1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Da người không chỉ là một vỏ bọc cơ thể đơn thuần mà là một cơ quan
có nhiều chức năng quan trọng đối với đời sống con người [1].
Da liễu là một ngành khoa học y học có từ lâu đời và đang trên đà phát
triển mạnh. Bệnh da liễu là loại hình bệnh lý phức tạp liên quan tới nhiều
chuyên ngành khác nhau, có tới vài ngàn bệnh ngoài da thuộc 3 lĩnh vực là:
bệnh ngoài da, bệnh phong, bệnh lây truyền qua đường tình dục (trước đây
gọi là bệnh Hoa liễu) [1]. Đa số bệnh da liễu là không nguy hiểm tới tính
mạng nhưng có liên quan và ảnh hưởng rất lớn đến thẩm mỹ và chất lượng
cuộc sống. Đặc biệt các bệnh lây truyền qua đường tình dục nếu không được
khám và điều trị kịp thời sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho cả 2 giới như vô
sinh thậm chí dẫn tới tử vong.
Bệnh da liễu khá phổ biến trên thế giới và bệnh gặp nhiều ở các nước
đang phát triển, đặc biệt là các nước nhiệt đới. Theo một số nghiên cứu trước
đây cho thấy có khoảng 20 – 30 % dân số mắc bệnh ngoài da (bệnh da liễu)
[2],sự tiến triển của bệnh da liễu thường dai dẳng và hay tái phát [3],[4].
Việt Nam là nước có nền kinh tế đang phát triển, chất lượng cuộc sống
của người dân đang được nâng cao nhưng điều kiện sống và sinh hoạt của
nhiều người còn chưa đảm bảo. Kết hợp với vùng địa lý có nền khí hậu nhiệt
đới gió mùa nóng ẩm mưa nhiều là điều kiện phát sinh bệnh tật nói chung và
bệnh da liễu nói riêng.
Ở nước ta, cùng với sự phát triền kinh tế, văn hóa, xã hội thì mô hình
bệnh tật cũng không ngừng thay đổi và ngày càng đa dạng, phức tạp.Vì vậy
việc nghiên cứu mô hình bệnh tật là một viêc làm cấp thiết và có ý nghĩa rất
lớn. Việc làm này đưa ra một bức tranh toàn diện về tình hình bệnh tật trong
giai đoạn hiện tại.
2
3
TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về Khoa Da liễu Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương.
Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương nguyên là Viện nghiên cứu Đông
y được thành lập ngày 7 tháng 6 năm 1957 theo quyết định số 238/Ttg của
Thủ tướng Chính phủ. Ngày 18 tháng 6 năm 2003 đổi tên thành Bệnh viện Y
học cổ truyền Trung ương. Cơ sở đặt tại số nhà 26, 27, 28, 29 phố Nguyễn
Bỉnh Khiêm, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương là bệnh viện đầu ngành về YHCT Trung tâm hợp tác về y học cổ truyền (YHCT) của Tổ chức y tế thế giới tại Việt
Nam. Bệnh viện có 35 khoa phòng và trung tâm được chia thành 4 khối: lâm
sàng, cận lâm sàng, các trung tâm và khối các phòng ban chức năng.
Bệnh viện có 600 giường bệnh, có các khoa lâm sàng Nội, Ngoại, Phụ,
Nội Nhi, Châm cứu dưỡng sinh, Người có tuổi, Hồi sức cấp cứu, Da liễu,
Kiểm soát và Điều trị Ung bướu, khám chữa bệnh tự nguyện chất lượng cao
v.v..., với đầy đủ các trang thiết bị hiện đại để phục vụ cho chẩn đoán, điều trị
và nghiên cứu khoa học [5].
