1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vô sinh là một trong những vấn đề chính trong lĩnh vực sinh sản của tổ
chức y tế thế giới. Vấn đề này cũng là vấn đề mà ngành y tế nước ta đang rất
quan tâm trong những năm gần đây. Hiện nay vô sinh đang được nghiên cứu
ngày càng nhiều ở các trung tâm, các trường đại học và các bệnh viện lớn.
Nhu cầu khám và chữa bệnh vô sinh ngày ngày càng cao, đòi hỏi chất lượng
ngày càng tốt vì thế các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không ngừng tìm tòi, đổi mới
và vận dụng tốt vào quá trình khám, chữa bệnh. Đặc biệt ở nước ta hiện nay
các kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm phát triển đem lại niềm vui và hạnh phúc rất
lớn cho các cặp vợ hồng hiếm muộn đồng thời đóng vai trò quan trong trong
việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho con người.
Kỹ thuật TTTON là lấy noãn của người phụ nữ bằng chọc hút cho kết
hợp với tinh trùng đã được chuẩn bị trong ống nghiệm, sau đó phôi được hình
thành sẽ được chuyển trở lại trong buồng tử cung. Có hai cách chuyển phôi vào
buồng tử cung: Chuyển phôi tươi là chuyển phôi vào buồng tử cung trong chu kỳ
kích thích buồng trứng; chuyển phôi trữ lạnh là chuyển phôi đã được trữ lạnh vì
một lý do nào đó trong chu kỳ kích thích buồng trứng vào chu kỳ sau.
Trước đây trong IVF người ta thường chuyển phôi tươi nhiều hơn phôi
trữ lạnh vì cho rằng phôi tươi tốt hơn phôi trữ lạnh, nên tỷ lệ có thai khi
chuyển phôi tươi cao hơn. Tuy nhiên trong trường hợp bệnh nhân quá kích
hoặc nguy cơ quá kích buồng trứng, khi chuyển phôi tươi, lúc có thai thì quá
kích buồng trứng nặng lên, có thể xảy ra rất nhiều rủi ro làm ảnh hưởng đến
sức khỏe, tính mạng của bệnh nhân và làm ảnh hưởng đến thai.
Gần đây người ta cho rằng trong chu kỳ chuyển phôi tươi, nồng độ các
hormon tăng cao do phải dùng các thuốc kích buồng trứng, đặc biệt là estrogen
tăng cao có thể làm giảm tỷ lệ có thai của chu kỳ chuyển phôi tươi.
2
thì việc tính thời gian không còn được đặt ra nữa. Vô sinh nguyên phát là
chưa có thai lần nào, vô sinh thứ phát là đã từng có thai ít nhất một lần. vô
sinh nữ là khi nguyên nhân hoàn toàn do do người vợ, vô sinh nam là vô sinh
nguyên nhân hoàn toàn do người chồng. Vô sinh không rõ nguyên nhân là
trường hợp khám và làm các xét nghiệm thăm dò hiện có mà không phát hiện
được nguyên nhân nào có thể giải thích được
1.1.2. Tình hình và nguyên nhân vô sinh
1.1.2.1. Trên thế giới
Tùy từng nước, tỷ lệ vô sinh thay đổi từ 10 – 18%, đột xuất có nơi lên
tới 40%. Về nguyên nhân vô sinh theo tổ chức Y tế thế giới, năm 1985 có
khoảng 20% không rõ nguyên nhân, 80% trong đó là vô sinh nữ, 40% vô sinh
nam, và do cả hai là 20% .
Nguyên nhân chính gây nên tình trạng vô sinh nữ là do rối loạn phóng
noãn (30%). Rối loạn chức năng vòi tử cung xảy ra sau dính vòi tử cung do
viêm nhiễm. Nhiễm trùng lậu cầu và chlammydia Tracomatis là nguyên nhân
chính gây nên những rối loạn này. Các nguyên nhân khác gây nên vô sinh là
4
do bệnh lạc nội mạc tử cung, bất thường về giải phẫu, các kháng thể kháng
tinh trùng và một số yếu tố khác chưa được biết tới .
