BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
CHƯƠNG TRÌNH THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN:
Khảo sát và đánh giá tình hình marketing các
sản phẩm mỹ phẩm nội địa có nguồn gốc hữu
cơ tại thị trường TPHCM nhằm nâng cao
năng lực tiêu thụ sản phẩm
Học viên:
Lớp:
GVGD:
MBA
Hồ Cao Việt
TP.HCM, tháng 06 năm 2016
I. Đặt vấn đề:
1. Tính cấp thiết của đề tài: Nhận diện về bối cảnh sản phẩm đâu là cơ hội đâu là thách
thức:
Về cạnh tranh giữa mỹ phẩm thông thường và mỹ phẩm nguồn gốc hữu cơ:
Ở nhiều quốc gia châu Âu, cũng như các nước phát triển trên thế giới, nhu cầu tiêu
thụ thực phẩm hữu cơ có mức tăng bình quân trung bình 20%, có nước tăng đến 50%
mỗi năm. Nắm bắt được nhu cầu này, các công ty mỹ phẩm trên thế giới cũng đã sản
xuất ngày càng nhiều các dòng mỹ phẩm có nguồn gốc thiên nhiên. "Tại châu Âu,
cũng như Bắc Mỹ, người tiêu dùng không còn chuộng những sản phẩm sử dụng hóa
là do những năm qua, thị trường mỹ phẩm bát nháo với hàng trôi nổi, thật giả lẫn lộn,
những thương hiệu cao cấp có giá quá cao, trong khi đó mỹ phẩm nội địa lại có xuất
xứ rõ ràng, được kiểm nghiệm của Bộ Y tế sẽ an toàn hơn rất nhiều so với hàng loạt
mỹ phẩm đính mác ngoại nhưng mập mờ nguồn gốc. Bên cạnh đó, ưu thế giá cả hợp
lý, chất lượng tốt, thương hiệu quen thuộc cũng là những yếu tố then chốt để các nhà
sản xuất đưa mỹ phẩm Việt tới gần hơn với người tiêu dùng, nhất là khi kinh tế khó
khăn, người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu.
Về cạnh tranh với các nhà sản xuất trong nước trong cùng ngành mỹ phẩm
Các thương hiệu quen thuộc đang đi theo xu hướng mỹ phẩm thiên nhiên như Miss
Saigon (Công ty CP Mỹ phẩm Sài Gòn), Thorakao của Công ty TNHH Sản xuất Mỹ
phẩm Lan Hảo, Thái Dương của Công ty CP Sao Thái Dương, La na, E 100 (Công ty
Đại Việt Hương)... còn có rất nhiều công ty mỹ phẩm trong nước cũng tung ra các
loại mỹ phẩm đa dạng chiết xuất từ nha đam, lô hội, cây chùm ngây, mủ trôm, bùn
khoáng, tảo biển Spirulina... các thương hiệu như Miss Sài Gòn, Thorakao... đã đầu
tư các dây chuyền sản xuất hiện đại và áp dụng công nghệ Nanotech (một công nghệ
tiên tiến trong sản xuất).
2. Tiềm năng của thị trường:
Theo Công ty Nghiên cứu thị trường Nielsen, mức chi của người tiêu dùng Việt Nam
cho mỹ phẩm bình quân chỉ 4 USD/người/năm, trong khi Thái Lan là 20 USD/người.
Tiềm năng này cộng với xu hướng sử dụng mỹ phẩm thiên nhiên đã khiến thị trường
mỹ phẩm Việt Nam tiếp tục sôi động nhất là tại thụ trường có sức tiêu thụ lớn như ở
TP.HCM.
Theo nhận xét của lãnh đạo cty Mỹ phẩm Lan Hảo những năm gần đây, tăng trưởng
của Thorakao tại thị trường trong nước là 30% nhưng thị trường xuất khẩu vẫn là chủ
lực. Đây là điểm yếu của các sản phẩm mỹ phẩm nội địa nói chung cũng như là điểm
rất yếu của sản phẩm mỹ phẩm có nguồn gốc hữu cơ do đưa được sản phẩm vào các
kênh quảng bá hiện đại, ít kinh phí và không xây dựng chiến lược để đầu tư phát
triển sản phẩm, thiếu các chương trình quảng cáo tiếp cận người tiêu dùng.
