SKKN thiết kế các bài giảng thực hành chương i phần sinh học cơ thể lớp 11 có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin - Pdf 37

BM 01-Bia SKKN

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Tam Phước
Mã số: ................................

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THIẾT KẾ CÁC BÀI GIẢNG THỰC HÀNH CHƯƠNG I
PHẦN SINH HỌC CƠ THỂ LỚP 11 CÓ SỰ HỖ TRỢ
CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Người thực hiện: Bùi Thảo Nguyên
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục



- Phương pháp dạy học bộ môn: Sinh Học 
- Lĩnh vực khác: ....................................................... 
Có đính kèm:
 Mô hình
 Đĩa CD (DVD)

 Phim ảnh

Năm học: 2014 -2015

 Hiện vật khác


BM02-LLKHSKKN

- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
“THIẾT KẾ CÁC BÀI GIẢNG THỰC HÀNH CHƯƠNG II, III, IV PHẦN SINH
HỌC CƠ THỂ 11 CÓ SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN”


THIẾT KẾ CÁC BÀI GIẢNG THỰC HÀNH CHƯƠNG I PHẦN
SINH HỌC CƠ THỂ LỚP 11 CÓ SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thời đại công nghệ thông tin (CNTT) hiện nay, chúng ta đang sở hữu
một thứ công cụ hết sức hữu hiệu, đó là tin học. Tin học có thể làm được nhiều
điều như giải những bài toán khoa học một cách chính xác; có thể lập trình làm
việc cho toàn bộ nhà máy; lưu trữ hàng ngàn hàng triệu dữ liệu; tìm kiếm, chỉnh
sửa một cách nhanh chóng,... Hơn thế nữa, chúng có thể ghi lại những bức hình,
những đoạn phim tư liệu; lập trình thành những bộ phim khoa học, chẳng hạn như
chuỗi xoắn kép ADN, quá trình nguyên phân, giảm phân,... Rõ ràng CNTT sẽ là
phương tiện hết sức thông minh, thể hiện sinh động những bài giảng, những bài
thực hành với hình ảnh, âm thanh chân thực, từ loại vi khuẩn kích thước vài
micromet đến chú cá voi khổng lồ, từ tiến trình kết trái ở loài lưỡng tính dài vài
ngày đến cú vồ mồi chớp nhoáng của sư tử,... Trong khi đó, những bài thực hành
trong chương trình sinh học trung học phổ thông (THPT) thường nằm ở cuối của
mỗi chương và rất quan trọng bởi lẽ, không những giúp học sinh củng cố lại kiến
thức của từng chương, giúp giáo viên đánh giá được mức độ tiếp thu bài của học
sinh mà nó còn rèn luyện các kỹ năng cần thiết cho người học, đồng thời phát triển
mục tiêu giáo dục với tính hướng nghiệp ngày càng cao. Tuy nhiên, trong giới hạn
nào đó việc tiến hành các tiết thực hành gặp nhiều khó khăn từ việc tìm kiếm, lựa
chọn hiện vật đến sự hạn chế về thời gian, không gian và dụng cụ, thiết bị,…
Chính vì thế, bài thực hành có sự hỗ trợ của CNTT sẽ cho phép khắc phục
những hạn chế kể trên, đồng thời giúp người học nắm bắt các thao tác giải phẫu
sinh học không chỉ chính xác mà còn rất “gọn gàng”. Rõ ràng sự kết hợp giữa tin
học và sinh học đem lại nhiều hứa hẹn trong tầm tay. Những thước phim sinh