Nguyên nhân chính dẫn tới vô sinh nam là do suy giảm sinh tinh, có thể
do di truyền, hoặc do di chứng của bệnh quai bị và các vết sẹo ở thừng tinh
xuất hiện sau các nhiễm trùng lây qua đường sinh dục . Theo các tác giả
Aribary A (1995) vô sinh nam có tinh dịch đồ bất thường khoảng 35.2%
1.1.2.2. Ở Việt Nam
Theo nghiên cứu của Nguyễn Khắc Liêu và cộng sự tại Viện Bảo vệ Bà
mẹ và Trẻ sơ sinh trong các năm từ 1993- 1997 trên 1000 trường hợp vô sinh
có đầy đủ các xét nghiệm thăm dò về độ thông của đường sinh dục nữ, về
Bơm tinh trùng vào buồng tử cung là một kỹ thuật đơn giản được sử
dụng rộng rãi. Kích thích buồng trứng kết hợp với IUI làm tăng đáng kể tỷ lệ
có thai so với giao hợp tự nhiên. Tuy nhiên tỷ lệ thành công thay đổi rất nhiều
tùy thuộc vào chỉ định và kỹ thuật của từng trung tâm, có thể phải thực hiện
nhiều chu kỳ điều trị và phối hợp với kích thích buồng trứng nên có thể xảy ra
quá kích buồng trứng và đa thai.
1.2.3. Thụ tinh tong ống nghiệm (In vitro Fertilization – IVF)
1.2.3.1. Định nghĩa
Kỹ thuật TTTON là lấy noãn của người phụ nữ bằng chọc hút cho kết
hợp với tinh trùng đã được chuẩn bị trong ống nghiệm, sau đó phôi được hình
thành sẽ được chuyển trở lại trong buồng tử cung. Quá trình phát triển của
phôi thai sẽ diễn ra bình thường trong tử cung của người mẹ. TTTON chiếm
50% các chu kỳ điều trị với kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hiện nay trên thế giới
1.2.3.2. Chỉ định
a. Vô sinh do vòi tử cung
Đây là chỉ định phổ biến nhất của TTTON ở Việt Nam.Theo Nguyễn
Xuân Huy, tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2003, chỉ định TTTON do
tắc vòi tử cung là 81,9% .
6
Theo SART (2008), yếu tố vòi tử cung là chỉ định đứng hàng thứ 3
trong điều trị hỗ trợ sinh sản (8%), sau yếu tố nam (17%) và giảm dự trữ
buồng trứng (12%) .
Chỉ định IVF ở nhóm đối tượng này nên được đặt ra khi không có thai
sau một năm phẫu thuật nội soi tái tạo vòi, những bệnh nhân lớn tuổi hoặc có
dự trữ buồng trứng giảm, tắc hoàn toàn cả hai bên vòi tử cung. Nếu có ứ dịch
vòi tử cung thì nên cắt vòi tử cung trước khi làm IVF để loại bỏ hoàn toàn
dịch viêm có hại gây độc cho phôi và niêm mạc tử cung .
Bệnh viện Phụ sản Trung ương chỉ định TTTON do vô sinh không rõ nguyên
nhân là 5,8%
f. Vô sinh do miễn dịch
Các yếu tố miễn dịch gần như ảnh hưởng đến mọi bước trong quá trình
sinh sản do quá trình phá hủy các giao tử bởi kháng thể kháng tinh trùng hay
ngăn cản sự phân chia và phát triển sớm của phôi. Có thể chỉ định bơm tinh
trùng lọc rửa vào buồng tử cung hoặc có thể TTTON .
g. Thụ tinh nhân tạo thất bại
Thường chỉ định TTTON sau 3-6 chu kỳ thụ tinh nhân tạo thất bại.Tuy
nhiên chỉ định còn phụ thuộc vào các yếu tố khác, như người bệnh tuổi cao thì
có thể phải chỉ định sớm hơn. Theo J.Mck Tabot và M.Lawrence thì tỷ lệ thành
công của kỹ thuật TTTON cao gấp 3 lần kết quả thụ tinh nhân tạo .
h. Hiến noãn và hiến phôi (Donation of eggs and embryo).