II. Mục tiêu nghiên cứu:
Giới tài chính. Có ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo nguồn vốn của công ty. Công
chúng trực tiếp cơ bản trong giới tài chính là ngân hàng, các công ty đầu tư, các công
ty môi giới của Sở giao dịch chứng khoán, các cổ đông.
Công chúng trực tiếp thuộc các phương tiện thông tin. Công chúng thuộc các phương
tiện thông tin là những tổ chức phổ biến tin tức, những bài báo và bài xã luận. Trước
hết đó là báo chí, đài phát thanh và đài truyền hình.
Công chúng trực tiếp thuộc các cơ quan Nhà nước. Ban lãnh đạo phải nhất thiết chú
ý đến tất cả những gì xảy ra trong lĩnh vực Nhà nước.
Các nhóm công dân hành động. Những quyết định marketing được các công ty thông
qua có thể gây nên những điều nghi vấn từ phía các tổ chức người tiêu dùng, các
nhóm bảo vệ môi trường, thay mặt của các dân tộc ít người…
Công chúng trực tiếp địa phương. công ty có quan hệ với công chúng trực tiếp địa
phương như những người dân sống ở vùng xung quanh và các tổ chức địa phương.
Quần chúng đông đảo. Công ty theo dõi chặt chẽ thái độ của quần chúng đông đảo
đối với hàng hóa và hoạt động của mình.
Công chúng trực tiếp nội bộ: bao gồm công nhân viên chức, những người tình
nguyện giúp đỡ, các nhà quản trị, các ủy viên Hội đồng giám đốc của công ty. Với
mục đích thông tin và cổ vũ công chúng trực tiếp nội bộ các công ty lớn phát hành
các tờ tin tức và sử dụng những hình thức thông tin khác. Khi công nhân viên chức
có thái độ tốt đối với công ty thì thái độ tốt đó của họ sẽ truyền lan ra các nhóm công
chúng trực tiếp khác.
2. Mục tiêu cụ thể:
Xác định các nhân tố tác động đến tình hình tiêu thụ sản phẩm mỹ phẩm nội địa có
nguồn gốc hữu cơ.
Nêu các giải pháp nâng cao năng lực tiêu thụ sản phẩm mỹ phẩm nội địa có nguồn gốc
hữu cơ. Phương pháp nghiên cứu:
Khái niệm về mỹ phẩm:
Theo cách hiểu thông thường, mỹ phẩm có nghĩa là sản phẩm làm đẹp, dùng chủ yếu
các sản phẩm như là làm căng, làm ẩm, làm láng, tái sinh, giảm béo, chống rụng
tóc…Với chuyên khoa da liễu, các tổn thương thuộc về lĩnh vực của da như: vảy
nến, chàm, mụn trứng cá…, dược mỹ phẩm về da là một công cụ bổ sung hiệu quả
cho các điều trị y khoa sản phẩm chống nhăn và lão hóa da.