học sinh phải tìm tòi suy nghĩ để nắm được bản chất của các sự vật hiện tượng,
trong đó có phương pháp thực hành thí nghiệm. J. J Ruxo cũng cho rằng phải
hướng học sinh tích cực tự giành lấy kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và
sáng tạo.
Vận dụng phương pháp thực hành vào dạy học đã được nhiều nhà giáo dục
trên thế giới quan tâm nghiên cứu như: B.P Exipop, M.A Danilop, M.N Scattin, I.F
Kharlamov, I.I Samova, M.N Veczelin (Nga), Skinner (Mỹ), Okon (Ba Lan).
Skinner (1904-1990) trong tác phẩm “Công nghệ dạy học” (1968) đã cho rằng:
dạy học là quá trình tự khám phá, và ông đã đưa ra mô hình dạy học khám phá
bằng việc sử dụng thí nghiệm thực hành.
Dạy học bằng phương pháp thực hành thí nghiệm đã được sử dụng ở nhiều
nước tiên tiến trên thế giới từ (Anh, Pháp Mỹ, Đức..), bắt đầu từ đầu thế kỷ XX và
phát triển rầm rộ từ nữa sau của thế kỷ này. Ở Pháp vào những năm 1980-1990, đã
có nhiều trường sử dụng phương pháp thực hành thí nghiệm trong dạy học và được
xem là phương pháp trọng tâm của các môn khoa học tự nhiên ở các trường trung
học. Năm 1980, ông Pie Giôliô Quiri - Viện trưởng viện hàn lâm Pháp đã khởi
xướng phương pháp Lamap - “Bàn tay nặn bột”, bắt nguồn từ thực trạng xuống cấp
của sinh viên các ngành khoa học tự nhiên. Với phương pháp này Viện hàn lâm
mong muốn mang đến một cơ hội để người học tiếp cận khoa học bằng các bài học
thực tiễn chứ không phải các bài giảng thuần túy lí thuyết. Theo phương pháp này,
lớp học được chia thành nhiều nhóm (4 học sinh/nhóm). Mỗi nhóm được giao các
tài liệu và các yêu cầu khác nhau liên quan đến các bài học. Căn cứ vào yêu cầu,
các nhóm sẽ lựa chọn các vật dụng cần thiết cho việc thực hành thí nghiệm. Các
vật dụng thường đơn giản dễ tìm. Các nhóm sẽ thảo luận cách thức thực hiện các
bài thí nghiệm, trình bày các hiểu biết mà mình khám phá được. Trong suốt quá
trình các nhóm làm việc, giáo viên chỉ đóng vai trò là người quan sát hướng dẫn.
Tại một số nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Bộ Giáo dục
và Đào tạo các nước này cũng đã đưa phương pháp Lamap vào chương trình học
chính khóa trong trường phổ thông. [18], [19],[24].


cứu các hiện tượng sinh học, vì:
Thí nghiệm (TN) là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là cơ sở
xuất phát cho quá trình nhận thức của HS.
TN là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn. Vì vậy nó là phương tiện duy nhất
giúp hình thành ở HS kỹ năng, kỹ xảo thực hành và tư duy kỹ thuật.
TN giúp HS đi sâu tìm hiểu bản chất của hiện tượng, các quá trình sinh học


TN do giáo viên biểu diễn phải là mẫu mực về thao tác để qua đó HS học
tập, bắt chước. Dần dần, khi HS tiến hành được TN, họ sẽ rèn luyện được kỹ năng
thực hành, TN.
TN có thể sử dụng để tổ chức hoạt động nhận thức của HS với các mức độ
tích cực, tự lực và sáng tạo khác nhau: thông báo, tái hiện (bắt chước), tìm tòi bộ
phận, nghiên cứu.
Tóm lại, TN được sử dụng để học bài mới; củng cố, hoàn thiện kiến thức;
kiểm tra, đánh giá kiến thức, TN có thể do giáo viên biễu diễn, hoặc HS tự tiến
hành. TN có thể tiến hành trên lớp, trong phòng TN, ngoài vườn, ruộng hoặc tại
nhà.
a. Các loại công tác thực hành
Tùy theo đối tượng TH, công tác TH có thể phân ra bốn dạng sau:
1. TH quan sát, nhận biết, sưu tập các mẫu vật.
2. TH quan sát trên các tiêu bản hiển vi.
3. TH nuôi, trồng thí nghiệm các động vật, thực vật.
4. TH các thí nghiệm dài ngày ở nhà, trong phòng thí nghiệm (các thì
nghiệm về sinh lí, sinh hóa, giải phẩu động vật, .v.v.)
Tùy theo logic tổ chức hoạt động nhận thức của HS (dựa theo mặt bên trong
hay bên ngoài của PPDH), công tác TH có thể có các dạng sau:
1. Công tác TH là nguồn thông tin dạy học.
2. Công tác TH để củng cố, minh họa kiến thức đã lĩnh hội từ các nguồn
thông tin khác như lời nói của thầy, đọc sách, đọc tài liệu tham khảo .v.v.