Trong hiến noãn: đứa con sẽ là kết quả của tinh trùng chồng, noãn của
người hiến và môi trường tử cung của người vợ khi có thai và khi đẻ.
i. Mang thai hộ
Mang thai hộ được chỉ định cho những trường hợp bị cắt tử cung hay tử
cung bị dị dạng nặng mà vẫn còn buồng trứng. TTTON được thực hiện từ
trứng của người vợ và tinh trùng của người chồng. Người mang thai hộ sẽ
được chuyển phôi, mang thai và đẻ. Ở Việt Nam, Bộ y tế đang kiến nghị với
Quốc hội để ra nghị định mới cho phép mang thai hộ.
1.2.2.3. Chống chỉ định TTTON
8
- Vợ hoặc chồng (người cho noãn, mang thai hộ) có HIV (+)
- Vợ (người cho noãn, mang thai hộ) có các bệnh lý nội khoa có thể nguy
hiểm đến tính mạng khi kích thích buồng trứng hay khi có thai.
thuốc KTBT gây ra các nang noãn phát triển, trưởng thành và phóng noãn.
Hay có thể nói đây là tình trạng đáp ứng quá mức của cơ thể với các thuốc
kích thích buồng trứng trong các chu kỳ điều trị vô sinh
Các triệu chứng của hội chứng này xuất phát từ tình trạng tăng tính
thấm thành mạch gây tràn dịch đa màng. Các biểu hiện lâm sàng thường thấy
sau khi phóng noãn hoặc chọc hút noãn. Các triệu chứng chính của HCQKBT
bao gồm bụng chướng, tăng tính thấm thành mạch, dịch thấm giàu protein
thoát khỏi thành mạch. Hiện tượng này dẫn đến tình trạng cô đặc máu và tràn
dịch ở các khoang của cơ thể như màng bụng, màng phổi, màng tim
Tỷ lệ gặp HCQKBT có nhiều ý kiến khác nhau, đa số cho rằng do tiêu
chuẩn đánh giá khác nhau nên tỷ lệ đưa ra cũng khác nhau , ,
Cao Ngọc Thành (1992) thấy có 8/82 trường hợp điều trị HMG – hCG
bị quá kích, chiếm 9,7% . Trịnh thị Phương Nhung (2003) nghiên cứu 360 hồ
sơ tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2002 chỉ có 1 ca bị quá kích buồng
trứng, chiếm tỷ lệ 0,27% .
Theo các thống kê từ nhiều tài liệu trên thế giới, HCQKBT có thể gặp
khoảng 30% các trường hợp sử dụng các phác đồ KTBT, với mức độ từ nhẹ
đến nặng .
1.3.2. Phân loại
Trong nhiều năm qua HCQKBT được phân thành nhiều loại khác nhau.
Nhưng phổ biến là phân chia theo các thể nhẹ, trung bình và nặng. Việc phân
loại đầu tiên bởi Rabau (1967) dựa trên kích thước của buồng trứng hơn là
các triệu chứng lâm sàng. Sau đó cách phân loại được đề nghị bởi WHO
10
(1973) và bởi Schenker và Weistein (1978), các tác giả này tập trung nhiều
hơn vào các triệu chứng lâm sàng .