Khoa Da liễu Bệnh viện YHCT Trung ương thành lập ngày 9/2/2010 do
TS.BS. Hoàng Hữu Hảo làm trưởng khoa. Khoa đặt tại tầng 2 nhà 3 tầng của
bệnh viện. Từ năm 2012 đến nay khoa Da liễu do TS.BS. Dương Minh Sơn
làm trưởng khoa. Hiện tại, khoa đặt tại tầng 7 khu nhà 5 của bệnh viện. Khoa
có 15 nhân viện gồm Tiến sĩ: 2, Bác sĩ chuyên khoa II: 1, Thạc sĩ: 1, Bác sĩ: 1,
Cử nhân điều dưỡng: 1, Điều dưỡng trung cấp: 8, Nhân viên y tế: 1. Khoa có
2 phòng bệnh, 1 phòng yêu cầu, 1 phòng cấp cứu, 1 phòng xông thuốc, trong
đó có 20 giường kế hoạch, 2 giường yêu cầu.
Công tác chuyên môn là khám bệnh, điều trị nội trú và ngoại trú bằng
phương pháp YHCT có kết hợp với YHHĐ bằng thuốc viên, thuốc sắc, thuốc
4
Từ năm 1837, William Farr (1807-1883) đã nỗ lực để có được bảng
phân loại về bệnh tật tốt hơn Cullen và sử dụng đồng nhất trên toàn thế giới.
Năm 1855, Farrc trình bày bảng phân loại nguyên nhân tử vong tại Hội
nghị thống kê quốc tế lần thứ 2 tại Paris. Bảng phân loại này gồm các nhóm
bệnh: bệnh dịch, bệnh nói chung, bệnh địa phương được bố trí theo vị trí cơ
thể, bệnh tiến triển và bệnh là nguyên nhân trực tiếp của bạo động.
Phân loại bệnh tật quốc tế đầu tiên được Ủy ban của Viện thống kê
quốc tế Jacques Bertillon đứng đầu chuẩn bị, bao gồm 161 tiêu đề. Đó là sự
tổng hợp từ các bản phân loại của Anh, Đức, Thụy Sỹ trên nguyên tắc của
Farr đưa ra là phân loại bệnh nói chung và bệnh của các cơ quan đặc biệt hoặc
vị trí cơ thể. Phân loại này được gọi là phân loại Bertillon về nguyên nhân của
cái chết đưa ra vào năm 1893 tại hội thảo do Viện nghiên cứu tổ chức tại
Chicago. Phân loại Bertillon hiệu đính lần đầu tiên vào năm 1900 và sau đó
khoảng 10 năm một lần nó được hiệu đính lại (1909; 1920; 1929; 1938). Mục
đích ban đầu của Phân loại Bertillon là đưa ra các nguyên nhân tử vong.
Song song với việc xây dựng ngày càng hoàn thiện danh sách về
nguyên nhân tử vong, danh sách quốc tế về bệnh tật cũng được coi trọng.
Phân loại bệnh tật đầu tiên được chấp nhận năm 1900 và liên tục được hiệu
6
đính. Tuy nhiên các cách phân loại chỉ là sự mở rộng giới hạn nguyên nhân tử
vong cơ bản.
Từ lần hiệu đính thứ sáu trở đi (1946), WHO trực tiếp chỉ đạo việc hiệu
đính. Lần hiệu đính thứ sáu chính thức thiết lập danh sách quốc tế về nguyên
nhân bênh, thông qua danh sách cho cả tử vong và bệnh, kiến nghị một
chương trình toàn diện về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thống kê sức khỏe.
Phân loại được chính thức đưa ra sử dụng ở nhiều nước.
Trong quá trình phát triển, phân loại này đã được cải biên, hiệu đính,
-
Chương II:
Khối u (Bướu tân sinh).
-
Chương III:
Bệnh máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan cơ
chế miễn dịch.
-
Chương IV:
Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa.
-
Chương V:
Rối loạn tâm thần và hành vi.
-
Chương VI:
Bệnh của hệ thần kinh.
Chương XII:
Bệnh da và mô dưới da.
-
Chương XIII: Bệnh cơ xương khớp và mô liên kết.
-
Chương XIV: Bệnh hệ tiết niệu và sinh dục.