[6]
Từ các loại công tác thực hành và yêu cầu của công tác thực hành đối với
giáo viên chúng ta đều có thể áp dụng công nghệ thông tin để để hỗ trợ trong việc
thiết kế bài giảng được tốt hơn, đáp ứng được các loại công tác thực hành và yêu
cầu của phương pháp thực hành thí nghiệm nó giúp cho học sinh quan sát được
những thí nghiệm khó khi không có dụng cụ thí nghiệm, thí nghiệm dài ngày .v.v
cho các em quan sát kỹ thuật khi thực hành một cách chuẩn xác hơn, toàn bộ học
sinh đều có thể quan sát rõ (do sử dụng máy chiếu nên phông màn to và rõ).
2.2.1.2. Cơ sở khoa học của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong
dạy học
a. Sự cần thiết phải ứng dụng CNTT
Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội đối với việc đào tạo nguồn nhân
lực trong giai đoạn mới.
Do sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa học
công nghệ.
Đối tượng giáo dục cũng có sự thay đổi do những tác động rất lớn của xã hội
Do xu thế hội nhập trên thế giới hiện nay.
b. Vai trò của CNTT trong dạy học
CNTT có vai trò quan trọng cần triệt để khai thác khi dạy và học. CNTT
giúp cho người dạy và người học chọn nhập và xử lý thông tin nhanh chóng để


biến thành tri thức. Ngoài ra CNTT đang hình thành một khía cạnh văn hoá mới,
nó sẽ được tiếp nhận tốt nhất ở tuổi trẻ, nó giúp cho người học định hướng tư duy
và xác định thái độ học tập tích cực của mình trong thời kỳ mới.
CNTT giúp cho giáo viên không chỉ có thể truyền thụ kiến thức mà còn hỗ
trợ học sinh tìm chọn và xử lý thông tin. CNTT giúp cho giáo viên soạn giáo án
điện tử, có thể sử dụng thiết kế và quản lý khoá học điện tử, khoá học trực tuyến.
CNTTcó thể giúp bất kỳ một nhà giáo nào cũng dễ dàng được truyền bá rộng rãi
đến số lượng người học đông hơn nhiều so với trước đây, không chỉ giới hạn trong

trọng nhất là trong điều kiện thực tế của các trường THPT, như phần mềm MS
Office, Power point, Violet (thiết kế và trình diễn), GIF Movie Gear (làm hoạt
hình), Windows Movie Maker (làm phim), Crocodille Clips (tạo các thí nghiệm


mô phỏng)... Sinh học là bộ môn khoa học thực nghiệm gồm hệ thống cơ chế, quá
trình, quy luật... có tính trừu tượng cao nên có nhiều ưu thế nếu ứng dụng công
nghệ thông tin vào dạy bài thực hành sẽ giải quyết được tình trạng, thiếu dụng cụ,
nguyên liệu thí nghiệm, những thí nghiệm dài ngày .v.v. chẳng những thế nếu ứng
dụng CNTT có thể giúp giáo viên hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm thực hành 1
cách dễ dàng, chuẩn xác.v.v. Rèn luyện cho học sinh những kỹ năng quan sát, phân
tích, tổng hợp, so sánh.
2.2.1.3. Các phương tiện dạy học môn sinh học
a. Phân loại phương tiện dạy học trực quan sinh học
Phương tiện dạy học trực quan là tất cả các đối tượng nghiên cứu, được tri
giác trực tiếp nhờ các giác quan. Trong dạy học sinh học có 3 loại chính:
+ Vật thật: Mẫu vật sống, mẫu ngâm, mẫu nhồi, tiêu bản ép khô, tiêu bản
hiển vi ..v.v.
+ Vật tượng hình: Mô hình, sơ đồ, tranh vẽ, ảnh, phim đèn chiếu, phim
video, biểu đồ .v.v.
+ Thí nghiệm
b. Giá trị của phương tiện dạy học dưới sự hỗ trợ của CNTT
Nhờ việc ứng dụng công nghệ thông tin trong tiết dạy sẽ giúp khả năng lưu
giữ thông tin của học sinh tốt hơn vì học sinh có thể được đọc, nghe, nhìn, nghe và
nhìn thảo luận  Thu nhận kinh nghiệm bằng hành động  Truyền đạt cho
người khác. Khả năng lưu giữ thông tin sẽ là :
+ Đọc : 5%
+ Nghe : 15%
+ Nhìn : 20%
+ Nghe + nhìn : 25%