Dựa vào triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng HCQKBT thường được
ép tim, nguy hiểm đến tính mạng
- Tình trạng giảm thể tích nội mạch và cô đặc máu có thể nặng, dẫn đến
vô niệu, choáng. Hematocrit tăng rất cao, có thể đến 50- 55%. Tình trạng rối
loạn nước, điện giải cũng thường gặp
1.3.3. Phân loại QKBT của Gorlan (1989)
Loại
Nhẹ
Kích thước
buông trứng
5-10cm
Trung bình
Nặng
Độ
Triệu chứng
Độ 1
Độ 2
Bụng căng khó chịu
Độ 1+ buồn nôn, nôn và/ hoặc ỉa chảy
>10- 12cm
Độ 3
Độ 2+ siêu âm có dịch cổ chướng
có thể theo dõi tại nhà, trường hợp trung bình, nặng cần được nhập viện điều trị
để tránh các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân
Khi Bệnh nhân có triệu chứng của HCQKBT, Thầy thuốc cần đánh giá
đê quyết định điều trị tại nhà hay cần phải nhập viện. trong phần lớn các
trường hợp, bệnh nhân chỉ biểu hiện ở mức độ nhẹ. Nếu bệnh nhân hỉ có
chướng bụng, đau bụng, không nôn và tiêu chảy nhiều, bệnh nhân thường nhẹ
và có thể theo dõi tại nhà. Bệnh nhân cần được hướng dẫn nghỉ ngơi, uống
nhiều nước và theo dõi các triệu chứng có thể xảy ra để báo cho thầy thuốc
biết để được tư vấn và nhập viện khi cần thiết ,
Trong trường hợp bệnh nhân bắt đầu có triệu chứng đau bụng nhiều,
buồn nôn, không ăn được hoặc nôn nhiều, tiêu chảy, đái ít thì cần được nhập
viện để theo dõi và điều trị. Điều trị tại bệnh viện được áp dụng cho bệnh
nhân QKBT độ 2 và độ 3. Điều trị nội khoa là chính, chỉ ca thiệp phẫu thuật
khi cần thiết
1.3.5.1. Điều trị nội khoa
Nếu không có thai, QKBT sẽ rút đi nhanh chóng sau 10 – 12 ngày. Nếu
có thai thì triệu chứng QKBT sẽ tiến triển nặng lên và kéo dài hơn. Bệnh nhân
cần được theo dõi hàng ngày về diễn biến lâm sàng, các chỉ số cận lâm sàng
cần được theo dõi: ông thức máu, hematocrit, cân nặng, vòng bụng,cân bằng
dịch vào – ra, các chức năng gan, thận, cân bằng điện giải, tình hình cô đặc
máu, hiện tượng tắc mạch và tràn dịch các màng. Việc đánh giá và bù dịch
đóng vai trò quan trọng. Cần đảm bảo bù dịch và giảm cô đặc máu một cách
tườn đối trước khi sử dụng lợi tiểu. đặc biệt khi đe dọa tính mạng, cần cân
nhắc chấn dứt thai nghén ngay. Điều trị chống đông máu có chỉ định khi có
hiện tượng tắc mạch khối hoặc có tăng tình trạng cô đặc máu. Chọc hút dịch
màng bụng khi cổ chướng quá to, chọc hút dịch màng phổi khi khó thở do
13
còn phụ thuộc vào nhiều vấn đề khác như: tuổi, BMI, lối sống, phẫu thuật
vùng chậu trước đó, phác đồ kích thích buồng trứng sử dụng…
- Coasting trong KTBT là biện pháp làm một số nang noãn ở 2 buồng
trứng thoái hóa để giảm nguy cơ HCQKBT. “Coasting” được thực hiện bằng
cách ngừng FSH khi các nang noãn đã được sự phát triển theo yêu cầu và trì
hoãn tiêm hCG cho đến khi nồng độ estradiol giảm đến mức an toàn. Khi
nồng độ FSH giảm, các nang kích thước nhỏ và trung bình sẽ bị ảnh hưởng
nhiều hơn và bắt đầu thoái hóa, dẫn đến giảm chức năng chế tiết của các khối
tế bào hạt, giảm chế tiết các yếu tố gây kích hoạt HCQKBT. Sau đó, bệnh
nhân sẽ vẫn được tiêm hCG và chuyển phôi tươi.
