Nâng cao chất lượng dịch vụ khám và điều trị tại khoa Răng hàm mặt, bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016 - 2020 - Pdf 36

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
-----------------------------------------------------

LƯỜNG TIẾN HÙNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA RĂNG HÀM MẶT,
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH YÊN BÁI
GIAI ĐOẠN 2016 - 2020

ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


HÀ NỘI, NĂM 2016


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
-----------------------------------------------------

ĐỀ ÁN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA RĂNG HÀM MẶT,
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH YÊN BÁI
GIAI ĐOẠN 2016 - 2020

Người thực hiện: LƯỜNG TIẾN HÙNG
Lớp: Cao cấp lý luận chính trị B9 - 15
Chức vụ: Trưởng khoa Răng hàm mặt
Đơn vị công tác: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái

CBVC
KCB
YTTN
WHO
YTTB
NVYTTB
DSĐH

Bảo hiểm y tế
Cán bộ viên chức
Khám chữa bệnh
Y tế tư nhân
Tổ chức Y tế thế giới
Y tế thôn bản
Nhân viên y tế thôn bản
Dược sỹ đại học


MỤC LỤC


1

A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề án
Trải qua 30 năm đổi mới nước ta đã căn bản thoát nghèo, đói, trở thành một
nước có mức thu nhập trung bình so với các nước trong khu vực và trên thế giới,
đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, chất lượng cuộc sống được
nâng lên rõ rệt. Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, Việt Nam đang là
thành viên tích cực và có trách nhiệm đối với các tổ chức Quốc tế, Việt Nam ngày

kinh tế chưa phát triển, vùng cao tự cung tự cấp là chủ yếu, vẫn tồn tại hiện
tượng du canh du cư. Trình độ văn hoá không đồng đều, trong đó tại vùng cao
tỷ lệ mù chữ cao. Hậu quả của trình độ văn hoá thấp là thiếu nguồn để đào tạo
đội ngũ cán bộ y tế. Phong tục tập quán còn lạc hậu, các tệ nạn xã hội như mê
tín dị đoan vẫn tồn tại. Trong khi đó, đầu tư kinh phí của nhà nước cho công
tác chăm sóc sức khỏe còn rất thấp, chỉ đạt 60% nhu cầu. Toàn cầu hoá và hội
nhập có nhiều thuận lợi như thu hút đầu tư, song cũng phát sinh các yếu tố
nguy cơ, ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội gia tăng, tăng dân số dẫn tới
nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng cao.
Tình trạng sức khỏe nhân dân trong những năm gần đây đã được nâng
lên, nhiều bệnh được khống chế. Tuy nhiên mô hình bệnh tật diễn biến khá
phức tạp, đang ở giai đoạn chuyển đổi. Tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm, ký
sinh trùng, tai nạn, chấn thương, ngộ độc và bệnh lý răng miệng vẫn ở mức
cao…. Tỷ lệ mắc và tử vong do các bệnh không lây nhiễm (bệnh tim mạch,
ung thư, đái tháo đường và bệnh phổi mạn tính) có dấu hiệu gia tăng. Các
bệnh truyền nhiễm gây dịch vẫn diễn biến phức tạp, nguy cơ bùng phát các
bệnh dịch mới nổi, tái nổi. Tình hình dịch HIV/AIDS vẫn đang diễn biến
phức tạp và khó kiểm soát.
Môi trường còn bị ô nhiễm, vệ sinh an toàn thực phẩm khó kiểm soát.
Chính sách đãi ngộ, thu hút cán bộ y tế còn nhiều điểm chưa phù hợp, chưa


3

khuyến khích được cán bộ công tác tại các xã đặc biệt khó khăn, những lĩnh
vực đặc biệt độc hại. Nhiều cán bộ xin chuyển đi nơi khác hoặc sang ngành
khác sau khi kết thúc các chương trình học bổng đào tạo và được cấp bằng
thạc sỹ, chuyên khoa I, II. Phụ cấp nhân viên Y tế thôn bản (YTTB) quá thấp,
dẫn đến nhiều nơi có nguy cơ không có YTTB.
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái là bệnh viện đa khoa hạng II, hoạt