-
Chương XV:
-
Chương XVI: Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ sơ sinh.
-
Chương XVII: Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể.
-
Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng, cận
Chửa, đẻ và sau đẻ.
1.2.2.3 Bộ mã ICD-10 gồm 04 ký tự:
+ Ký tự thứ nhất (25 chữ cái A -Z): mã hóa chương bệnh
+ Ký tự thứ hai (Số thứ nhất): mã hóa nhóm bệnh
+ Ký tự thứ ba (Số thứ hai): mã hóa tên bệnh
+ Ký tự thứ tư (Số thứ ba): mã hóa một bệnh chi tiết theo nguyên nhân
gây bệnh hay tính chất đặc thù của nó.
Giữa ký tự thứ ba và tư có 1 dấu thập phân (.)[6],[7],[8].
1.3. Vai trò của mô hình bệnh tật trong hoạch định các chính sách y tế và
quản lý công tác chuyên môn bệnh viện
1.3.1 Vai trò của mô hình bệnh tật trong xây dựng kế hoạch y tế
Nguồn tài chính cho sức khỏe còn hạn chế chủ yếu từ nguồn ngân sách, vì
thế xây dựng kế hoạch đầu tư cho y tế cần phải xem xét đến hiệu quả của mỗi
đơn vị đầu tư. Trong hoạch định chính sách y tế thường quan tâm tập trung
đến vấn đề sức khỏe chính của cộng đồng. Để xác định các vấn đề sức khỏe
cộng đồng thường dựa vào gánh nặng bệnh tật, tử vong của bệnh đó trong
cộng đồng [9]. Do vậy mô hình bệnh tật của bệnh viện phục vụ cho cộng đồng
có vai trò quan trọng trong quản lý y tế.
9
1.3.2 Vai trò của mô hình bệnh tật trong quản lý bệnh viện
Quản lý chuyên môn trong bệnh viện là sử dụng mọi nguồn lực của
bệnh viện để thực hiện tốt công tác khám bệnh, chẩn đoán, kê đơn, điều trị và
chăm sóc người bệnh với chất lượng cao nhất, thực hiện tính công bằng trong
khám chữa bệnh.
Xây dựng kế hoạch bệnh viện căn cứ vào mô hình bệnh tật, nhu cầu của
người bệnh, tình hình trang thiết bị y tế, cơ sở vật chất và trình độ của cán bộ
là quan trọng nhất.
1.4 Bệnh ngoài da YHCT
Nếu da khô, nứt nẻ, dày, tróc vảy, lông tóc khô rụng... thường do
huyết táo gây ra, dùng các thuốc dưỡng huyết nhuận táo để chữa như
5.
Bạch thược, Sinh địa, Hà thủ ô, Cỏ nhọ nồi...
Nếu có ban chẩn, nổi cục, ứ huyết ở da, thường do huyết ứ sinh ra, dùng
các thuốc hoạt huyết để chữa như Đan sâm, Tạo giác thích, Đào nhân...
Trên thực tế lâm sàng, các triệu chứng hay xuất hiện cùng một lúc vớí
nhau như chảy nước vàng (do thấp nhiệt), ngứa sưng đau (do phong và huyết
ứ) là do các nguyên nhân kết hợp với nhau gây bệnh, điều trị phải phù hợp với
bệnh cảnh lâm sàng, thường khu phong thanh nhiệt hoạt huyết.
Một số bệnh ngoài da xảy ra cấp tính hoặc tái phát do cơ thể mất
thăng bằng âm, dương, khí, huyết, tân dịch, khi chữa bệnh ngoài da việc
chống những nguyên nhân bệnh bên ngoài còn phải chú ý điều hòa lại các
công năng hoạt động và do tình trạng dị ứng nhiễm khuẩn (huyết nhiệt) gây
ra, nên ngoài việc phải dùng các thuốc thanh nhiệt giải độc, còn phải dùng các
thuốc thanh nhiệt lương huyết để chữa, như bệnh dị ứng ban chẩn do lạnh và
do phần vệ khí của cơ thể bị yếu gây ra, ngoài việc dùng các thuốc trừ phong
hàn còn phải dùng các thuốc bổ khí như Hoàng kỳ, Đảng sâm... để chữa.
