Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong quy trình cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh phủ diễn - Pdf 36

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH
---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG QUY
TRÌNH CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN
HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH PHỦ DIỄN

NGUYỄN THU TRANG

Huế, tháng 05 năm 2016
1


ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH
---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG QUY
TRÌNH CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN
HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH PHỦ DIỄN

Sinh viên thực hiện:


BCTC

Báo cáo tài chính

KSNB

Kiểm soát nội bộ

NH

Ngân hàng

KH

Khách hàng

TMCP

Thương mại cổ phần

ĐT& PT

Đầu tư và Phát triển

NNHN

Ngân hàng Nhà nước

NHTM


QLRR

Quản lý rủi ro

3

SVTH: Nguyễn Thu Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Kim Thoa

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

MỤC LỤC

4

SVTH: Nguyễn Thu Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Kim Thoa

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng,


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Kim Thoa

ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng, qua thời gian tìm hiểu thực tế tại
ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Phủ Diễn, em quyết định
chọn đề tài“Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong quy trình cho vay khách
hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh
Phủ Diễn” để thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Về lý thuyết: Làm rõ các khái niệm và nội dung cơ bản liên quan đến hệ thống
kiểm soát nội bộ và cho vay khách hàng cá nhân, các rủi ro gắn liền với hình thức này
cùng các yêu cầu đặt ra đối với kiểm soát rủi ro quy trình cho vay khách hàng cá nhân.
- Về thực tế: Thông qua nghiên cứu thực tiễn, đánh giá thực trạng hoạt động
kiểm soát nội bộ quy trình cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư
và Phát triển Việt Nam chi nhánh Phủ Diễn. Đồng thời em cũng rút ra những ưu điểm,
thành tựu đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế cần được giải quyết tại ngân hàng.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác kiểm soát hoạt động cho vay khách hàng cá
nhân tại BIDV Phủ Diễn.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu trên cơ sở các thông tin, số liệu trong 3 năm
2013-2015.
- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trong phạm viBIDV Phủ Diễn
- Về nội dung: Đề tài tập trung tìm hiểu quy trình cho vay đối với khác hàng cá
nhân và các hoạt động kiểm soát nội bộ nhằm hạn chế tối đa các rủi ro phát sinh trong
quá trình cho vay cũng như nâng cao chất lượng KSNB
1.5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát, phỏng vấn: Trực tiếp quan sát thực tế công việc, phỏng

Chương 3:Một số giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ quy
trình cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Phủ Diễn
Phần III: Kết luận và kiến nghị
1.7. Tính mới của đề tài:
Đề tài nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ tại các Ngân hàng thương mại
nói chung và tại BIDV nói riêng đã được thực hiện rất nhiều trong các khóa luận tốt
nghiệp của sinh viên các trường đại học, trong đó có Trường Đại học Kinh Tế - Đại
học Huế. Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu sâu vào thực trạng KSNB quy trình cho vay
khách hàng cá nhân tại BIDV Chi nhánh Phủ Diễn thì đây là đề tài thực tập tốt nghiệp
đầu tiên được thực hiện.
7

SVTH: Nguyễn Thu Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Kim Thoa

Với những lý thuyết cơ bản về hệ thống KSNB và việc áp dụng vào hoạt động
của các NHTM, cùng với việc phân tích các hoạt động kiểm soát trong quy trình cho
vay khách hàng cá nhân tại Chi nhánh,đề tài đảm bảo được tính mới và có ý nghĩa
nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Phủ Diễn

8

SVTH: Nguyễn Thu Trang



Sự tuân thủ các luật lệ , quy định
Ngoài ra, Viện kiểm toán độc lập Hoa Kỳ (American Institute of Certificated
Public Accountant – AICPA) định nghĩa kiểm soát nội bộ như sau : “Kiểm soát nội bộ
bao gồm kế hoạch của tổ chức và tất cả các phương pháp phối hợp và đo lường được
thừa nhận trong doanh nghiệp để bảo đảm an toàn tài sản có của họ, kiểm tra sự phù
hợp và độ tin cậy của dữ liệu kế toán, tăng cường tính hiệu quả của hoạt động và
khuyến khích việc thực hiện các chính sách quản lý lâu dài”.
Đối với hoạt động của mỗi đơn vị, KSNB có vai trò hết sức quan trọng: ngăn
ngừa thiếu sót trong hệ thống xử lý nghiệp vụ, bảo vệ đơn vị trước những thất thoát tài
sản có thể xảy ra, đảm bảo việc chấp hành chính sách kinh doanh...
1.1.2.