y tế sửa đổi, từ ngày 01/01/2016 sẽ thông tuyến bảo hiểm y tế tuyến xã, huyện
trong phạm vi tỉnh đã giúp cho người dân có thể dễ dàng tiếp cận các dịch vụ
y tế kĩ thuật cao tại các cơ sở y tế đồng thời thuận lợi trong việc lựa chọn các
cơ sở khám chữa bệnh, hạn chế được các thủ tục hành chính trong quá trình
thanh toán dịch vụ.
Thực hiện Nghị định 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ về cơ chế tự chủ
của đơn vị sự nghiệp công lập khi đó bệnh viện công sẽ tự bảo đảm toàn bộ
chi hoạt động thường xuyên hoặc chi đầu tư hoặc sẽ tự chủ chi trả toàn bộ,
Cùng với sự phát triển rầm rộ của các phòng khám Răng Hàm Mặt tư
nhân với nhiều chính sách ưu đãi về các gói dịch vụ y tế chăm sóc răng miệng
đã tạo ra môi trường cạnh tranh về thu dung người bệnh và khả năng cung cấp
các dịch vụ y tế giữa các đơn vị y tế công; giữa y tế công với y tế tư nhân.
Sự cạnh tranh đòi hỏi các cơ sở y tế phải đầu tư cơ sở hạ tầng và trang
thiết bị, đồng thời tích cực phát triển chuyên môn kĩ thuật, triển khai các kĩ
thuật mới vào khám và điều trị, nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh.
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn vấn đề : “Nâng cao chất lượng dịch
vụ khám và điều trị tại khoa Răng hàm mặt, bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên
Bái giai đoạn 2016 - 2020 ” làm đề án tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị.
2. Mục tiêu của đề án
2.1. Mục tiêu chung


5

Thực hiện Đề án “Nâng cao chất lượng dịch vụ khám và điều trị tại
Khoa Răng hàm mặt Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016-2020”
nhằm làm tốt công tác khám, tư vấn cho người bệnh từ đó nâng cao nhận thức
của người dân về sức khỏe răng miệng, xây dựng ý thức chăm sóc và bảo vệ
răng miệng đồng thời điều trị được các ca bệnh từ đơn giản đến phức tạp,
giảm thiểu tối đa lượng bệnh nhân phải chuyển lên tuyến trên. Tổ chức triển

1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khám bệnh: Là việc hỏi bệnh khai thác tiền sử bệnh, thăm
khám thực thể khi cần thiết, chỉ định các xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dỏ
chức năng để chẩn đoán và chỉ định các phương pháp điều trị phù hợp đã
được công nhận. (Trích Nghị quyết 51/2001/QH10 Quốc hội ban hành luật
khám bệnh chữa bệnh.)
1.1.1.2. Điều trị (chữa bệnh): Là việc sử dụng phương pháp chuyên
môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu
điều trị chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh. (Trích nghị quyết
51/2001/QH10 Quốc hội ban hành luật khám bệnh chữa bệnh).
1.1.1.3. Khám và điều trị bệnh nhân Răng hàm mặt: Bệnh lý Răng hàm
mặt được chia ra các nhóm: Bệnh tổ chức quanh răng (nha chu), bệnh tổ chức
cứng của răng (men, ngà răng), các loại khối u hàm mặt (u phần mềm, u
xương hàm mặt), chấn thương hàm mặt bao gồm vết thương hàm mặt có hoặc
không tổn thương xương hàm mặt, các dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt v.v.
Khám và điều trị bệnh răng hàm mặt là thông qua việc hỏi bệnh khai thác tiền
sử, bệnh sử kết hợp khám lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng để phát
hiện tất cả các tổn thương vùng hàm mặt, sau đó có kết luận bệnh và đưa ra
hướng điều trị.
1.1.1.4. Khái niệm dịch vụ và dịch vụ y tế


7

 Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung
cấp dịch vụ và khách hàng để đáp ứng một nhu cầu nào đó của người tiêu
dùng. Một dịch vụ chỉ tồn tại khi tạo ra được niềm tin và uy tín đối với
khách hàng. Dịch vụ ngày càng phát triển và đóng một vai trò ngày càng
quan trọng trong mỗi quốc gia, người ta gọi là ngành kinh tế mềm (Soft
Economics).