Ngoài ra còn có thể phân loại mỹ phẩm theo các bộ phận mà nó cho tác dụng như
sau:
Da: xà bông tắm, sữa tắm, phấn hồng, phấn nền, bột thơm, nước hoa, chất làm trắng,
chất làm mềm, nước hoa, kem chống nắng, kem dưỡng da…
Lông tóc: dầu gội, dầu xả, thuốc nhuộm tóc, thuốc duỗi tóc, thuốc uốn tóc, gel vuốt
tóc, kem tẩy lông, kem cạo râu…
Mắt: bút kẻ mắt, kẻ lông mày, kem chải mi, mi mắt giả
Môi: son môi, chất làm ẩm môi, chất làm bóng môi…
Móng tay, chân: sơn, thuốc tẩy sơn…
3. Vai trò:
Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng với tốc độ phát triển cao. Tốc độ phát triển
kinh tế tăng nhanh, tất yếu kéo theo nhu cầu không ngừng nâng cao chất lượng cuộc
sống. Trong nhịp sống sôi động hiện nay, có một diện mạo đẹp vừa là một mong muốn
chính đáng,vừa là một yêu cầu tương đối cần thiết. Trong cuộc sống cũng như trong
công việc,có một ngoại hình đẹp, thu hút sẽ là một lợi thế không nhỏ. Tuy nhiên, không
phải ai cũng có được vẻ đẹp như mong muốn. Chính mỹ phẩm sẽ là một công cụ giúp
chúng ta hoàn thiện vẻ đẹp bề ngoài của bản thân. Mỹ phẩm vì vậy đã và đang thu hút
được sự quan tâm lớn của cả hai giới. Theo một cuộc điều tra nhỏ về nhu cầu sẻ dụng
mỹ phẩm thì có đến 39% người được hỏi đều trả lời là họ không bao giờ dùng mỹ
phẩm, vì họ cho rằng mỹ phẩm là những sản phẩm làm đẹp như: kem dưỡng da, phấn
trang điểm, các sản phẩm chăm sóc và bảo vệ da…
Trên thực tế, ngoài những sản phẩm như trên, mỹ phẩm còn bao gồm cả những chế
phẩm dùng khi tắm gội, sản phẩm chăm sóc răng miệng, xà phòng, nước hoa… Theo
đó, mỹ phẩm là sản phẩm gần như không thể thiếu với bất cứ ai.
Với quy mô dân số 83 triệu người, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và thu nhập của người
dân không ngừng được cải thiện, Việt Nam trở thành một thị trường béo bở cho các
gian thương mại. Những trung gian thương mại chủ yếu trên thị trường mỹ phẩm Việt
Nam hiện có là:
Nhà phân phối hay nhà cung ứng
Các nhà môi giới và đại lý
Cửa hàng bách hóa: bày bán nhiều loại sản phẩm khác nhau, mỗi mặt hàng là một
quầy riêng.
Siêu thị là những trung tâm bán lẻ lớn, chi phí thấp, tự phục vụ giá thấp, doanh số
bán cao.
Chợ với hệ thống các cửa hàng tiện dụng: là những cửa hàng bán lẻ nhỏ, chuyên bán
những sản phẩm phục vụ nhu cầu thường xuyên của người tiêu dùng.
Cửa hàng cao cấp: Chuyên bán những sản phẩm cao cấp ,chủ yếu là những sản phẩm
của các nhãn hiệu nổi tiếng với giá thành cao. Ngoài những trung gian hoạt động
chính thức kể trên, trên thị trường còn có thêm những người bán lẻ các sản phẩm mỹ
phẩm tự chế với số lượng đang có chiều hướng gia tăng.
Chiến lược xúc tiến hỗn hợp:
Xúc tiến hỗn hợp là một trong bốn nhóm công cụ chủ yếu chủ yếu của marketing mix
mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu nhằm đạt mục tiêu
kinh doanh của doanh nghiệp.Bản chất của các hoạt động xúc tiến chính là truyền tin về
sản phẩm và doanh nghiệp tới khách hàng để thuyết phục họ mua. Một số dạng phương
tiện truyền thông được sử dụng là :
Quảng cáo: là một kiểu truyền thông có tính đại chúng ,mang tính xã hội cao.Đây là
một phương tiện có khả năng thuyết phục,tạo cơ hội cho người nhận tin so sánh sản
phẩm của doanh nghiệp này với các sản phẩm của doanh nghiệp khác. Quảng cáo
có thể tạo ra hình ảnh cho hàng hóa, định vị nó trong người tiêu dùng. Một số
phương tiện quảng cáo mà các công ty thường sử dụng là: báo, tạp chí, tivi, radio,
quảng cáo trên internet, pano áp phích…
Bán hàng cá nhân: Là một công cụ hiệu quả nhất ở những giai đoạn hình thành sự ưa
thích và niềm tin của người mua và giai đoạn ra quyết định mua hàng. Nó đòi hỏi