Mục tiêu và nhiệm vụ của hệ thống kiểm soát nội bộ

9

SVTH: Nguyễn Thu Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Kim Thoa

- Mục tiêu:
+ Bảo đảm hữu hiệu và hiệu quả hoạt động, đó làviệc sử dụng các nguồn lực,
nhân lực một cách tối ưu nhằm ngăn chặn sự trùng lặp, tránh gây lãng phí trong việc
sử dụng.
+ Bảo đảm độ tin cậy của thông tin: Yêu cầu thông tin trên báo cáo tài chính phải
trung thực và đáng tin cậy, nếu không trung thực thì người quản lý phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật và các bên thứ ba về các tổn thất gây ra cho họ


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Kim Thoa

lực, cải tiến hiệu quả hoạt động, hạn chế các sự cố, và hoàn thành mục tiêu của tổ
chức.
1.1.4.

Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ

Dù có sự khác biệt đáng kể về việc tổ chức và xây dựng HTKSNB giữa các đơn
vị vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô, tính chất, hoạt động, mục tiêu… Tuy
nhiên, bất kỳ một HTKSNB nào cũng bao gồm 5 yếu tố:
(1) Môi trường kiểm soát: Phản ánh sắc thái chung của đơn vị, chi phối ý thức
kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị, là nền tảng đối với các bộ phận khác của
kiểm soát nội bộ. Các nhân tố chính thuộc về môi trường kiểm soát là:
– Tính chính trực và giá trị đạo đức: Nhà quản lýcần xây dựng những chuẩn mực
về đạo đức trong đơn vị và cư xử đúng đắn, nhà quản lý cần phải làm gương cho cấp
dưới về việc tuân thủ các chuẩn mực và cần phải phổ biến những quy định đến mọi
thành viên bằng các thể thức thích hợp.
– Đảm bảo về năng lực: Là đảm bảo nhân viên có được kỹ năng và hiểu biết để
thực hiện nhiệm vụ. Vì thế,nhà quản lýchỉ nên tuyển dụng các nhân viên có kiến thức
và kinh nghiệm phù hợp với nhiệm vụ được giao.
– Hội đồng quản trị và Uỷ ban kiểm toán: Nhiều nước trên thế giới, yêu cầu các
công ty cổ phần có niêm yết trên Thị trường chứng khoán cần thành lập Uỷ ban kiểm
toán. Uỷ ban này không tham gia vào việc điều hành đơn vị mà có vai trò trong việc thực
hiện các mục tiêu, giám sát việc tuân thủ pháp luật, giám sát việc lập báo cáo tài chính,
đảm bảo sự độc lập của Kiểm toán nội bộ với các bộ phân quản lý trong doanh nghiệp…
Ở Việt nam, Luật doanh nghiệp 2005 quy định một số loại hình công ty phải có Ban kiểm

ro. Rủi ro ở đây được xác định là rủi ro tác động khiến cho mục tiêu đó có khả năng
không thực hiện được.
– Nhận dạng rủi ro: Rủi ro có thể tác động đến tổ chức ở mức độ toàn đơn vị (sự
đổi mới kỹ thuật, nhu cầu khách hàng thay đổi, sự cải tiến sản phẩm, chính sách nhà
nước…) hay chỉ ảnh hưởng đến từng hoạt động cụ thể (hoạt động bán hàng, mua hàng,
kế toán…) rồi liên quan đến mức độ rộng hơn.Nhà quản lýcó thể sử dụng nhiều
phương pháp khác nhau như phương tiện dự báo, phân tích dữ liệu, rà soát hoạt động
thường xuyên. Với các doanh nghiệp nhỏ, nhà quản lý có thể tiếp xúc với khách hàng,
ngân hàng, các buổi họp nội bộ.
– Phân tích và đánh giá rủi ro: Đây là công việc khá phức tạp vì rủi ro rất khó
định lượng và có nhiều phương pháp khác nhau. Một quy trình bao gồm: ước lượng
tầm cỡ của rủi ro có thể ảnh hưởng đến mục tiêu, xem xét khả năng xảy ra rủi ro và
những biện pháp có thể sử dụng đối phó với rủi ro.

