015.
Nhìn chung, trong vòng 5 năm từ năm 2010-2015 xã Trung Hưng – huyện
Yên Mỹ - tỉnh Hưng Yên đã có những bước thay đổi đáng kể về cơ cấu ngành và
đang từng bước xây dựng, điều chỉnh sự phát triển các ngành phù hợp với quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
b. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
* Khu vực kinh tế nông nghiệp
Giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp tăng từ 43,55 tỷ đổng năm 2010 lên
51,75 tỷ đồng năm 2015. Trong sản xuất nông lâm nghiệp đã thực hiện chuyển dịch
cơ cấu cây trồng vật nuôi nhằm phát huy tốt nhất những lợi thế của địa phương.
12
*Khu vực kinh tế công nghiệp
Ngành công nghiệp của xã đang phát triển và ngày càng đa dạng sản phầm
góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho nhân dân. Tổng giá trị sản xuất
công nghiệp trên địa bàn 71,46 tỷ đồng. Trong đó, công nghiệp chế biến đạt 24,52
tỷ đổng, các loại sản phẩm công nghiệp khác như hàn tiện, chi tiết máy cho ô tô, chế
biến lương thực , thực phẩm, đồ uống được duy trì và tăng so với cùng kỳ những
năm trước.
Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp khá nhanh. Trong thời gian tới,
động.
Thu nhập và mức sống: Năm 2015 bình quân thu nhập đầu người của xã ước
đạt 10,6 triệu đồng/người/năm. Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm xuống còn
97 hộ chiếm 4,15% số hộ trên toàn xã.
3.1.5. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
a. Thực trạng phát triển giao thông
Hiện trạng hệ thống giao thông trên địa bàn xã gồm:
- Quốc lộ 39A có chiều dài 1,52 km, có kết cấu bê tông nhựa, độ rộng mặt
đường 11,5 m từ thị trấn Yên Mỹ đến xã Minh Châu.
- Đường do huyện quản lý 39A cũ nối từ QL39A tới thị trấn Yên Mỹ có
chiều dài 1,1km, mặt đường tráng nhựa có độ rộng là 5,5m.
- Đường liên xã dài 2,5 km có độ rộng nền đường: 7 m, mặt đường 3,5m đã
được bê tông 0,7 km và 1,8 km nhựa.
+ Đường trục thôn xóm dài 7,92 km, đã được cứng hóa được 6 km; trong đó
0,8 km đạt độ rộng từ 3,5- 6 m.
+ Đường ngõ, xóm: Tổng số 10,2 km, đã cứng hóa 8,61 km, chủ yếu là
đường có độ rộng 2-3 m.
+ Đường trục chính nội đồng: Tổng số 7,62 km trong đó cứng hóa được 1,46
km còn lại là đường đất.
+ Trên địa bàn xã có cầu Lực điền nằm trên đường QL39A nối giữa hai xã
Trung Hưng và Minh Châu, có trọng tải 32 tấn đã sử dụng lâu, hiện nay quá trọng
tải bị xuống cấp nghiêm trọng, có 4 cống qua đường QL39A, 1 cống qua đường
196, đường liên xã có 3 cống đã đảm bảo tiêu thoát nước khu dân cư.
b. Hệ thống thủy lợi
+ Hệ thống trạm bơm của xã quản lý 7 trạm làm nhiệm vụ tưới, tiêu với tổng
công suất 6.700 m3/h, đã đảm bảo tưới, tiêu chủ động cho 100% diện tích. Hiện nay
máy bơm đã xuống cấp, cần phải đầu tư nâng cấp trạm bơm.
14
của xã có nguy cơ bị ô nhiễm cao do nước thải của các công ty đóng trên địa bàn xã.
15
Lượng rác thải sinh hoạt bình quân 2 tấn/ngày đã được thu gom theo quy định. Năm
2015, số hộ gia đình đạt chuẩn vệ sinh về nước sạch có 1957 bể nước, nhà tắm
trong đó có 1840 bể đạt tiêu chuẩn hợp vệ sinh. Hộ có 3 công trình đạt tiêu chuẩn
vệ sinh. Trên địa bàn xã có 36 hộ xây dựng hầm bioga xử lý chất thải chăn nuôi.
e. Hệ thống công trình bưu chính viễn thông
Trên địa bàn xã đều đã phủ sóng phát thanh, truyền hình. Hệ thống mạng
cung cấp dịch vụ viễn thông di động cũng khá phong phú, chủ yếu là hệ thống mạng
viễn thông của Viettel, Mobiphone, Vinaphone,... góp phần không nhỏ trong việc
thông tin liên lạc, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng.