giúp các em quan sát được những hình ảnh sống động, những đoạn phim chân thực, âm
thanh, màu sắc tinh tế, mà sách không thể trình bày được.
Hiệu ứng rõ nét nhất chính là sức thu hút của giáo án điện tử đến các giác quan,
khiến chúng kích thích sự lắng nghe, phác họa và phản hồi của các em về vấn đề mà các
em đang tìm hiểu. Điều này giúp chuyển tải đầy đủ nội dung bài học trong thời gian
ngắn, bớt đi gánh nặng về ghi chép cho học sinh.
Các em còn cho biết nếu được học những bài thực hành có sự hỗ trợ CNTT các
em sẽ nắm bắt được nội dung một cách chính xác và nhẹ nhàng hơn. Qua đó các em có
thể thuộc bài ngay trên lớp và áp dụng để giải thích các hiện tượng có liên quan khác. Từ
đó không chỉ đem lại sự khái quát tốt hơn trong phương pháp luận cho học sinh mà còn
gợi mở những con đường tiếp cận, lĩnh hội kiến thức một cách sáng tạo hơn.
Tóm lại (nhận định chung)
Từ tình hình thực tế, tôi nhận thấy phòng thí nghiệm bô môn sinh học ở một số
trường còn thiếu nhiều trang thiết bị, hóa chất, có trường chưa có phòng thí nghiệm,
nhiều giáo viên chưa vận dụng thành thạo, rộng rãi tin học trong các bài thực hành. Do
đó, chưa đáp ứng được hết các yêu cầu của bài thực hành và chưa phát huy được hiệu
quả của CNTT trong hỗ trợ việc giảng dạy thực hành. Từ cơ sở thực tiễn trên đây đã
khẳng định việc thực hiện sáng kiến với đề tài này là rất thiết thực và đúng hướng. Trong
phạm vi của sáng kiến, giải pháp được đưa ra là “Thiết kế các bài giảng thực hành
chương I phần sinh học cơ thể lớp 11 có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin”.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP


Với mục tiêu góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy các bài thực hành sinh
học, sáng kiến nhằm xây dựng các bước thiết kế và nguyên tắc cần thiết trong việc
thiết kế bài thực hành có sự hỗ trợ của CNTT như sau:
3.1 Các bước thiết kế bài thực hành có sự hỗ trợ của CNTT
Bước 1: Xác định mục tiêu của bài thực
hành
Bước 2: Tìm kiếm tư liệu

mềm này ta có thể tự động lấy link), trình duyệt Coccoc, trình duyệt Opera Mini
trên điện thoại,…
Phần mềm cắt, ghép hình: Photoshop, paint, word…
Phần mềm cắt, ghép phim, chuyển đổi đuôi phim: Xilisoft Video Converter
Ultimate
Phần mềm lồng tiếng, ghép hình thành 1 đoạn phim…: ProShow Producer,
InterVideo WinDVD Creator 2 ….
Bước 4: Thiết kế kịch bản, soạn giáo án.
Khi đã có tư liệu phù hợp cho bài thực hành, trước tiên chúng ta cần thiết kế
kịch bản và soạn giáo án, để làm tiền đề thiết kế bài giảng thực hành có sự hỗ trợ
CNTT một cách thuận lợi và nhanh chóng.
Bước 5: Thiết kế bài giảng thực hành có sự hỗ trợ CNTT.
Tiến hành thiết kế bài giảng thực hành có sự hỗ trợ CNTT và sửa chữa để
hoàn tất
3.2 Các nguyên tắc của việc thiết kế giáo án thực hành kết hợp CNTT.
Thứ 1: Phải đảm bảo được mục tiêu của bài thực hành.
Thứ 2: Phải xử lý được một số thủ thuật cơ bản của CNTT.
Về hình ảnh như: xóa chữ, cắt bớt, thêm một số chú thích vào hình, bằng
một số phần mềm như photoshop, paint, word…
Về phim như cắt phim, ghép phim, .. có thể sử dụng phần mềm: Xilisoft
Video Converter Ultimate, InterVideo WinDVD Creator 2
Thứ 3: Phải biết tìm kiếm và lấy được những tư liệu, hoặc xây dựng được tư
liệu.
Ví dụ: những đoạn phim không cho download có thể sử dụng phần mềm
oribit để có được những thước phim đó.


