Đề tài tìm ba vụ việc có thật liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức - Pdf 37

ĐỀ TÀI
Tìm ba vụ việc có thật liên
quan đến giao dịch dân sự vô
hiệu do không tuân thủ quy
định về hình thức

-0-


LỜI NÓI ĐẦU
Giao dịch dân sự có một quá trình phát triển không ngừng theo trình độ
văn minh của loài người . Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường phát sinh nhiều
loại hình giao dịch mà pháp luật dân sự phải từng bước hệ thống hoá bằng các
quy định cụ thể. Có thể khẳng định rằng, giao dịch dân sự là loại quan hệ có
tính chất phổ biến, được áp dụng rộng rãi nhất trong giao lưu dân sự, xảy ra
hàng ngày và tất cả các chủ thể tiến hành xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
được Bộ luật dân sự ghi nhận là căn cứ pháp lý để xác lập quyền và nghĩa vụ
dân sự. Hiện nay, Bộ luật dân sự đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của cuộc
sống và thoả mãn các điều kiện vật chất, tinh thần hàng ngày của nhân dân. Tuy
nhiên thực tế đời sống dân sự là rất phức tạp, cho nên không thể tránh khỏi tình
trạng giao dịch dân sự bị vô hiệu, mà trong đó giao dịch dân sự vô hiệu do
không tuân thủ các quy định về hình thức chiếm tỷ lệ không nhỏ.
Vì vậy, nhóm chúng em xin đưa ra ba vụ việc có thật liên quan đến
giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức, để thấy
rõ thực trạng xét xử của Toàn án hiện nay.

-1-


NỘI DUNG


cơ quan nhà nước có thẩm quyền, góp phần ổn định quan hệ sở hữu tài sản.
2. Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô
hiệu
2.1. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu
Chỉ những giao dịch hợp pháp mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các
bên và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Một giao dịch hợp pháp phải tuân
thủ ba điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (trong một số trường hợp cụ
thể phải tuân thủ thêm điều kiện về hình thức). Vì vậy, về nguyên tắc giao dịch
không tuân thủ một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch thì sẽ bị vô
hiệu. Những quy định về sự vô hiệu của giao dịch dân sự có ý nghĩa quan trọng
trong việc thiết lập trật tự kỷ cương xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của cá nhân, pháp nhân và Nhà nước; bảo đảm an toàn pháp lý cho các chủ thê
trong giao lưu dân sự.
2.2. Đặc điểm chung của giao dịch dân sự vô hiệu
Đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu là không đáp ứng các điều kiện
theo quy định của pháp luật. Khi giao dịch dân sự vô hiệu các bên tham gia phải
gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định có thể gây bất lợi về vật chất và tinh thần.
Giao dịch dân sự vô hiệu thường có đặc điểm sau:
- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định của pháp luật đối với
giao dịch có hiệu lực theo Điều 122 Bộ luật dân sự 2005.
- Các bên tham gia giao dịch dân sự phải chịu hậu quả pháp lý nhất định
như khi giao dịch dân sự vô hiệu quay lại trạng thái ban đầu, các bên tham gia
giao dịch hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Về mặt lý thuyết thì đó là sự
tổn thất của các bên vì họ đã không đạt được mục đích như đã mong muốn. Tuy
nhiên về mặt thực tế có trường hợp tuyên bố giao dịch vô hiệu có bên được
hưởng lợi, có bên bị thiệt hại. Đây là vấn đề phức tạp khi giải quyết hậu quả
pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu trên thực tế.
-3-




2.4. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
Điều 137 BLDS quy định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:
- Giao dịch dân sự đó không làm phát sinh bất cứ quyền dân sự nào cho
các chủ thể tham gia xác lập giao dịch dân sự.
- Vô hiệu ngay từ thời điểm xác lập giao dịch dân sự đó.
- Khôi phục lại tình trạng tài sản ban đầu:
+ Nếu giao dịch dân sự đó chưa được thực hiện thì các bên không được
thực hiện.
+ Nếu giao dịch dân sự đó đã được thực hiện một phần thì các bên dừng
ngay việc thực hiện, không được tiếp tục thực hiện phần còn lại và phải có
nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những lợi ích vật chất đã nhận được của nhau.
+ Nếu giao dịch dân sự đó đã thực hiện xong thì các bên hoàn trả cho
nhau những lợi ích vật chất mà các bên đã nhận được hoặc trả cho nhau số tiền
tương đương với giá trị lợi ích vật chất mà mình đã nhận được nếu như lợi ích
vật chất đó không còn trên thực tế.
- Phần bồi thường thiệt hại: Bên có lỗi gây ra sự vô hiệu của giao dịch
dân sự phải bồi thường thiệt hại.
II. NHỮNG VỤ VIỆC CÓ THẬT LIÊN QUAN ĐẾN GIAO DỊCH DÂN
SỰ VÔ HIỆU DO KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC
1. Vụ việc thứ nhất: Tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ và tranh chấp hợp đồng
đặt mua bán nhà giữa bà Trịnh Thị Bích Liên với bà Trịnh Thị Kim Hoa.
1.1. Tóm tắt nội dung vụ việc:
- Vụ việc này xảy ra trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
- Nội dung vụ việc như sau:
Năm 1975, bà Nguyễn Thị Nhỡ viết giấy bán toàn bộ nhà đất tại số 174 tổ
11C (nay là số 4 ngõ 285) Đông Kim Ngưu, Thanh Lương, hai Bà Trưng, Hà
Nội cho ông Nguyễn Văn Ký.
-5-