Khi chữa bệnh ngoài da còn phải căn cứ vào giai đoạn bệnh và tình
trạng tiêu bản hoãn cấp của bệnh để chữa, như các bệnh viêm nhiễm da lâu
ngày có thể gây chứng âm hư huyết táo thì lúc đó dùng thuốc thanh nhiệt, sau
đó dùng thuốc dưỡng âm huyết để chữa, bệnh mạn tính như chàm bị bội
nhiễm thì phải dùng các thuốc thanh nhiệt giải độc để chữa...
Cũng như y học hiện đại, các thuốc và dạng thuốc chữa bệnh ngoài da
tại chỗ của Đông y rất phong phú. Có thể liệt kê các dạng thuốc và các thuốc
thông thường như sau:
dán vào tổn thương ở da mặt.
Dạng thuốc xông nước hay xông khói như Thương truật chữa chàm
do tiếp xúc nước. Cà gai và Kinh giới để xông chữa ngứa [10].
Một số bệnh danh YHCT tương ứng với bệnh YHHĐ:
STT
Bệnh danh YHCT
1
Phong chẩn/ Thấp chẩn
2
Xà xuyến sang/ Xà đơn
3
Phong chẩn khối/ Chứng ẩn chẩn
4
Bạch sang/ Tùng bì tiên
5
Bì tý/ Ma mộc
6
Ngưu bì tiên
7
Chứng tiên
8
Phấn thích/ Tòa sang
9
Giới sang
1.5. Tình hình nghiên cứu về mô hình bệnh tật
Tên bệnh YHHĐ
Viêm da cơ địa
Zona thần kinh
Tỷ lệ các bệnh da của quân đội Mỹ trong giai đoạn 1970 – 1971:
Bệnh
Việt Nam (%)*
Hoa Kỳ (%)**
1. Viêm da mủ
3,87
0,95
2. Mụn trúng cá
10,12
11,2
3. Nấm da, lang ben
2,67
0,76
4. Vảy nến
2,30
2,63
5. Viêm da dị ứng
2,06
2,93
* Thống kê tại phòng khám da liễu quân đội Mỹ, Bệnh viện di tản 95, Đà
Nẵng, Việt Nam (15/5/1970 – 31/7/1971)
** Thống kê tại phòng khám da liễu quân đội Mỹ, Bệnh viện đa khoa William
Beaumont, EL paso, texsan (1/1/1970 –30/6/1971)
Alfred M. Allen cũng thống kê về số bệnh nhân Việt Nam mắc bệnh
da, thống kê tại Bệnh viện di tản 95, quân nhân I, Tháng 10/1970, (Thiếu úy
Henry E Jones, MC): Phong (13%), Viêm da dị ứng (7%), Vảy nến (6%),
Nấm (4%)...[11].
Theo nghiên cứu của Abdel-Hafez et al. Tỷ lệ bệnh ngoài da ở nông
thôn Assiut, Ai Cập. Nhóm bệnh da do ký sinh có tỷ lệ nhiễm cao nhất
(27,40%), trong đó có rận (19,37%) là phổ biến nhất. Eczema có một tỷ lệ
nhất viêm da dị ứng (34,5%), trứng cá (13,5%), đỏ da bong vảy (6,4%), nấm
da (6,4%), bệnh da do virus (6,0%), bệnh lây truyền qua đường tình dục
(4,3%), bệnh viêm da mủ (3,6%), bệnh rối loạn sắc tố da (3,0%), bênh da do
14
kí sinh trùng, côn trùng (2,0%), bệnh da tự miễn (0,9%), bệnh dị ứng thuốc
(0,5%), bệnh ung thư da (0,3%), bệnh da bọng nước (0,1%), bệnh phong
0,097%, bệnh khác (18,4%) [13].