Coasting chủ yếu thực hiện ở các chu kỳ với phác đồ dài. Các báo cáo
về “coasting” cho kết quả khác nhau về hiệu quả có thai. Một số báo cáo cho
thấy giảm tỉ lệ có thai, một số lại cho thấy có thể duy trì tỉ lệ có thai nếu thời
gian “coasting” không quá 3 ngày (Abdalla và Nicopoullos, 2010) . Tổng
quan trên thư viện Cochrane gần đây (D’Angelo và cs., 2011) không cho thấy
hiệu quả giảm tỉ lệ HCQKBT vừa và nặng của “coasting”, OR 0,53 (95% CI
0,23-1,23). Trong khi đó, số noãn thu thập được giảm có ý nghĩa thống kê
(OR -3,92, 95% CI -4,47 –3,37).
Như vậy, mặc dù là biện pháp khá phổ biến để dự phòng HCQKBT, cho
đến nay vẫn không có dữ liệu chứng minh hiệu quả của “coasting” trong việc
giảm nguy cơ HCQKBT vừa và nặng. Đặc biệt trong xu hướng sử dụng phác
đồ GnRH antagonist kết hợp FSH tác dụng kéo dài hiện nay và trong tương
lai, vai trò của “coasting” sẽ ngày càng thu hẹp.
- Sử dụng GnRH agonist để thay thế hCG
Chúng ta có thể sử dụng một liều GnRH agonist để kích hoạt đỉnh LH
nội sinh đủ để tạo sự trưởng thành noãn tương tự như trong tự nhiên, do đó
không cần sử dụng hCG vào cuối pha nang noãn như các phác đồ kích thích
15
Trong trường hợp bệnh nhân xảy ra HCQKBT thì việc trữ phôi, sử
dụng các phôi này chuyển vào buồng tử cung của người vợ trong chu kỳ sau
là một biện pháp quan trọng để tránh các tai biến do HCQKBT gây nên .
Hiện nay các trường hợp quá kích buồng trứng nặng, người ta sẽ đông
phôi toàn bộ, điều trị cho bệnh nhân khỏi các triệu chứng của quá kích buồng
trứng, sau đó sẽ chuyển phôi trữ lạnh cho bệnh nhân vào chu kỳ sau. Xu
hướng này đang được tăng lên ở các trung tâm hỗ trợ sinh sản vì người ta cho
rằng bệnh nhân được điều trị ổn định các triệu chứng quá kích buồng trứng và
được ổn định hơn về sức khỏe, tâm lý, các thay đổi nội tiết do dùng các thuốc
KTBT giảm hoặc mất đi. Mặt khác ở chu kỳ sau, niêm mạc tử cung sẽ được
chuẩn bị tốt hơn sẽ tạo điều kiện tốt cho phôi làm tổ và phát triển. Bên cạnh
đó chuyển phôi trữ lạnh là một giải pháp có hiệu quả kinh tế ( khoảng 5 triệu
so với 25 – 30 triệu cho một chu kỳ TTTON)
1.4.2. Các chỉ định trữ lạnh phôi
- Phôi dư
- Bệnh nhân bị quá kích buồng trứng, hoãn chuyển phôi đề phòng tai biến
- Niêm mạc tử cung không phù hợp để chuyển phôi
- Chuyển phôi khó do không qua được cổ tử cung
- Hiến tặng phôi
- Mang thai hộ
- trước điều trị bệnh ung thư bằng hóa chất hoặc trị liệu…
1.4.3. Các phương pháp trữ lạnh phôi
1.4.3.1. Phương pháp đông lạnh chậm (slow cooling)
Áp dụng cho đông lạnh phôi ở giai đoạn sớm: Từ 22 oC đến -7oC (tốc
độ hạ nhiệt 2 oC/ phút, tạo tinh thể đá ở -7 oC) đến -30oC (tốc độ hạ nhiệt
0,3- 0,5oC /phút) sau đó phôi được giữ trong nitơ lỏng ở -196oC
17
18
1.5.3. Các phác đồ chuẩn bị NMTC
1.5.3.1. Phác đồ nội tiết thay thế
- Chỉ định: cho mọi đối tượng còn kinh hay mất kinh, kinh nguyệt đều
hoặc không đều.