Xã có 1 điểm bưu điện văn hóa có diện tích 300 m2, có vị trí tại thôn Trung
Đạo, đã đảm bảo cho việc thực hiện các giao dịch trong lĩnh vực bưu chính và viễn
thông. Điểm bưu điện văn hóa xã đã được kết nối Internet; Tổng chiều dài tuyến
cáp quang ngầm là 2,5 km, chiều dài tuyến dây cáp trên không là 6 km.Dịch vụ
internet đến trung tâm xã và các thôn đã đảm bảo phục vụ tốt cho nhu cầu của nhân
dân.
Số máy điện thoại cố định là 850.
Nhìn chung, mạng lưới thông tin viễn thông và bưu chính trong thời gian
qua phát triển khá mạnh và tiềm năng này trong tương lai còn rất lớn. Do đó xã cần
có những biện pháp đồng bộ vừa có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất, thông tin liên lạc
của người dân, vừa kích cầu tạo doanh thu và phù hợp với thực tế phát triển.
f. Văn hóa, thể dục thể thao
Công tác tuyên truyền giáo dục toàn dân tham gia xây dựng nếp sống văn
minh, tổ chức sâu rộng dưới nhiều hình thức. Các thôn đều xây dựng quy ước,
hương ước trong thôn xóm. Xã có 4/4 thôn đạt danh hiệu thôn văn hóa, 1.748 hộ đạt
danh hiệu gia đình văn hóa.
Xã Trung Hưng có 01 di tích Đình văn hóa nghệ thuật cấp quốc gia, 2 đình
- Sân bãi tập: 2265 m2 bình quân 7,3 m2/ học sinh
- Công trình: 01 dãy nhà 2 tầng kiên cố với 9 phòng học, trên tổng số lớp là
9 đã đủ phòng học cho 100% số lớp học 2 buổi/ ngày
- Nhà làm việc hiệu bộ 75 m 2 đã xây dựng từ những năm 1996 nay đã bị
xuống cấp, nhà làm việc và công trình phụ khác có diện tích 726 m2
- Tổng số học sinh 308 em, quy mô lớp học: 35 học sinh/ lớp.
- Bán kính phục vụ
dạy nghề nâng cao tay nghề cho người dân.
Hạ tầng cơ sở nhất là mạng lưới giao thông, điện, bưu chính viễn thông phát
triển, đóng vai trò quan trọng tạo mối liên kết để phát triển kinh tế bền vững.
Lực lượng lao động dồi dào là nguồn lực quan trọng trong sự phát triển kinh
tế xã hội trong thời gian tới.
b. Khó khăn
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật tuy đã được cải thiện đáng kể song phần lớn các cơ sở
hạ tầng có công trình như đường giao thông, thủy lợi và các công trình công cộng
khác bị thiếu và xuống cấp nghiêm trọng. Về môi trường bị ô nhiễm chưa được kịp
thời xử lý. Hình thức sản xuất còn nghèo nàn. Tỷ trọng nông nghiệp còn cao, giá trị
hàng hóa thấp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn chậm.
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch nhưng diễn ra chậm. Tỷ trọng ngành nông
nghiệp còn cao và đang giữ vai trò chủ đạo. Sản xuất nông nghiệp còn mang tính tự
cung, tự cấp chưa mang tính hàng hoá.
19
Tỷ trọng ngành công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp mặc dù tăng lên hàng năm
nhưng vẫn còn ở mức thấp, trong khi đó khu vực thương mại - dịch vụ vẫn chủ yếu
tập trung vào hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng, thu gom rác thải dịch vụ ăn uống,..
Để khắc phục những tồn tại trên, trong giai đoạn tới cần có nỗ lực, quan tâm
nhiều hơn nữa của của các chính quyền địa phương trong quá trình phát triển kinh
tế- xã hội. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế chuyển dịch mạnh và tăng nhanh
tỷ trọng công nghiệp dịch vụ; tăng cường cơ sở hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật
từng bước nâng cao điều kiện sống của người dân…Đây là yếu tố sẽ có tác động rất
lớn đối với quỹ đất đai trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của xã.
3.2. Tình hình quản lý đất đai
3.2.1. Phân tích, đánh giá việc thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai của
kỳ trước năm quy hoạch sử dụng đất
a. Công tác tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý,
cấu sử dụng đất góp phần đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, đáp
ứng nhu cầu sử dụng đất và tạo điều kiện phát triển nhanh các thành phần kinh tế.