xong, bà Thu đã cho 4 người ở thuê trong đó có vợ chồng bà Hoa ông Thái ở
thuê từ tháng 6/2002 đến tháng 11/2006 và từ tháng 8/2008 đến nay, bà cho ông
Trịnh Quang Vinh, là em trai của bà, vào ở thuê. Nhưng sau khi vợ chồng bà
Liên ông Lợi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng
đất ở, đã không giao giấy tờ mua bán và làm thủ tục chuyển nhượng nhà ở cho
bà Thu, mặc dù bà Thu đã yêu cầu nhiều lần. Bà Liên không thực hiện vì bà
không thừa nhận việc mua bán nhà với bà Thu. Ngày 29/8/2005 bà Thu có đơn
yêu cầu độc lập đề nghị Toà án xem xét hợp đồng mua bán nhà giữa bà với vợ
chồng bà Liên ông Lợi.
Tại bản án số 02/DSST ngày 17/6/2008 Toà án nhân dân quận Hai Bà
Trưng đã xử:
+ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Bích Liên về việc
yêu cầu bà Trịnh Thị Kim Hoa trả lại nhà ở nhờ đối với ngôi nhà số 4 ngõ 285
Đông Kim Ngưu, Thanh Lương, Hai Bà Trưng, Hà Nội, do : “thời hiệu khởi
kiện đã hết”.
+ Chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà
Trịnh Thị Thu. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà và quyền
sử dụng đất giữa bà Trịnh Thị Bích Liên, ông Nguyễn Thành Lợi và bà Trịnh
Thị Thu. Công nhận bà Trịnh Thị Thu có quyền sở hữu căn nhà và quyền sử
dụng 27,47m2 đất ở đối với căn nhà và diện tích ở tại số 4 ngõ 285 Đông Kim
Ngưu, Thanh Lương, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
1.2. Nhận xét của nhóm:
Bản án dân sự sơ thẩm số 02/DSST ngày 17/6/2008 đã xử và xác định
hợp đồng mua bán nhà giữa vợ chồng bà Liên ông Lợi và bà Thu là có căn cứ.
Tuy nhiên án sơ thẩm cho rằng thời hiệu khởi kiện đã hết nên không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của vợ chồng bà Liên ông Lợi, công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở giữa vợ chồng bà Liên ông


quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu ”
-8-


Do vậy phải chịu hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu điều 146
BLDS 1995 “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân
sự của các bên từ thời điểm xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu, thì các bên
khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận…”
Giao dịch dân sự giữa bà Liên và bà Thu là giao dịch dân sự vô hiệu vì
vậy bà Thu phải trả lại căn nhà số 4, ngõ 285, phố Đông Kim Ngưu, Thanh
Lương, Hai Bà Trưng cho bà Liên. Do bà Liên thừa nhận có vay của bà Thu
98.000.000 đồng nên bà Liên có nghĩa vụ trả lại bà Thu 98.000.000 đồng và cần
phải định giá lại tài sản đang tranh chấp tại thời điểm bà Thu mua nhà so với
thực tế hiện tại.
2. Vụ việc thứ hai: tranh chấp hợp đồng mua bán nhà giữa nguyên đơn là
anh Nguyễn Ngọc Thành với bị đơn là ông Đỗ Quang Dũng.
2.1. Tóm tắt nội dung vụ việc
- Vụ việc xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
- Nội dung vụ việc:
Ngày 15/08/1996, vợ chồng ông Dũng lập hợp đồng chuyển nhượng 50
m2 đất cho anh Thành với giá 1 tỷ đồng, nhận trước 500 triệu. Hai bên cam kết
đến ngày 30/04/1997 anh Thành giao đủ số vàng còn lại sẽ làm giấy tờ sang tên,
chi phí giấy tờ mỗi bên chịu một nửa. Theo anh Thành thì anh đã giao cho ông
Dũng nhiều lần, tổng cộng là 960 triệu đồng là đủ, vì số đất thực tế anh nhận là
48 m2.
Ngày 26/09/1996 ông Dũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 80
m2 đất. Nhưng ông Dũng không chịu làm thủ tục tách hộ nên anh Thành khởi
kiện đến tòa án, yêu cầu ông Dũng hoàn tất thủ tục sang nhượng theo cam kết.
Về phía ông Dũng cho rằng, anh Thành mới giao cho ông 500 triệu nên
ông không làm thủ tục tách hộ cho anh Thành. Ông cho rằng anh Thành đã vi