- Cách dùng: Ngày 2 có kinh bắt đầu dùng estradiol đường uống, liều
từ 2-6mg/ngày. Theo dõi độ dày và hình ảnh NMTC bằng siêu âm để thay
đổi liều estradiol sao cho niêm mạc tử cung tiếp nhận và phát triển đầy đủ
với estradiol. Thời gian sử dụng estradiol thường là 10 – 12 ngày. Tuy
nhiên theo một số nghiên cứu thời gian này có thể thay đổi từ 5 -35 ngày
mà kết quả vẫn không thay đổi. Progesterone có thể dùng đường đặt âm
đạo hay tiêm bắp. Chuyển phôi trữ lạnh được thực hiện sau sử dụng
progesterone 2- 3 ngày
1.5.3.2. Phác đồ ức chế tuyến yên bằng GnRHa
- Chỉ định: Cho các trường hợp buồng trứng còn chức năng
- Cách dùng: Cho GnRHa vào ngày 21 của vòng kinh. Từ ngày 1 – 2 có
kinh liều GnRHa giảm 1/2 đồng thời bắt đầu cho nội tiết để chuẩn bị NMTC
giống phác đồ nội tiết thay thế ở trên.
- Nhược điểm: Mất thời gian, phải dùng thuốc tiêm mà kết quả về độ
dày NMTC, tỷ lệ làm tổ và tỷ lệ thai không khác phác đồ nội tiết thay thế.
Hiện nay phác đồ này không còn áp dụng trong chu kỳ TTTON nữa.
1.5.3.3. Kích thích buồng trứng
- Chỉ định: Các trường hợp tiền sử NMTC mỏng khi chuẩn bị NMTC
bằng nội tiết thay thế.
- Cách dùng: Dùng FSH ngày 2 chu kỳ để KTBT, theo dõi NMTC sau
7 ngày dùng thuốc.
- Nhược điểm: Chi phí cao, phải tiêm thuốc.
20
công ở một trường hợp 63 tuổi và đây được ghi nhận là trường hợp phụ nữ
lớn tuổi nhất trên thế giới có thai bằng kỹ thuật xin trứng – TTTON
Các bằng chứng khoa học hiện nay xác nhận tử cung người có thể duy
trì khả năng mang thai rất lâu sau khi mãn kinh nếu được hỗ trợ của nội tiết
ngoại sinh
1.6.2. Nguyên nhân vô sinh
Theo J.X.Wang (2001)và cộng sự nhóm bệnh nhân < 40 tuổi chuyển
phôi đông lạnh bị tắc vòi tử cung có tỷ lệ làm tổ là 8,2% thấp hơn đáng kể so
với nhóm nguyên nhân khác 10,2%
1.6.3. Thời gian bảo quản phôi
Theo Nguyễn Thị Minh (2006) làm tại trung tâm Hỗ trợ sinh sản –
Bệnh viện Phụ sản Trung Ương, tỷ lệ phôi còn nguyên vẹn sau rã đông của
phôi độ 3 trước khi đông và kết quả có thai giữa thời gian bảo quản phôi dưới
12 tháng và 12- 22,5 tháng là không có sự khác biệt
1.6.4. Tuổi phôi trước đông
Đã có rất nhiều nghiên cứu so sánh kết quả sau chuyển phôi đông lạnh
ở các tuổi phôi khá nhau: Giai đoạn tiền nhân, giai đoạn phân chia sớm, giai
đoạn phôi nang. Phần đông các tác giả đều báo cáo rằng đông phôi giai đoạn
tiền nhân có tỷ lệ sống sau rã đông cao nhất. Tuy nhiên, tỷ lệ làm tổ và có
thai lâm sàng liên quan với tuổi phôi trước đông ở các nghiên cứu khác nhau
là rất khác nhau
• Đông phôi giai đoạn tiền nhân :
Có nhiều nghiên cứu đưa ra các ưu thế của đông phôi giai đoạn tiền
nhân so với các giai đoạn khác.