 Đặc điểm của dịch vụ y tế
- Tính chất vô hình của dịch vụ.
- Tính chất đúng thời điểm và không thể dự trữ.
- Phụ thuộc quá nhiều yếu tố.
- Khó khăn trong việc tiêu chuẩn hoá dịch vụ.
- Dịch vụ không thể tồn tại độc lập.
- Sự ảnh hưởng mật thiết của người tiêu dùng tới sự tồn tại của dịch vụ.
Tuy nhiên, dịch vụ y tế có một số đặc điểm riêng, đó là:
- Khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trước được.
- Là loại hàng hoá mà người sử dụng thường không tự mình lựa chọn
được mà chủ yếu do bên cung ứng quyết định.
- Là loại hàng hoá gắn liền với sức khoẻ, tính mạng con người nên khi bị
ốm, mặc dù không có tiền nhưng người ta vẫn phải mua.
- Dịch vụ y tế nhiều khi không bình đẳng trong mối quan hệ, đặc biệt
trong tình trạng cấp cứu.
- Bên cung cấp dịch vụ có thể là một tổ chức hay cũng có thể là một cá nhân.
 Đặc điểm của thị trường dịch vụ y tế
- Thị trường y tế không phải là thị trường tự do, giá cả dịch vụ do người
bán quyết định.
- Dịch vụ YTTN là một ngành dịch vụ có điều kiện, không có sự cạnh
tranh hoàn hảo.
- Tồn tại sự “bất đối xứng thông tin” giữa bên cung cấp và bên sử dụng
dịch vụ, dễ dẫn tới tình trạng đẩy cao chi phí y tế.
Thực tế người bệnh ít khi đánh giá được một cách chính xác chất lượng
dịch vụ khám chữa bệnh mặc dù họ có thể cảm nhận qua tiếp xúc với nhân
viên y tế, trang thiết bị, cơ sở vật chất của cơ sở y tế. Ví dụ: một người bệnh
được phẫu thuật để chữa bệnh không thể biết được “chất lượng” của cuộc mổ
như thế nào, ngoại trừ cảm giác đau sau mổ và nhìn thấy được vết mổ.



11

chịu, cảm xúc vui tươi, thanh thản, ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời, ở những
quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ động; ở khả năng chống lại những
quan niệm bi quan và lối sống không lành mạnh.
Sức khoẻ tinh thần là sự biểu hiện của nếp sống lành mạnh, văn minh
và có đạo đức. Cơ sở của sức mạnh tinh thần là sự thăng bằng và hài hoà
trong hoạt động tinh thần giữa lý trí và tình cảm.
+ Sức khoẻ xã hội: Sức khỏe xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong các
mối quan hệ chằng chịt, phức tạp giữa các thành viên: gia đình, nhà trường,
bạn bè, xóm làng, nơi công cộng, cơ quan... Nó thể hiện ở sự được tán thành
và chấp nhận của xã hội. Càng hoà nhập với mọi người, được mọi người đồng
cảm, yêu mến càng có sức khỏe xã hội tốt và ngược lại.
Cơ sở của sức khỏe xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền
lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những người khác; là
sự hoà nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội.
Thứ nhất, do sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn
xã hội. Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là một nhiệm vụ quan
trọng cấp thiết của toàn Đảng toàn dân nói chung và của cán bộ nhân viên ngành
Y tế nói riêng. Đảm bảo sức khỏe là trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng
đầu của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho lĩnh vực này chính là đầu tư phát triển xã
hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ Xã hội Xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, nhận thức người dân ngày càng cao theo xu hướng phát triển
của đời sống xã hội, người dân tiếp cận nhiều thông tin đại chúng, đời sống
nhân dân được nâng cao, nhiều bệnh mới xuất hiện và diễn biến phức tạp, nhu
cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng cao trong đó chăm sóc răng miệng là một
nhu cầu lớn của xã hội hiện đại nhằm đem lại một sức khoẻ toàn diện, tính
thẩm mĩ cao, tự tin trong giao tiếp và hoạt động xã hội…..

biệt là chất lượng chức năng của người bệnh ngày càng tăng.


13

+ Bệnh viện công lập chuyển dần từ miễn phí đến thu một phần hoặc
thu đủ phí dịch vụ y tế. Một số bệnh viện tiến tới tự chủ về tài chính và có
khuynh hướng tăng thu để đảm bảo ngân sách hoạt động, tuy nhiên vẫn cần
cân đối mức giá để vừa đáp ứng được vai trò là đơn vị sự nghiệp công phục
vụ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân vừa đảm bảo sức hút, tăng tính
cạnh tranh đối với các cơ sở y tế khác trong địa bàn và khu vực.
+ Cơ sở y tế tư nhân, bệnh viện tư ngày càng phát triển. Một số bệnh
nhân có điều kiện đi khám và điều trị bệnh ở các cơ sở y tế nước ngoài. Người
bệnh ngày càng có nhiều sự chọn lựa về dịch vụ y tế.
+ Bệnh viện công lập bắt đầu phải cạnh tranh với các loại hình dịch vụ
y tế khác. Trong khi nhu cầu của người bệnh và xã hội ngày càng phát triển,
ngành y tế vẫn chưa theo kịp sự phát triển này của xã hội, đặc biệt là việc
nâng cao chất lượng chức năng của dịch vụ y tế.
- Thứ năm, do yêu cầu về đạo đức của người cán bộ Y tế (Y đức). Sinh
thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm vấn đề đạo đức của
ngành y tế. Người đã dạy: “người cán bộ y tế không chỉ giỏi về chuyên môn
mà phải vững vàng về chính trị, yêu dân, yêu nước, đoàn kết nội bộ”. Trong
nhiều bài nói, bài viết và thư gửi người yêu cầu cán bộ y tế phải giỏi về
chuyên môn, muốn giỏi về chuyên môn phải luôn luôn học tập, nghiên cứu
tìm tòi sáng tạo trong nghề nghiệp và phải yêu nghề, nghề thầy thuốc là một
nghề đặc biệt vì nó liên quan trực tiếp đến sức khỏe, sinh mạng con người.
Trong thư gửi hội nghị cán bộ y tế ngày 27/2/1955, Người nhắc nhở “Người
bệnh phó thác tính mệnh nơi các cô, các chú, Chính phủ phó thác cho các cô
các chú việc chữa bệnh tật và sức khoẻ cho đồng bào. Đó là nhiệm vụ vẻ
vang, vì vậy, cán bộ phải thương yêu chăm sóc người bệnh như anh em ruột