chứng để khẳng định ông Dũng đã nhận đủ 960 triệu là chưa có căn cứ vững
chắc. Mặt khác giữa ông Dũng và anh Thành đều thừa nhận hai bên đã đến gặp
chính quyền địa phương để làm thủ tục sang nhượng đất nhưng do mới tách xã
- 10 -


nên chính quyền chưa làm được. Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng hai bên không
tiến hành làm thủ tục sang nhượng và xác định hợp đồng giữa Dũng – Thành là
vô hiệu là không đúng.
Vì vậy cần phải hủy bản án phúc thẩm để điều tra, xét xử lại theo hướng
công nhận hợp đồng sang nhượng đất giữa ông Dũng với anh Thành, đồng thời
xác minh thêm về khoản tiền anh Thành đã giao cho ông Dũng sau ngày
15/08/1996, nếu anh Thành không chứng minh được đã giao đủ tiền cho ông
Dũng thì anh Thành thanh toán tiếp cho ông Dũng tỷ lệ diện tích đất còn lại
theo thời giá.
2.2. Nhận xét của nhóm
Theo chúng tôi, trong vụ án này cần xác định hợp đồng mua bán nhà đất
nêu trên là hợp đồng vô hiệu vì các bên không tuân thủ các quy định về hình
thức theo quy định của pháp luật hiện hành (trong trường hợp đối tượng là bất
động sản). Lẽ ra tòa án cần căn cứ điều 131, 136 Bộ luật dân sự tuyên bố hợp
đồng mua bán nêu trên là vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức và
giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo điều 146, Bộ luật dân sự mới thỏa
đáng và phù hợp với thực tế của vụ án. Tòa án cấp giám đốc thẩm khi nêu lý do
tách xã nên hai bên không làm được thủ tục hình thức là căn cứ để công nhận
hợp đồng là không đúng.
Như vậy, hợp đồng giữa ông Dũng và anh Thành được xác định là vô
hiệu, nhưng để đảm bảo quyền lợi cho các bên thì phải xác định số tiền thực tế
anh Thành đã đưa cho ông Dũng, điều này phụ thuộc vào việc anh Thành có
đưa ra được các chứng cứ và nhân chứng chứng minh cho việc anh đã giao đủ
960 triệu cho ông Dũng hay không. Nếu anh Thành chứng minh được đã giao

đến 14.12.2006, sau đó lại khất đến khi nào anh chị bán được nhà. Hẹn nhiều lần
như vậy không thấy a chị trả tiền, bà Lượt đã làm đơn ra Công an và UBND
phường. Trước đại điện UBND và Công an phường, anh Sơn nói nếu bà chịu
mất 100.000.000 đồng thì sẽ trả 230.000.000 đồng theo giấy mua bán đề cùng
- 12 -