12

SVTH: Nguyễn Thu Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Kim Thoa

(3) Hoạt động kiểm soát: Là những chính sách và những thủ tục để đảm bảo cho
các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện. Các chính sách và thủ tục này giúp thực thi
những hành động với mục đích chính là giúp kiểm soát các rủi ro mà đơn vị đang hay
có thể sẽ gặp phải. Có nhiều loại hoạt động kiểm soát khác nhau có thể được thực
hiện, và dưới đây là những hoạt động kiểm soát chủ yếu trong đơn vị:
– Phân chia trách nhiệm: Việc phân chia trách nhiệm đầy đủ và hợp lý giữa các
chức năng trong đơn vị cần được xem xét một cách nghiêm túc và được coi như một

GVHD: Th.S Hoàng Thị Kim Thoa

phát hiện những vấn đề bất thường, để có thể thay đổi kịp thời chiến lược hoặc kế
hoạch, điều chỉnh thích hợp.
(4) Thông tin và truyền thông: Hệ thống thông tin của một đơn vị có thể được xử
lý trên máy tính, qua hệ thống thủ công hoặc kết hợp cả hai, miễn là bảo đảm các yêu
cầu chất lượng của thông tin là thích hợp, cập nhật, chính xác và truy cập thuận tiện.
Trong đó, cần chú ý các khía cạnh sau:
– Mọi thành viên của đơn vị phải hiểu rõ công việc của mình, tiếp nhận đầy đủ
và chính xác các chỉ thị từ cấp trên, hiểu rõ mối quan hệ với các thành viên khác và sử
dụng được những phương tiện truyền thông trong đơn vị.
– Các thông tin từ bên ngoài cũng phải được tiếp nhận và ghi nhận trung thực,
đầy đủ, để đơn vị có những phản ứng kịp thời.
Trong hệ thống thông tin (HTTT), thì hệ thống thông tin kế toán là một phân hệ
quan trọng, bao gồm HTTT kế toán tài chính và HTTT kế toán quản trị, tổng hợp ghi
nhận tất cả các sự kiện kinh tế phát sinh. Hai bộ phận này phần lớn sử dụng chung dữ
liệu đầu vào nhưng sản phẩm đầu ra khác nhau. Kiểm toán viên thường chú ý đến hệ
thống thông tin kế toán tài chính.
(5) Giám sát: Là quá trình mà người quản lý đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm
soát nội bộ. Xác định KSNB có vận hành đúng như thiết kế hay không và có cần sửa đổi
cho phù hợp với từng thời kỳ hay không. Giám sát thường xuyên (tiếp cận các ý kiến góp
ý từ khách hàng, nhà cung cấp, các biến động bất thường…) hay định kỳ (các cuộc kiểm
toán định kỳ do kiểm toán viên nội bộ, hoặc do KTV độc lập thực hiện)
1.1.5.

Những rủi ro tiềm tàng của hệ thống KSNB

Một hệ thống KSNB dù được xây dựng hợp lý, chặt chẽ thế nào, được thiết kế
hoàn hảo ra sao thì cũng không thể ngăn chặn hoàn toàn được mọi rủi ro tiềm tàng đối
với mọi hoạt động, một quy trình hay một đơn vị. Để đảm bảo hiệu quả của một hệ

Khái niệm ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty,
xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm rồi sử
dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung
ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên. NHTM là loại ngân hàng có số
lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế .
Cho đến thời điểm hiện nay, trên thế giới có rất nhiều khái niệm về NHTM như:
Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp
dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng thương mại
là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công
chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó
cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính".
15

SVTH: Nguyễn Thu Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Kim Thoa

Theo tinh thần Luật các Tổ chức tín dụng (công bố ngày 26/12/1997) và Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng (có hiệu lực thi hành ngày
01/10/2004): Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh
tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gởi, sử dụng số
tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, và các hoạt động kinh doanh
khác có liên quan.
Theo Nghị định số 59/2009/ NĐ – CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Kim Thoa