Chú ý: khi quay phim không nên để máy ảnh, máy quay dao động quá nhiều,
sẽ là khó chịu cho người xem.
Thứ 4: Phải biết liên kết phim ảnh vào bài giảng thực hành.


Phim: Thí nghiệm trồng cây ngoài
vườn

3.3.2 Bài thực hành:Tách chiết sắc tố từ lá và tách các nhóm sắc tố bằng
phương pháp hóa học (Bài 13, Sinh học 11 nâng cao).
a. Mục tiêu nội dung của bài
Quan sát được hỗn hợp sắc tố rút ra từ lá có màu xanh lục và khi tách được hai
nhóm sắc tố riêng rẽ sẽ quan sát được nhóm diệp lục (clorophyl) có màu xanh lục, nhóm
carotenoit có màu vàng.
Củng cố kiến thức đã học học về sắc tố quang hợp ở các bài lý thuyết.
Rèn luyện kỹ năng thao tác với các dụng cụ và hóa chất trong phòng thí nghiệm
đặc biệt là kĩ năng tách chiết hỗn hợp dung dịch màu.
b. Thực trạng hiện nay của 13 có những khó khăn sau:
Axeton, và benzen đều là những hóa chất có khả năng bốc hơi vì vậy rất khó bảo
quản, với axeton thì có thể thay thế bằng cồn 900 nhưng bezen không thể thay bằng hóa
chất khác có thể dễ tìm, dẫn đến có thể thiếu hóa chất không thể làm thí nghiệm được.

c. Hướng giải quyết những thực trạng khó khăn trên:
Để khắc phục điều khó khăn đó chúng ta có thể thay thế bằng đoạn phim tách
chiết sắc tố, để các em quan sát sau đó thảo luận và hoàn thành bản thu hoạch và trả lời
những câu hỏi đầy đủ hơn.


Sau đây là đoạn phim có thể hỗ trợ thiết kế bài giảng thực hành 13

3.3.3 Bài thực hành: Chứng minh quá trình hô hấp tỏa nhiệt. (Bài 14, Sinh
học 11 nâng cao).
a. Mục tiêu nội dung của bài
Minh họa bài giảng về hô hấp là quá trình oxi hóa các hợp chất hữu cơ để giải

quan sát được.

c. Hướng giải quyết những khó khăn của bài:


Chúng ta có thể cho các em xem 2, 3 đoạn phim về thí nghiệm trên, do vậy học
sinh vẫn có thể quan sát được 2 quá trình thí nghiệm đó là thí nghiệm 1 và 3 một cách rõ
ràng từ đó học sinh vẫn có thể hoàn thành bảng thu hoạch.
Nếu có đầy đủ dụng cụ thì thiết kế bài giảng thực hành có sự hỗ trợ CNTT sẽ
hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm một cách rõ ràng hơn.

Phim: Hủy tủy ếch

Phim: Quan sát hoạt động tim

Hình: tĩnh quan sát ở màng treo ruột


Phim: Tìm dây thần kinh mê tẩu
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Từ việc xây dựng nguyên tắc, quy trình xây dựng bài giảng thực hành phần kiến
thức sinh học 11 THPT có sự hỗ trợ của CNTT, giải pháp đạt một số hiệu quả sau:
Về chất lượng lĩnh hội kiến thức, năng lực tư duy:
Học sinh có phản ứng tích cực hơn trong việc nhận thức sâu sắc với kiến thức mà
bài học chuyển tải, tạo được sự hứng thú và phát huy tính sáng tạo năng lực tư duy trong
học tập cũng như thực hành.
Về khả năng vận dụng kiến thức:
Khả năng vận dụng kiến thức được học của những bài thực hành vào đời sống tốt
hơn nhóm đối chứng, các em có thể xem lại những bài thực hành đó trên máy tính của
mình ở nhà.