ngày 14.11.2006 ( với lý do bà Lượt không tiếp tục thực hiện hợp đồng, phải
chịu phạt 100.000.000 đồng theo như đã cam kết )
Tại bản án số 08/2007/DSST ngày 12/4/2007 của Tòa án nhân dân quận Hai
Bà Trưng đã xử và quyết định:
- Tuyên bố hủy hợp đồng mua bán nhà 492 Bạch Mai, Hà Nội giữa bà Trần
Thị Lượt với anh Vũ Diễm Sơn, chị Đoàn Thị Phượng do hợp đồng vô hiệu toàn
bộ.
- Buộc anh Vũ Diễm Sơn và chị Đoàn Thị Phượng phải trả lại cho bà Trần
Thị Lượt toàn bộ số tiền đã nhận là 330 triệu đồng.
3.2. Nhận xét của nhóm
Đơn kháng cáo của anh Vũ Diễm Sơn và chị Đoàn Thị Phượng làm trong
thời hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm là hợp lệ.
Đơn kháng cáo của anh Sơn và chị Phượng có 4 nội dung chính:
- Đề nghị xem xét yêu cầu hản tố của bị đơn.
- Tòa án sơ thẩm chưa điều tra về nguồn gốc căn hộ bị đơn bán cho nguyên
đơn.
- Đề nghị cho bị đơn một thời gian đê hoàn tất thủ tục nhà đất.
- Nguyên đơn tự ý phá hợp đồng không mua bán nữa thì là người có lỗi nên
phải chịu phạt cọc 100 triệu đồng, nay chỉ đồng ý trả 230.000.000 đồng.
Xét các đơn kháng cáo từ phía bị đơn, hội đồng xét xử sơ thẩm buộc bên bán
là bị đơn phải trả cho bên mua số tiền đã nhận là 330.000.000 theo đúng pháp luật.
Tòa án cấp phúc thẩm bác bỏ đơn kháng cáo của bị đơn. Trong vụ việc này Toàn
án phúc thẩm đã xét xử đúng.

được xác lập, quá thời hạn này đương sự mới yêu cầu thì Toà án không chấp
nhận yêu cầu đó. Điều này mâu thuẫn với lý luận về giao dịch dân sự bởi lẽ
giao dịch dân sự vi phạm về hình thức là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối: khi
pháp luật đã quy định hình thức giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch
- 14 -


có nghĩa là hình thức giao dịch để đảm bảo lợi ích của nhà nước và cộng đồng
nên việc yêu cầu tuyên bố vô hiệu không chỉ phụ thuộc vào ý chí của người xác
lập giao dịch, người đại diện của người đó như trong quy định của pháp luật.
Liên quan đến hình thức là điều kiện có hiệu lực của một số giao dịch dân
sự nói chung và hợp đồng nói riêng trong khoa học pháp lý của Việt Nam có
nhiều ý kiến khác nhau. Một số tác giả cho rằng, nên quy định hình thức là một
điều kiện bắt buộc để giao dịch có hiệu lực trong những trường hợp cần thiết, và
nếu hợp đồng không tuân thủ hình thức luật định thì có thể bị tuyên bố vô hiệu (
Hà Thị Mai Hiên-Sửa đổi BLDS VN và hoàn thiện chế định hợp đồng, Tạp chí
Nhà nước và pháp luật số 3/2005). Có thể nhận thấy, ý kiến này có vẻ như coi
trọng yếu tố hình thức của hợp đồng. Rõ rằng, hợp đồng là sự thoả thuận và nếu
quá coi trọng yếu tố hình thức trong việc công nhận hiệu lực của hợp đồng sẽ
dẫn tới sự can thiệp quá sâu của Nhà nước, xâm phạm nghiêm trọng nguyên tắc
tự do hợp đồng và làm cản trở sự phát triển của các quan hệ pháp luật tư vì đã
hạn chế sự tự do ý chí của các bên. Tự do ý chí không chỉ là tự do tự nguyện
thoả thuận xác lập các điều khoản của hợp đồng mà còn là tự do trong việc lựa
chọn hình thức biểu hiện của tự do ý chí đó. Một số tác giả khác lại cho rằng,
không nên quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch, thậm chí
nên bỏ hẳn các quy định về hình thức ( Phạm Công Lạc- thời hiệu có hiệu lực
của hợp đồng, báo Pháp luật VN chuyên đề số 1-11/2004). Quan điểm này có
vẻ như coi nhẹ hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
Việc coi nhẹ tới mức bỏ hẳn yếu tố hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp
trong nhiều trường hợp có thể dẫn đến việc thiếu cơ chế để bảo vệ quyền lợi của

thay đổi được ý chí của họ. Mặt khác, theo quy định của Điều 126 và Điều 409
BLDS 2005, khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì không chỉ dựa vào
ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí chung của các bên để giải
thích điều khoản đó. Rõ ràng, ý chí chung của các bên được đánh giá cao hơn
- 16 -