+ Là một doanh nghiệp, nhưng nguồn vốn chủ yếu mà ngân hàng sử dụng trong
kinh doanh là vốn huy động từ bên ngoài, trong khi đó vốn riêng của ngân hàng lại
chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng nguồn vốn kinh doanh.
+ Trong tổng tài sản của ngân hàng, tài sản hữu hình chiểm tỷ trọng rất thấp, mà
chủ yếu là tài sản vô hình. Nó tồn tại dưới hình thức các tài sản tài chính, chẳng hạn
như các loại kỳ phiếu, cổ phiếu, hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và các loại giấy
tờ có giá trị khác.
+ Hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách tiền
tệ của ngân hàng trung ương. Một NHTM không thể mở rộng hoạt động kinh doanh
khi ngân hàng trung ương đang áp dụng chính sách đóng băng tiền tệ, hạn chế lạm
phát và ngược lại. Do đó, việc ngân hàng mở rộng hay thu hẹp hoạt động kinh doanh
của mình đều phải chịu sự chi phối bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương.
+ NHTM là một trung gian tín dụng, đóng vai trò một tổ chức trung gian đứng
ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, biến
nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu
tư cho các ngành kinh tế, nhu cầu vốn tiêu dùng của toàn xã hội. Như vậy, có thể nói
NHTM là nhịp cầu nối liền những chủ thể thừa vốn (các cá nhân có thu nhập nhưng
chưa có nhu cầu sử dụng, các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế vừa tiêu thụ được sản
phẩm nhưng chưa có nhu cầu nhập vật tư, hàng hóa) với các chủ thể thiếu vốn (những
cá nhân phát sinh nhu cầu nhưng thu nhập lại chưa có, hay các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế đang cần nhập vật tư, nguyên liệu nhưng chưa tiêu thụ được sản phẩm).
1.2.3.

Vai trò của ngân hàng thương mại


mãn nhu cầu đầu tư của mình. Thông qua hoạt động tín dụng cho doanh nghiệp, ngân
hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường.
+ Thứ ba, NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua
hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống, NHTM đã góp phần mở rộng
khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông. Thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế,
NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các nguồn tiền, tập hợp và phân phối vốn trên thị
trường, điều khiển chúng một cách hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ
mô. Cùng với các cơ quan khác, Ngân hàng luôn được sử dụng như một công cụ quan
trọng để nhà nước điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế.
+ Thứ tư, NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia và nền tài chính quốc tế.
Trong các mối quan hệ hàng hóa, tiền tệ ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu
kinh tế - xã hội giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên cấp thiết và cấp bách.
Việc phát triển kinh tế ở các quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế
thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó. Vì vậy, nền tài chính của
mỗi quốc gia cũng phải hòa nhập với nền tài chính quốc tế và NHTM với các hoạt
động của mình đã đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong sự hòa nhập này. Với các
nghiệp vụ như thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác, NHTM tạo điều
kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển. Thông qua hoạt động thanh toán,
kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các NHTM nước ngoài, NHTM đã thực
18

SVTH: Nguyễn Thu Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Kim Thoa

hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài
chính quốc tế.

 Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục
tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của

19

SVTH: Nguyễn Thu Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Kim Thoa

mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã thực hiện
chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là
chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín
dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được
khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài
khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao
dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ
thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu
cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ
dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm. do vậy ngân hàng
trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.
1.3. Các vấn đề liên quan đến kiểm soát quy trình cho vay khách hàng cá
nhân trong các ngân hàng thương mại
1.3.1. Tổng quan về cho vay khách hàng cá nhân

Hoạt động trước kia của các NHTM chủ yếu chỉ tập trung vào đối tượng khách

Đặc trưng về thời hạn khoản vay: Tùy thuộc vào từng mục đích vay vốn và tình
hình cho vay mà thời hạn của các khoản vay chủ yếu là ngắn hạn,một phần là trung
hạn và một phần rất nhỏ là dài hạn.
1.3.3. Các hình thức cho vay khách hàng cá nhân

Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, các khoản vay khách hàng cá nhân bao
gồm hai hình thức: vay tiêu dùng và vay sản xuất kinh doanh