thiết phải soạn giảng hoàn toàn trên máy tính mà có thể sử dụng CNTT ở một số nội
dung cần thiết như trình chiếu hình ảnh, phim, bài tập, thí nghiệm,...
5.2 Khuyến nghị
Sở Giáo dục và Đào tạo cùng các trường nên tổ chức thường xuyên những tiết dạy
chuyên đề mẫu có ứng dụng CNTT, có các tài liệu và các buổi tập huấn hướng dẫn
những kỹ năng cơ bản về CNTT cho giáo viên.
Các cấp quản lý cần hỗ trợ kinh phí để trang bị các phương tiện máy chiếu, máy
tính phục vụ việc soạn bài giảng điện tử, tiếp tục đầu tư trang thiết bị đồ dùng dạy học
cho giáo viên. Mỗi trường cần có phòng thí nghiệm bộ môn riêng, cần cung cấp đầy đủ
dụng cụ thí nghiệm nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho các em, giúp các em
có niềm tin vào khoa học hơn.
Kho tư liệu hình, phim trên mạng cũng có rất nhiều. Vì vậy, các giáo viên giảng
dạy cần khai thác, chọn lọc và sử dụng một cách hiệu quả. Một số tư liệu còn thiếu, cần
thiết kế và bổ sung thêm cho bộ môn Sinh học nói chung và phần thực hành nói riêng.
Đối với những bài cần quan sát lâu ngày có thể sử dụng CNTT để rút ngắn thời
gian quan sát, ví dụ: Quan sát sinh trưởng và phát triển ở động vật, Bài ứng động.v.v.
Ngoài ra, với những bài khác có đầy đủ dụng cụ, điều kiện thí nghiệm chúng ta cũng có
thể kết hợp CNTT vào bài thực hành. Nó giúp cho toàn bộ học sinh trong lớp có thể quan
sát kỹ hơn, rõ hơn khi hướng dẫn thí nghiệm, các em cũng có thể lưu giữ lại những dữ
liệu để khi cần thiết, có thể sử dụng lại, có thể tự tiến hành thí nghiệm lại.

VI. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt


1. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (2001), Lý luận dạy học sinh học Phần đại cương, NXB Giáo dục, Hà Nội.
2 Hà Lệ Chi (2003), Sử dụng tình huống để rèn luyện một số kỹ năng nhận
thức cho học sinh trong dạy học sinh học ở trường trung học phổ thông” Luận văn
thạc sĩ Giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm, Huế.
3. Nguyễn Thị Dung (2006) “Tích cực hóa hoạt động học tập trong giờ thực

16. Đào Như Phú (1998), Thí nghiệm thực hành Sinh học ở trường THPT, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
17. Thái Duy Tuyên (2003), “Phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của
người học”, Tạp chí Giáo dục, (48), tr. 13-14.
18. Vũ Văn Vụ, Vũ Đức Lưu, Nguyên Như Hiền, Trần Văn Kiên – Nguyễn
Duy Minh – Nguyễn Quang Vinh (2006), Sinh học 11 nâng cao, NXB Giáo dục,
Hà Nội.
19.Vũ Văn Vụ, Vũ Đức Lưu, Nguyên Như Hiền, Trần Văn Kiên – Nguyễn Duy
Minh – Nguyễn Quang Vinh (2006), Sinh học 11 nâng cao sách giáo viên, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
20. W.D.Phillips – T.J.Chilton (Nguyễn Bá – Nguyễn Mộng Hùng – Trịnh Hữu
Hằng – Hoàng Đức Cự - Phạm Văn Lập – Nguyễn Xuân Huấn – Mai Đình Yên
dịch) (2006), Sinh học tập, NXB Giáo dục, Hà Nội.
21. Phan Thị Loan, Võ Thị Bích Thủy (2009) , "Sử dụng phần mềm
Macromedia flash trong dạy học các thí nghiệm sinh học" ,
, 04/09/2009
Tiếng Anh
22. Hemminger BM, Losi T, Bauers A (2005). Journal of the American Society
for Information Science and Technology , 56 (5) : 529-537. Publisher Full Text
23. Bates, MJ (1999). The invisible substrate of information science. Journal of
the American Society for Information Science 50(12), 1043–1050.
24. BISTIC Definition Committee (2005). NIH working definition of
bioinformatics and computational biology.
[ ] webcite.