Ngoài ra còn các nghiên cứu về một số bệnh da riêng lẻ khác.
15
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân điều trị tại khoa Da liễu – Bệnh
viện YHCT Trung ương từ 1/1/2014 đến 31/03/2016 đảm bảo yêu cầu:
Bệnh án được cập nhật đầy đủ các thông tin về: tên, tuổi, giới, nghề
nghiệp, địa chỉ, ngày vào viện, ngày ra viện, chẩn đoán vào (gồm cả chẩn
đoán YHHĐ và YHCT), thuốc điều trị (YHHĐ và YHCT), kết quả điều trị.
BN nằm điều trị nội trú tại khoa Da liễu từ 10/2015- 3/2016
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Tiến hành thu thập số liệu từ 10/2015 đến 3/2016.
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả, hồi cứu, tiến cứu.
- NC hồi cứu: NC các bệnh án của BN điều trị nội trú tại khoa da liễu
+ Trên 75 tuổi
Giới: Nam và Nữ
Nghề nghiệp: Các nghề nghiệp chính theo quy định của Bộ Y tế
+ Chưa đi làm
+ Lao động chân tay
+ Lao động trí óc
+ Hưu trí và trên 60 tuổi
Chẩn đoán theo YHCT và YHHĐ.
Phương pháp điều trị
+ YHCT &YHHĐ
+ YHCT
+ YHHĐ
-
Kết quả điều trị
+ Khỏi
+ Đỡ
+ Không đỡ
+ Nặng thêm
+ Tử vong
+ Chuyển viện
-
Số ngày điều trị trung bình
Số ngày điều trị trung bình = Tổng số ngày nằm viện/Tổng số bệnh nhân
2.1.6. Thu thập và xử lý số liệu
Bảng 3.1 Phân bố bệnh (mã ICD-10) theo năm và mùa
2014
Năm
Bệnh
Viêm da cơ
địa (L20)
Sốt xuất
huyết
(A91/A98)
Zona/ Đau
sau zona
(B02)
Mày đay
(L50)
Vảy nến
(L40)
Viêm da
thần kinh
(L30)
Khác
(L13,L81,
L70,L94...)
Tổng
2015
28
39,
41,7
n
0
36
49,
3
0
%
0,0
0,0
8,5
0,0
4,1
7,4
n
5
3
16,
9,9
5,7
6,1
3,7
1,1
2,7
6,7
6,5
n
5
12
16,
4
6
11
13,
11,3
16,3
7,4
8,7
3,8
13,3
8,5
n
4
7
4
4
1
6
8
4
8
4
65
12,5
7,5
8,2
9,8
4,3
13,3
9,5
n
%
48
100
53
71
100
92
100
184
100
30
100
681
100
Hè
Thu
35
Đôn
g
23
Xuâ
n
6
247
6,8
5
2
44
Hè
Thu
2
43
53,
1
6
Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân vào viện vì bệnh viêm da cơ địa là cao nhất
trong các mùa. Mùa đông năm 2015 lượng bệnh nhân vào viện vì sốt xuất
huyết là cao nhất.
19
Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân trung bình 1 tháng
Nhận xét: Số lượng bệnh nhân trung bình 1 tháng bệnh viêm da cơ địa,
bệnh sốt xuất huyết, bệnh zona/ đau sau zona, bệnh vảy nến năm 2015 cao
13
61
91
56
247
(L20)
%
7,3
3,2
5,3
24,7
36,8
22,7
100
Sốt xuất huyết
2,3
100
Zona/ Đau sau Zona
(B02)
n
0
0
2
8
23
13
46
%
0,0
0,0
4,3
2,3
11,4
15,9
34,1
27,3
9,1
100
Vảy nến
n
0
5
5
11
29
8
12
24
5
46
(L30)
%
6,5
2,2
2,2
26,1
52,2
10,9
100
Khác
n
100
n
61
77
64
155
226
98
681
%
8,9
11,3
9,4
22,8
33,2
Viêm da cơ địa (L20)
Sốt xuất huyết (A91/ A98)
Zona/ Đau sau zona (B02)
Mày đay (L50)
Vảy nến (L40)
Viêm da thần kinh (L30)
Khác (L13,L81,L70,L94...)