Thực hiện Chỉ thị 10/CT-TTg năm 1998 của Chính phủ xã đã phối hợp với
phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Yên Mỹ tiến hành rà soát và xây dựng
phương án quy hoạch sử dụng đất phục vụ cho giao đất, cấp giấy Chứng nhận
quyền sư dụng đất. Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai được thực
hiện theo qui định. Các kết quả trên góp phần tích cực trong việc tăng cường công
tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn xã.
e. Tình hình giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
- Thực hiện chỉ thị 10 – 1998/CT – TTg của Thủ tướng Chính phủ, xã đã
phối hợp với phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Yên Mỹ tiến hành giao đất,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho các hộ gia đình.
Công tác giao đất trong những năm qua được thực hiện khá tốt. Công tác
giao đất theo Nghị định 64/CP và 163/CP đã được triển khai trên địa bàn xã.
Việc cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất được thực hiện
theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên việc thống kê chính xác diện tích đất trên địa bàn xã, đặc biệt là
diện tích đất nương rất khó khăn do chưa được đo đạc lập bản đồ địa chính. Công
tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa đạt hiệu quả cao và chưa cấp theo
đúng diện tích thực tế của các hộ gia đình (đặc biệt là đất nương rẫy trồng cây
21
hàng năm khác tại các khu vực có độ dốc lớn). Do đó vẫn còn xảy ra tranh chấp đất
đai giữa các hộ gia đình trên địa bàn xã.
f. Tình hình tranh chấp, khiếu nại tố cáo về sử dụng đất vá kết quả xử lý
Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại tố cáo và xử lý những vi phạm về
quản lý, sử dụng đất đai trong mấy năm gần đây đã được quan tâm, thực hiện thường
xuyên. Xã đã tập trung giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; xử lý kịp
Trong những năm qua xã đã cố gắng, quan tâm, bảo đảm thực hiện ngày
càng đầy đủ và tốt hơn các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Các cấp uỷ
Đảng, chính quyền thường xuyên quan tâm chỉ đạo và thực hiện nghiêm túc các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để triển khai ở địa phương, đảm bảo mọi
quyền lợi hợp pháp của người dân, đồng thời cũng động viên và huy động được
nhân dân tham gia đóng góp nghĩa vụ với Nhà nước bằng việc thực hiện tốt các
chính sách thuế.
k. Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp
luật về đất đai và sử lý vi phạm pháp luật về đất đai
Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành, xử lý các vi phạm pháp luật về
đất đai trên địa bàn xã trong những năm qua được tiến hành thường xuyên và đạt
được nhiều kết quả tốt, nhằm giúp phát hiện và giải quyết các vi phạm pháp luật về
đất đai.
l. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi
phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai
Công tác giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm
trong quản lý và sử dụng đất đai được duy trì thường xuyên và thực hiện theo đúng quy
định của pháp luật. Công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật cho dân đã cố gắng hơn
bằng các hình thức như qua loa phóng thanh, họp lồng ghép ở các tổ dân cư... Tuy nhiên
việc phổ biến tuyên truyền chủ trương, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước đến
với nhân dân còn hạn chế về mặt chất lượng, việc giải quyết đơn thư của dân vẫn còn
chậm chễ, một số trường hợp do cán bộ phụ trách giải quyết chưa tập trung và triệt để
nên chưa thoả mãn được nguyện vọng của người dân, gây nhiều vụ việc kéo dài. Đến
nay thị trấn đã đưa vào hoạt động cơ chế hành chính “Một cửa” bước đầu có hiệu quả,
làm giảm bớt phiền hà cho dân.
23
m. Công tác quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.
NNP
Cơ
cấu
(%)
212,08 100,00
SXN
CH
199,55
187,74
MÃ
Đất nông nghiệp
Diện
tích (ha)
Trong đó:
1.1
1.1.1
Đất sản xuất nông nghiệp
Đất trồng cây hằng năm
24
91,10
Đất trồng cây hằng năm khác
HNK
12,93
6,10
Đất trồng cây lâu năm
CLN
11,81
5,57
1.3
Đất rừng phòng hộ
RPH
1.4
Đất rừng đặc dụng
RDD
1.5
Theo số liệu kiểm kê năm 2015, diện tích đất phi nông nghiệp của xã là 129,18 ha,
chiếm 37,84% tổng diện tích đất tự nhiên. Hiện trạng sử dụng và cơ cấu các loại đất chính
trong đất phi nông nghiệp được thể hiện như sau:
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp
STT
CHỈ TIÊU
MÃ
Diện tích
Cơ cấu
(%)
100,00
29,33
2
Đất phi nông nghiệp
PNN
(ha)
129,18
2.1
Đất ở