-

Vay tiêu dùng: Là các khoản vay đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các cá nhân, hộ gia đình
như xây dựng sửa chữa nhà, mua sắm vật dụng gia đình, mua xe cơ giới, du học, chữa
bệnh, cưới hỏi...
- Vay sản xuất kinh doanh: Là các khoản vay phục vụ mục đích bổ sung vốn sản
xuất kinh doanh, đầu tư của cá nhân, hộ gia đình gồm bổ sung vốn lưu động, mua sắm
máy móc thiết bị, đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư kinh
doanh chứng khoán, vàng..
Đối với cả hai hình thức cho vay trên, thời gian cho vay có thể là ngắn hạn (thời
hạn cho vay dưới 12 tháng), trung hạn (thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng) và
dài hạn (thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên).
Phương thức cho vay khách hàng cá nhân có thể là:
+ Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn khách hàng và
ngân hàng làm các thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
+ Cho vay trả góp: Khi vay vốn ngân hàng và khách hàng thoả thuận xác định số
lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong
thời gian cho vay.

21

SVTH: Nguyễn Thu Trang

1627/2001/QĐ –NHNN ngày 21/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước).
- Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định
mà tổ chức tín dụng và khách hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. (Theo quyết
định 1627/2001/QĐ –NHNN ngày 21/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước).
- Lãi suất: Khi sử dụng bất kỳ khoản tín dụng nào, người vay cũng phải trả thêm
một phần giá trị ngoài phần vốn gốc vay ban đầu. Tỷ lệ phần trăm của phần tăng này
so với phần vốn ban đầu được gọi là lãi suất.
22

SVTH: Nguyễn Thu Trang


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.S Hoàng Thị Kim Thoa

- Hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng chính là sự thỏa thuận bằng văn bản
giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do luật định,
theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong
một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn gốc và lãi. (Theo giáo trình luật ngân
hàng Việt Nam, NXB công an nhân dân, 2007).
- Kỳ hạn trả nợ: Là các khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã được thỏa
thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó khách
hàng phải trả một phần hoặc toàn bộ vốn vay cho tổ chức tín dụng.
- Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ: Là việc tổ chức tín dụng chấp nhận thay đổi kỳ hạn
trả nợ gốc và lãi vốn vay vượt quá thời hạn cho vay đã thỏa thuận trước đó trong hợp
đồng tín dụng, mà kỳ hạn trả nợ cuối cùng không thay đổi.
- Gia hạn nợ vay: Là việc tổ chức tín dụng chấp nhận kéo dài thêm một khoảng
thời gian trả nợ gốc và lãi vốn vay vượt quá thời hạn cho vay đã thỏa thuận trước đó
trong hợp đồng tín dụng.

các thành phần kinh tế trong xã hội. Do vậy, những người vay vốn của ngân hàng sau một
kỳ hạn nhất định nào đó phải hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng.
1.3.6. Quy trình cho vay khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại

Là những trình tự, giai đoạn, các bước, công việc cần làm theo một thủ tục nhất
định trong việc cho vay, bắt đầu từ việc xét đơn xin vay vốn của khách hàng đến khi
thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Hiệu quả hoạt động tín dụng phụ thuộc
vào việc lập ra quy trình tín dụng đảm bảo tính logic khoa học và thực hiện, phối hợp
nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình. Quy trình bao gồm các bước:
1.3.6.1.

Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng

Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng: Là khâu căn bản đầu tiên của quy trình tín dụng,
nó được thực hiện ngay sau khi cán bộ tín dụng tiếp xúc với khách hàng có nhu cầu
vay vốn. Lập hồ sơ tín dụng là khâu quan trọng vì nó là khâu thu thập thông tin làm cơ
sở để thực hiện các khâu sau, đặc biệt là khâu phân tích và quyết định cho vay. Bước
này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng. Nhìn chung một
bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:
+ Năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng
+ Khả năng sử dụng vốn vay
+ Khả năng hoàn trả nợ vay ( vốn vay và lãi)
1.3.6.2.

Phân tích tín dụng

Phân tích tín dụng là khả năng hiện tại và tương lai của khách hàng trong việc sử
dụng vốn vay và hoàn trả nợ vay
Mục tiêu:
+ Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự

dụng đã ký kết trong hợp đồng tín dụng
Nguyên tắc giải ngân: Phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng hóa
hoặc dịch vụ có liên quan nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng và
đảm bảo khả năng thu nợ. Nhưng đồng thời cũng phải tạo sự thuận lợi, tránh gây phiền
hà cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng.

25

SVTH: Nguyễn Thu Trang



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status