cách mạng xã hội chủ nghĩa, ngay từ khi ra đời đến nay, Đảng cộng sản Việt
Nam luôn quan tâm chỉ đạo xây dựng nền y tế XHCN - nền y tế phục vụ nhân


15

dân lao động. Trong những điều kiện lịch sử cụ thể, công tác y tế đều hướng
tới mục tiêu xây dựng lực lượng y bác sỹ có trình độ cao, có lương tâm nghề
nghiệp và xây dụng cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân
dân. Những thành tựu mà ngành y tế đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng
là những đóng góp quan trọng đối với thắng lợi dân tộc trong sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Điều 61 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 đã nêu rõ: Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ. Nhà
nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí.
Điều 58 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
2013 khẳng định. Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm
sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách
ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền
núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
- Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về
"Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình
mới" nêu rõ: Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở cả về cơ sở vật chất,
trang thiết bị và cán bộ. Xây dựng và nâng cấp các bệnh viện, nhất là bệnh
viện đa khoa tuyến tỉnh và huyện để có đủ khả năng giải quyết một cách cơ
bản nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngay tại địa phương. Mở rộng hợp
tác tranh thủ sự giúp đỡ và đầu tư nguồn lực của các nước các tổ chức quốc
tế, tiếp thu các thành tựu về khoa học công nghệ và kinh nghiệm quản lý phục
vụ sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ nâng cao sức khỏe của nhân dân. Nghị quyết
cũng nêu rõ phải kiện toàn đội ngũ cán bộ y tế cả về số lượng, chất lượng và

chất trang thiết bị, con người, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ở
tất cả các tuyến trong lĩnh vực phòng bệnh, khám chữa bệnh phục hồi chức
năng, dịch vụ y tế kỹ thuật cao.


18

Thứ hai: Phát triển Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh thành bệnh viện mạnh
trong khu vực, chuyên khoa sâu đi đầu trong việc ứng dụng khoa học công
nghệ vào chuẩn đoán và điều trị trên địa bàn tỉnh và tiến tới trở thành Bệnh
Viện trung tâm của khu vực. Xây dựng các trung tâm nghiên cứu và bệnh
viện vệ tinh của các viện Trung ương, hiện tại viện đang xây dựng đề án
thành viện vệ tinh của Bệnh viện Việt Đức…
- Thứ ba: Tiếp tục nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ y tế. Tích cực
đào tạo nâng cao tay nghề chuyên môn, tranh thủ sự hỗ trợ kĩ thuật tích cực
của tuyến trung ương, gửi cán bộ đi học tập dài hạn và ngắn hạn, cập nhật kĩ
thuật và phương pháp điều trị mới vào điều trị phục vụ người bệnh, thực hiện
được các kỹ thuật cao trong chuẩn đoán và phẫu thuật .
- Thứ tư: Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong khám và chữa
bệnh tại bệnh viện. Đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lí giám sát và
điều hành.
Những chủ trương của Đảng, chính sách nhà nước, sự chỉ đạo của Bộ y tế,
Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái gắn với các Nghị quyết, quyết định, chỉ thị nêu
trên là cơ sở pháp lý quan trọng trong quá trình triển khai và thực hiện Đề án.
1.3. Cơ sở thực tiễn
Đề án“ Nâng cao chất lượng dịch vụ khám và điều trị tại khoa Răng
hàm mặt bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016 - 2020 ” được xây
dựng và thực hiện trong giai đoạn bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái do được
xây dựng từ lâu nên cơ sở hạ tầng đang dần dần xuống cấp, máy móc trang
thiết bị tại khoa Răng Hàm Mặt hỏng hóc nhiều không có kinh phí để trang bị

có hơn 30 dân tộc cùng sinh sống: Tày, Dao, Thái, H”Mông…
2.1.2. Hệ thống y tế Yên Bái.
1. Mạng lưới y tế.
Tính đến ngày 31/12/2014, hệ thống y tế công lập do ngành Y tế quản
lý gồm:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status