Theo nghiên cứu của Senn A 2000 , trên 382 bệnh nhân chia làm 3
nhóm. Nhóm 1 đông phôi giai đoạn tiền nhân, nhóm 2: đông phôi giai đoạn
phân chia sớm, nhóm 3 : 89 bệnh nhân không đông phôi được do phôi kém
22
nghiên cứu trên thế giới về đông phôi nangcho kết quả trái ngược nhau. Nói
chung các báo cáo gần đây cho thấy kết quả tốt hơn nhiều, có lẽ vì phương
pháp đông phôi nang đã được hoàn thiện dần dần
Phương pháp này đã được nhiều trung tâm TTTON ưa dùng vì tính tiện
lợi cũng như kết quả của nó cũng đang dần dần được khẳng định.
1.6.5. Số phôi sau rã đông được chuyển vào buồng tử cung
Số phôi được chuyển vào buồng tử cung tăng thì khả năng có thai tăng,
tuy nhiên luôn kèm theo nguy cơ đa thai. Theo P- O Karltrom: số phôi được
chuyển vào buồng tử cung là 3- 2 phôi thì tỷ lệ có thai là 27 – 23% cao hơn
đáng kể so với tỷ lệ có thai là 14% khi chỉ chuyển 1 phôi
1.6.6. Chất lượng phôi sau rã đông được chuyển vào buồng tử cung
Chất lượng phôi chuyển là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành
công của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. các chứng cớ đều cho thấy tỷ lệ có thai
giảm khi chasats lượng phôi chuyển kém. Tỷ lệ có thai giảm từ 53,8% ở bệnh
nhân có ít nhất một phôi tốt ( TQE – Top Quality Embryo) xuống 23,6% ở
bệnh nhân không có TQE.
Kết quả nghiên cứu trước đây tai Trung tâm hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện
Phụ sản Trung ương trên 50 trường hợp chuyển phôi đông lạnh không ghi nhận
trường hợp có thai nào ở nhóm bệnh nhân chuyển phôi kém (phôi độ 1).
Qua các nghiên cứu có thể thấy chất lượng phôi sau rã đông đóng vai
trò then chốt đối với tỷ lệ có thai. Đánh giá đúng chất lượng phôi chuyển sẽ
góp phần nâng cao tỷ lệ có thai đồng thời quyết định được số phôi chuyển để
giảm tỷ lệ đa thai cho bệnh nhân.
1.6.7. Ảnh hưởng của kỹ thuật chuyển phôi đến tỷ lệ có thai lâm sàng
Kỹ thuật chuyển phôi là rất quan trọng vì nó phản ánh trình độ của kỹ
thuật viên chuyển phôi và tỷ lệ thành công trong điều trị
phôi đông lạnh là 28,1%
24
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Chọn tất cả bệnh án chuyển phôi trữ đông của các trường hợp đông
phôi toàn bộ vì quá kích buồng trứng
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Các bệnh án chuyển phôi trữ đông của các trường hợp đông phôi toàn
bộ không phải vì quá kích buồng trứng
- Các bệnh án của bệnh nhân không đủ thông tin nghiên cứu
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang
2.2.2. Địa điểm
Tại trung tâm hỗ trợ sinh sản – Bệnh viện Phụ sản Trung ương
2.2.3. Cỡ mẫu
Tính cỡ mẫu theo công thức cỡ mẫu của nghiên cứu mô tả cắt ngang
N = Z2(1-α/2)
p.q
(ε.p)2
Trong đó: N là cỡ mẫu nghiên cứu
p: là tỷ lệ có thai chuyển phôi trữ lạnh vì quá kích buồng trứng bằng 48,3%
theo nghiên cứu của Ferraretti (1999)
chu kỳ, ≥ 3 chu kỳ
- Số ngày điều trị quá kích buồng trứng
- Phương pháp điều trị: truyền dịch, truyền Albumin
2.3.3. Đặc điêm phôi trước khi chuyển
- Chất lượng phôi chuyển: 1 phôi tốt, 2 phôi tốt, 3 phôi tốt, 4 phôi tốt
- Số phôi được chuyển vào buồng tử cung: 1 phôi, 2 phôi, 3 phôi, 4
phôi, 5 phôi