Tổng
n
%
108
43,7
71
40,6
15
32,6
7
15,9
24
41,4
32
69,6
35
35
281
41,3
p
681
%
100
100
100
100
100
100
100
100
nữ cao hơn nam. Bệnh viêm da
thần kinh có tỷ lệ nữ thấp hơn nam.
3.1.4 Đặc điểm về nghề nghiệp
Bảng 3.4 Phân bố bệnh (mã ICD-10) theo nghề nghiệp
22
Nghề nghiệp
Bệnh
Viêm da cơ địa
(L20)
Sốt xuất huyết
(A91/ A98)
Zona/ Đau sau Zona
(B02)
Mày đay
động
trí óc
19
7,7
54
30,9
0
0,0
4
9,1
2
3,5
3
6,5
10
15,4
92
13,5
34
13,8
50
28,6
4
8,7
14
31,8
9
15,5
60 tuổi
Tổng
175
70,8
42
24,0
41
89,1
21
47,7
37
63,8
33
71,7
36
55,4
385
56,5
247
100
175
100
46
100
44
100
58
hoàn
não
Thoái
hóa
khớp
Tai
biến
mạch
máu
não
Rối
loạn
chuyể
n hóa
lipid
Hội
chứng
tiền
đình
Tổng
n
48
n
5
2
0
2
0
0
0
%
2,9
1,1
0,0
1,1
0,0
0,0
2,2
0,0
n
4
2
7
5
0
1
1
%
9,1
4,6
15,9
11,4
1,7
1,7
6,9
1,7
n
6
1
1
1
1
2
2
%
13,0
2,2
9,2
1,5
6,2
0,0
4,6
0,0
n
96
32
28
32
14
27
7
%
175
46
44
58
46
65
681
Nhận xét: Bệnh kèm theo hay gặp nhất là tăng huyết áp. Bệnh nhân sốt
xuất huyết có rất ít bệnh kèm theo.
3.1.6 Đặc điểm chẩn đoán bệnh theo YHCT
Bảng 3.6 Phân bố bệnh theo bát cương
Bát cương
Bệnh
Phong chẩn
n
%
Biểu
Lý
Thực
Hư
Hàn
n
%
n
%
n
%
n
%
n
%
Ôn bệnh
Xà xuyến sang
Phong chẩn
khối
Bạch sang
Ngưu bì tiên
Khác
Tổng
168
96,0
25
54,3
41
93,2
38
65,5
23
50,0
34
52,3
421
61,8
17
9,7
43
93,5
30
68,2
45
77,6
41
89,1
48
73,8
400
58,7
0
0
0
0
6
13,6
0
0
0
0
Bệnh phong chẩn khối là biểu, hư, nhiệt.
Bảng 3.7 Phân bố bệnh theo tạng phủ
Tạng phủ
Tâm
Can
Tỳ
Phế
Thận
Tổng
n
18
164
105
160
101
247
49,1
82,3
2,9
n
1
40
22
13
6
%
n
%
n
2,2
3
6,8
1
87,0
27
25
Ngưu bì tiên
Khác
Tổng
%
1,7
84,5
41,4
48,3
69,0
n
1
39
14
33
21
55,4
58,5
36,9
n
31
416
307
449
207
%
4,6
61,1
p
147
59,5
173
66
26,7
52
%
n
%
n
%
n
11,4
32
69,6
25
56,8
40
98,9
31
67,4
29
65,9
27
29,7
349
44,6
465
29,2
191
Bệnh
Phong chẩn
Ôn bệnh
Xà xuyến sang
Phong chẩn khối
Bạch sang
Ngưu bì tiên
Khác
Tổng
Tổng
247
175
46
44
58
46
65
681