hình thức biểu hiện ra bên ngoài. Ý chí của các bên được hiểu là ý chí được
biểu hiện tại thời điểm ký kết hợp đồng. Trong khi đó, nếu theo Điều 134
BLDS 2005 và Nghị quyết số 01/2003 thì pháp luật có vẻ như tôn trọng ý chí
được biểu hiện sau thời điểm hợp đồng được ký kết. Điều này có vẻ trái với lý
thuyết về tự do ý chí cũng như nguyên tắc giải thích hợp đồng.
Theo quy định tại Điều 121 Bộ luật Dân sự thì giao dịch dân sự là hợp
đồng dân sự, nên các vụ án về hợp đồng dân sự đương nhiên áp dụng Điều 136
Bộ luật Dân sự. Như vậy có thể hiểu, nếu một bên yêu cầu Toà án tuyên bố hợp
đồng mua bán nhà đất vô hiệu sau hai năm kể từ ngày xác lập giao dịch thì Toà
án bác yêu cầu của họ, công nhận hợp đồng mua bán. Tuy nhiên, nếu trong thời
hạn hai năm một bên có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
về hình thức thì Toà án căn cứ Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2005 ra quyết định
buộc các bên thực hiện quy định về hình thức giao dịch trong thời hạn một
tháng. Quá thời hạn đó mà không thực hiện thì Toà án tuyên bố giao dịch vô
hiệu. Chúng tôi không đồng tình với cách giải thích này. Bởi lẽ, thứ nhất, ví dụ,
sau khi ký hợp đồng mua bán nhà, người mua đã thanh toán cho người bán toàn
bộ hoặc phần lớn giá trị hợp đồng nhưng hợp đồng chưa được công chứng thì
giá trị căn nhà tăng nhiều lần và người bán không muốn bán. Trong trường hợp
này, chính người bán sẽ yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Hành vi
của người bán không thể được coi là trung thực. Rõ ràng, trong trường hợp này
pháp luật đứng về bên không trung thực, thiện chí; thứ hai, theo cách giải thích
trên, hết thời hạn hai năm kể từ ngày ký kết, hợp đồng nói trên mặc nhiên có giá
trị pháp lý, nhưng người bán lại không muốn hợp đồng được công chứng hoặc

thấy: khi các bên tham gia giao dịch, thông thường người dân không năm được
những quy định của pháp luật mà chủ yếu giao dịch dưới dạng tự phát, dẫn đến
nhiều giao kết vô hiệu ngay tại thời điểm ký kết mà các không biết vẫn thực
hiện, khi tranh chấp xảy ra mới yêu cầu hủy. Khi giải quyết sự việc đã rồi, các
thẩm phán thường lúng túng, cần nhắc có nên hủy hay không hủy giao dịch dân
sự vô hiệu, nhiều khi phán quyết của tòa án không mang lại công bằng cho các
đương sự. Vì thế mà nhiều khi đương sự đã lợi dụng sơ hở của pháp luật đã thất
hứa, yêu cầu hủy giao dịch dân sự vô hiệu để nhằm chuộc lợi cho mình.

- 19 -


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU..................................................................................................................... - 0 NỘI DUNG .......................................................................................................................... - 2 I. KHÁI QUÁT CHUNG: .................................................................................................. - 2 1. Giao dịch dân sự: ............................................................................................................ - 2 1.1. Khái niệm ..................................................................................................................... - 2 1.2. Đặc điểm ...................................................................................................................... - 2 1.3. Ý nghĩa .......................................................................................................................... - 2 2. Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu ............. - 3 2.1. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu ............................................................................ - 3 2.2. Đặc điểm chung của giao dịch dân sự vô hiệu ........................................................... - 3 2.3. Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu ............................................................................. - 4 2.4. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu .......................................................... - 5 II. NHỮNG VỤ VIỆC CÓ THẬT LIÊN QUAN ĐẾN GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
DO KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC ............................................. - 5 1. Vụ việc thứ nhất: Tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ và tranh chấp hợp đồng đặt mua
bán nhà giữa bà Trịnh Thị Bích Liên với bà Trịnh Thị Kim Hoa. ................................ - 5 1.1. Tóm tắt nội dung vụ việc: ............................................................................................. - 5 1.2. Nhận xét ....................................................................................................................... - 7 2. Vụ việc thứ hai: tranh chấp hợp đồng mua bán nhà giữa nguyên đơn là anh Nguyễn
Ngọc Thành với bị đơn là ông Đỗ Quang Dũng. .............................................................. - 9 2.1. Tóm tắt nội dung vụ việc .............................................................................................. - 9 3. Vụ việc thứ ba: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và mua bán nhà giữa nguyên đơn là bà
Trần Thị Lượt với bị đơn là anh Vũ Diễm Sơn và chị Đoàn Thị Phượng. ................. - 12 3.1. Tóm tắt nội dung vụ việc ............................................................................................ - 12 3.2. Nhận xét ..................................................................................................................... - 13 III. NHẬN XÉT CỦA NHÓM VỀ NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO KHÔNG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH VỀ HÌNH
THỨC VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH ĐÓ ............................ - 14 KẾT LUẬN ....................................................................................................................... - 19 -

- 20 -




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status