VII. PHỤ LỤC
GIÁO ÁN 1
THỰC HÀNH:
THOÁT HƠI NƯỚC VÀ BỐ TRÍ NGHIỆM VỀ PHÂN BÓN
I. Mục tiêu bài học :


- HS tiến hành thí nghiệm nếu có
đầy đủ dụng cụ “cân”
- Chuẩn bị cân ở trạng thái cân
bằng


BÀI 6: THỰC HÀNH: THOÁT NƯỚC
VÀ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM PHÂN BÓN

- Đặt lên đĩa cân 1 lá cây, cân khối
lượng ban đầu (P1g)
- Để lá cây thoát hơi nước trong
vòng 15 phút
- Cân lại khối lượng (P2g)
- Đem lá đặt lên giấy ôli, vẽ chu vi
và tính diện tích (dm2) theo số ôli
(mỗi ôli là 1cm2 ) “hoặc sử dụng
công thức tính diện tích lá”

Giáo viên mở tiếp slide 2: xác định mục tiêu
cần đạt của bài học.
- Tính cường độ thoát hơi nước
theo công thức:
I. M ục tiêu
- Thấ
Thấy rõ l á cây thoá
thoát hơi nướ
nước , c ó thể
thể xác định đượ


-

Các loạ
loại phân urê,
urê, phôtphat và kali: hạt đậ u, ngô,
ngô, c át m ịn và
m ùn cưa.
cưa.

Giáo viên mở slide 3: Để học sinh chuẩn bị
viết bài thu hoạch

1.

2.

3.

BÀ I THU HOẠ
HOẠCH
Tườ
Tườ ng trì
trì nh thí
thí nghiệ
nghiệ m đo cườ
cườ ng độ
độ
thoá
thoát hơi nướ


Giáo viên chiếu slide 4
Hướng dẫn học sinh cách tính diện tích và
cường độ thoát nước của lá.

I = (P1-P2) x 60 : 15 x S g/dm2/giờ
* Nếu không đủ dụng cụ, học sinh
quan sát và lấy số liệu sau đó tính
cường độ thoát hơi nước.


III. Cách tiế n hành
1. Đo cườ
cường độ thoá
thoát nướ
nước bằng phương phá
pháp cân nhanh
- Công thứ
thức tính cườ
cường độ thoá
thoát nướ
nước:

I

( P1  P2 )  60
g / dm 2 / gio
15  S

- P1 (gam)

phim về phương pháp cân nhanh (chia lớp
thành 5 nhóm) từ số liệu đó tính cường độ
thoát nước của từng lá thảo luận và so sánh.



Sung

Hoa s ứ

Hoa giấy

Mít

Mùng tươi

I
So sánh cường độ thoát nước của các lá thí nghiệm?
Lá non thoát hơi nước mạnh hơ n lá già.
Lá để nơi có gió thoát hơi nước mạnh hơn lá để nơi lặng gió.

- Lưu ý cho HS so sánh giữa các loại lá ?
- Ở khoai lang, lá đậu xanh mạnh hơn lá xà
cừ, lá bạch đàn
- Lá non thoát hơi nước mạnh hơn lá giá .
- Lá để nơi có gió thoát nước mạnh hơn lá
để nơi lặng gió.
2. Thí nghiệm về các loại phân hóa học chính :
a. lấy 3 cốc đựng 3 loại phân hóa học: urê, lân, kali
Giáo viên chiếu silde 6:

b. Thí nghiệm trồng cây ngoài vườ n.
Đất làm tơi, đánh luống hoặc trồng trong chậu hay hộp (lặp lại 3 lần)
bằng cách sau: trộn 2 phần cát mịn với một phần mùn cưa, tưới
nước ẩm 70%, gieo hạt vào các chậu có độ sâu giống nhau.
Bón phân theo công thức sau:
0. Không bón phân
1. Bón phân đầy đủ N, P, K
2. Bón phân N, P (thiếu K)
3. Bón phân N, K (thiếu P)
4. Bón phân P, K (N)
Mỗi công thức lặp lại 3 lần (theo sơ đồ):

1
3
0

2
4
1

3
0
2

4
1
3

0
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status