sáng kiến kinh nghiệm khai thác kênh hình trong dạy học tích cực môn địa lí 10 - Pdf 37

Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Để đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông các nước trong khu
vực và trên thế giới, từ nhiều năm nay, nước ta đã đề cập đến việc đổi mới nội dung và
phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học.
Các phương pháp dạy học truyền thống – lấy giáo viên làm trung tâm đang
dần được thay thế bằng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực – lấy học sinh
làm trung tâm. Điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi về phương pháp trong công tác
giảng dạy của người giáo viên, trong đó phương pháp trực quan và phương pháp thực
hành là các phương pháp dạy học tích cực đang được nhiều giáo viên quan tâm áp
dụng. Bởi vì:
- Trước đây, các nhà phương pháp dạy học địa lí và các nhà địa lí học nổi tiếng
của Liên Xô như: N.Nbaranxiki, A.C Barcov, V.P Buđanov...và nhiều người khác cho
rằng: muốn dạy học địa lí có kết quả tốt thì tính trực quan trong dạy học là điều rất cần
thiết.
- Gần đây, các nhà phương pháp nổi tiếng của các nước khác như: I.I.Alecne,
I.D.Dvere...và các nhà phương pháp của Việt Nam nói chung, cũng như các nhà
phương pháp dạy học địa lí nói riêng, khi nghiên cứu về phương pháp dạy học tích
cực cũng cho rằng, phương pháp trực quan tích cực hơn phương pháp dùng lời,
phương pháp thực hành tích cực hơn phương pháp trực quan trong dạy học địa lí. Như
vậy phương pháp trực quan, phương pháp thực hành trên kênh hình được các nhà
phương pháp đánh giá rất cao trong giảng dạy địa lí, vì nó có ý nghĩa rất lớn trong
việc tiếp thu kiến thức của học sinh. Ngoài kiến thức địa lí được tàng trữ ở kênh chữ
dưới dạng các khái niệm, thì các kiến thức địa lí còn được tàng trữ trong kênh hình rất
đa dạng, Số hóa bởi chúng có tính trực quan cao và tính diễn giải logic các hiện tượng

2. Mục đích nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận của việc sử dụng kênh hình trong dạy học địa lí lớp 10 theo
hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh.
- Nêu những nguyên tắc sử dụng kênh hình trong dạy học đia lí.
- Xây dựng quy trình sử dụng bản đồ, tranh ảnh, biểu đồ, hình vẽ và bảng biểu trong
việc hình thành kiến thức địa lí cho học sinh lớp 10, ở trường THPT Chu Văn An

3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tham khảo các tài liệu khoa học đã công bố ở trong và ngoài nước để xây dựng cơ
sở lí luận cho đề tài
- Điều tra và khảo sát, xây dựng quy trình sử dụng kênh hình trong việc giảng dạy Địa
lí 10
- Thực nghiệm sư phạm ở học sinh lớp 10 trường THPT Chu Văn An để khẳng định
tính đúng đắn và tính khả thi của đề tài

4. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Để đáp ứng yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của đất nước, góp phần đổi
mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, nhiều nhà khoa học giáo dục trong và
ngoài nước đã nghiên cứu việc khai thác kênh hình trong sách giáo khoa địa lí theo
hướng tích cực:
- PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, Phương tiện, thiết bị kĩ thuật trong dạy học địa
lí, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2000
- PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, Phương pháp sử dụng các phương tiện dạy học
địa lí ở trường phổ thông, NXB Giáo Dục, năm 1998.
- Tiến sĩ Hoàng Việt Anh, Vận dụng phương pháp Graph vào giảng dạy địa lí
lớp 6 và lớp 8, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, năm 1993.
- PGS-TS Nguyễn Trọng Phúc, Phương pháp sử dụng số liệu thống kê trong
dạy học địa lí kinh tế- xã hội, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm 1997.
Nghiên cứu các đề tài của các nhà khoa học giáo dục, chúng ta nhận thấy rằng
việc hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình trong sách giáo khoa địa lí đã tạo điều


Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 3


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận dạy học
1.1.1.Khoa học Địa lí - Môn học Địa lí
- Bài học địa lí là một hệ thống khoa học Địa lí ngày nay đã trở thành một hệ
thống gồm nhiều ngành khoa học có đối tượng và nhiệm vụ khác nhau, trong đó có
hai ngành chủ yếu là Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội. Hai ngành này tuy có
mục đích, đối tượng và phương pháp nghiên cứu không hoàn toàn giống nhau nhưng
chúng không thể tách rời nhau, vì cùng có đối tượng nghiên cứu chung về mặt không
gian là “sự tổ chức lãnh thổ các cấp”. Tương ứng với Khoa học Địa lí là môn học Địa
lí trong nhà trường phổ thông. Môn Địa lí phổ thông cũng gồm có hai ngành khoa
học: Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội và được phản ánh trong chương trình
gồm cả hai phần: Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội.
+ Trong Địa lí tự nhiên, học sinh được học hệ thống kiến thức địa lí tự nhiên.
+ Trong Địa lí kinh tế - xã hội, học sinh được học hệ thống kinh tế - xã hội.
- Toàn bộ hệ thống kiến thức địa lí đã được chọn lọc, sắp xếp theo một hệ
thống trong từng lớp học từ dưới lên trên: từ Địa lí tự nhiên học đến kinh tế - xã hội,
hệ thống kiến thức đại cương được cung cấp làm cơ sở cho địa lí khu vực. Hệ thống
kiến thức trong từng lớp học lại được sắp xếp logic trong các bài học địa lí. Hệ thống

trong nhà trường. Như vậy, các nhà sư phạm đã thực hiện chức năng thứ nhất, biến
khoa học lớn thành môn học, từ đó giáo viên mới thực hiện chức năng thứ hai, biến tri
thức của môn học ấy thành tài sản riêng của mỗi học sinh.
1.1.4. Khái niệm là một hệ thống
Mỗi đối tượng, hiện tượng đều là một khái niệm vật chất, nó có nội dung và
hình thức diễn đạt trong hiện thực. Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng, giữa
hình thức và nội dung của các đối tượng và hiện tương địa lí, đó là lôgic phát triển bên
trong của khái niệm được diễn đạt một cách trung thực qua các hình thức của nó. Nội
dung và hình thức có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời. Trong hiện thực, ta
không thể tách nội dung khái niệm ra khỏi hình thức của nó, vì vậy có thể nghiên cứu
nội dung ấy thông qua việc theo dõi các hình thức tất yếu của nó. Đây là sự nhận thức
cảm tính đầu tiên. Sau đó tiếp tục nhận thức bằng cách phân chia đối tượng làm hai,
phần tồn tại trong hiện thực và phần diễn đạt nó trong tư duy, một cách nhân tạo võ
đoán (võ đoán chính là dùng kí hiệu, ngôn ngữ...tổ hợp lại thành khái niệm). Cuối
cùng, phải xác định xem bài học thể hiện khái niệm ở hình thức nào. Mỗi bài học là
một quá trình hình thành khái niệm. Khái niệm là hình thức của tư duy, là cơ sở hoạt
động của tư duy, trong đó phản ánh các dấu hiệu cơ bản khác biệt của một sự vật đơn
nhất hay lớp các sự vật đồng nhất. Trong khái niệm, thứ nhất, bản chất của sự vật
được phản ánh; thứ hai, sự vật hay lớp sự vật nổi bật trên cơ sở của các dấu hiệu cơ
bản khác biệt. Khái niệm không chỉ là công cụ tư duy mà còn là kết quả của quá trình
tư duy. Khái niệm không chỉ là điểm xuất phát trong sự vận động của nhận thức mà
còn là sự tổng kết của quá trình vận động đó. Nhận thức khoa học càng phát triển thì
các khái niệm khoa học có nội dung ngày càng đổi mới, càng tiếp cận với bản chất của
sự vật, hiện tượng.
Trong nghiên cứu khoa học địa lí, mỗi khái niệm luôn gắn liền với một đối
tượng, hiện tượng địa lí cụ thể nào đó. Để hình thành khái niệm, người ta phải nghiên
cứu phân tích đối tượng, tìm ra những dấu hiệu bản chất, đặc thù của đối tượng để
phân biệt với các đối tượng khác.Khái niệm địa lí là sự phản ánh trong tư duy những
đối tượng và hiện tượng địa lí đã được trừu tượng hoá và khái quát hoá, dựa vào các
dấu hiệu bản chất sau khi đã tiến hành các thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng

thành “dạng động, hiện thực” và nhờ tách được nó ra khỏi đối tượng, hiện tượng mà
chủ thể (học sinh) nạp được chúng vào trong đầu óc của mình (bộ nhớ), để lĩnh
hội (hình thành) khái niệm.
1.1.5.Phương pháp hình thành khái niệm địa lí
Quá trình dạy học một bài học địa lí là quá trình hình thành khái niệm và kĩ
năng, kĩ xảo tương ứng với nó. Đó là quy trình dạy học tích cực, quy trình nhận thức.
Đặc điểm cơ bản của quy trình nhận thức là:
- Người học, chủ thể của hoạt động nhận thức, tự mình tìm ra kiến thức bằng
chính hoạt động của mình
- Người học tự thể hiện mình và hợp tác với bạn học
- Nhà giáo – chuyên gia về việc học – là người tổ chức và hướng dẫn quá trình
kết hợp cá nhân với xã hội hoá việc học tập của người học.
- Người học tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh
Từ đặc điểm nhận thức kiến thức trên đây, có thể nói hoạt động nhận thức là
một loại hoạt động tinh thần, không làm biến đổi các đồ vật thực, quan hệ thực…Dưới
sự hướng dẫn của GV, HS hoạt động chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, phát triển
năng lực, hình thành nhân cách. Quá trình đó được diễn ra theo con đường nhận thức
chung của loài người, con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, nhận thức hiện
thực khách quan. Muốn vậy đòi hỏi HS phải tích cực hoá hoạt động nhận thức của
mình. Tích cực hoá là một hoạt động nhằm chuyển biến vị trí của người học từ thụ
động sang chủ động. Từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để
nâng cao hiệu quả học tập. Người học được cuốn hút tham gia vào các hoạt động học
tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự khám phá, tìm tòi kiến thức không thụ
động trông chờ vào việc truyền thụ của GV.
Dạy học chính là quá trình tổ chức cho HS tự lĩnh hội tri thức. HS có vai trò
chủ động tích cực, tự giác tham gia vào các hoạt động học tập, tự khám phá ra “cái
chưa biết”, tìm ra kiến thức, tìm chân lí dưới sự chỉ đạo của GV. GV không còn là
người truyền đạt tri thức có sẵn mà là người định hướng, đạo diễn, điều khiển, chỉ đạo
hoạt động học tập cho HS chiếm lĩnh tri thức. HS tham gia tích cực vào các hoạt động
học tập, tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn đề về lí thuyết cũng như thực hành

lớn học sinh rất lúng túng.
1.2.2 Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học khá đảm bảo, HS trong lớp đều có SGK. Bản
đồ giáo khoa treo tường, tập bản đồ và Atlat địa lí đã được trang bị, các thiết bị dạy và
học địa lí đã được nhà trường mua sắm. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu khá nhiều và chất
lượng các thiết bị chưa đảm bảo.
1.2.3. Tình hình giảng dạy và học tập địa lí hiện nay ở trường THPT
Phần lớn các GV vẫn sử dụng phương pháp dạy học truyền thống như thuyết
trình, diễn giảng... do thiếu phương tiện học nên hiệu quả học tập chưa cao. Nhiều GV
và HS chưa tiếp cận được với các thiết bị hiện đại hoặc còn xem nhẹ kênh hình, nên
việc rèn luyện kĩ năng địa lí còn hạn chế so với việc rèn luyện kĩ năng toán, văn... có
GV, HS và gia đình các em còn cho rằng môn Địa lí là môn phụ, nên ít đầu tư thời
gian học tập.
1.2.4. Tình hình thực tế sử dụng kênh hình trong dạy học địa lí 10 ở trường
THPT Chu Văn An
Đại đa số giáo viên và học sinh đều sử dụng kênh hình truyền thống như: lược
đồ, biểu đồ, bản đồ, sơ đồ, tập atlat, tranh ảnh sưu tầm... Việc sử dụng CNTT còn hạn
chế vì trường chỉ có một phòng dạy CNTT chung cho tất cả các môn học do đó không
đáp ứng đủ yêu cầu về cách dạy học trực quan của môn Địa Lí.
Phần lớn giáo viên sử dụng các kênh hình như: bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu...
mới chỉ dùng ở chức năng trực quan, minh hoạ cho bài giảng chứ chưa khai thác nội
dung, chưa hướng dẫn cho học sinh khai thác các kiến thức từ kênh hình đó.

Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 7


Trường THPT Chu Văn An


mối quan hệ của đối tượng, hiện tượng được đề cập đến trong sách giáo khoa mà
thầyvà trò học tập, nghiên cứu. Tuỳ từng qui mô nghiên cứu và tính chất của các đối
tượng, hiện tượng mà hình được vẽ theo một tỉ lệ nhất định tương ứng với nội dung
địa lí cần biểu hiện.
- Dựa vào tính chất của các hình và cách sử dụng mà chia ra:
+ Các sơ đồ có nguồn gốc tài liệu từ bản đồ, các lược đồ và bản đồ treo tường
hoặc để bàn.
+ Các sơ đồ không có nguồn gốc tài liệu từ bản đồ, các sơ đồ graph và các sơ
đồ khác nhìn gần hoặc nhìn xa.
+ Các hình vẽ không theo tỉ lệ, trình bày các mối quan hệ không gian hai chiều,
ba chiều, các mối quan hệ thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai của các đối tượng,
hiện tượng; các hình vẽ treo tường hay để bàn.
 Khi sử dụng các hình vẽ nên phối hợp giữa chúng, phối hợp giữa hình
vẽ với các tranh ảnh và bảng biểu dùng trong chương trình địa lí 10.
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 8


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

2.2.2 Các loại tranh ảnh và bảng biểu
- Nhận rõ được vai trò to lớn của tranh ảnh và bảng biểu, nước ta và
nhiều nước khác đã có quy định số lượng tranh ảnh và bảng biểu cho từng
chương trình địa lí. Các loại tranh ảnh treo tường hoặc để bàn( nhìn xa hoặc
nhìn gần; các loại tranh ảnh phản ánh nội dung tự nhiên, kinh tế, xã hội; các
loại tranh ảnh toàn phần hay trích đoạn một phần sự vật, hiện tượng... hoặc
phân biệt theo ngôn ngữ đồ họa, hội họa hay nghệ thuật( tranh vẽ, ảnh chụp,

luật phân bố của các đối tượng địa lí, quy luật phân bố lực lượng sản xuất, quy luật
phân công lao động theo lãnh thổ, khai thác hợp lí nguồn tài nguyên và chống ô
nhiễm môi trường... Loại hình này nếu được phối hợp sử dụng với các loại hình bản
đồ khác như bản đồ giáo khoa treo tường, át lát, bản đồ câm thì kết quả học tập địa lí
còn tăng lên gấp bội.
- Các sơ đồ không có nguồn gốc tài liệu từ bản đồ và các hình vẽ, biểu đồ,
tranh ảnh... trong SGK có giá trị không nhỏ trong việc hình thành các mối quan hệ địa
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 9


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

lí, các biểu tượng và khái niệm địa lí tự nhiên, kinh tế, xã hội. Các loại đồ dùng trên
đây, khi tiến hành giảng dạy nhất thiết phải liên hệ với bản đồ, lãnh thổ có biểu đồ,
tranh ảnh, hình vẽ đó tồn tại. Không liên hệ với bản đồ thì các phương tiện trên không
có giá trị thực tiễn và các biểu tượng, khái niệm không được củng cố vững chắc trong
học sinh.

2.4. Các phương pháp khai thác kênh hình trong dạy học Địa lí 10
2.4.1 Phương pháp khai thác kiến thức trên Quả Địa Cầu
- Quả Địa Cầu là mô hình thu nhỏ của Trái Đất mà trong đó tất cả các yếu tố
của nó như bán kính Trái Đất, hệ thống kinh vĩ tuyến, diện tích các lục địa, đảo và đại
dương... đều giảm đi theo một tỉ lệ nhất định. Quả Địa Cầu biểu hiện đúng các đối
tượng quan trọng trên bề mặt Trái Đất và giữ được tính chất địa lí của chúng. Khoảng
cách và diện tích, góc và hình dạng đối tượng không có sai số chiếu hình. Tỉ lệ của
Quả Địa Cầu như nhau tất cả mọi điểm. Quả Địa Cầu cho ta một khái niệm đúng và

Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 10


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

- Hình 2.5 – Diện tích và sản lượng lúa Việt Nam
- Hình 2.6 – Một số cách khác nhau thể hiện vùng thuốc lá.
Bài 5 – Hình 5.3 – Các múi giờ trên Trái Đất
Bài 7 - Hình 7.3 – Các mảng kiến tạo lớn của thạch quyển
Bài 10 - Hình 10 – Các vành đai động đất, núi lửa và các vùng núi trẻ
Bài 11 - Hình 11.3 – Biên độ nhiệt độ năm thay đổi theo vị trí gần hay xa đại
dương
Bài 12 - Hình 12.2 – Các khu áp cao, áp thấp trong tháng 7
- Hình 12.3 - Các khu áp cao, áp thấp trong tháng 1
Bài 13 – Hình 13.2 – Phân bố lượng mưa trên thế giới
Bài 14 - Hình 14.1 – Bản đồ các đới khí hậu trên Trái Đất
Bài 16 - Hình 16.4 – Các dòng biển trên thế giới
Bài 19 - Hình 19.1 – Các kiểu thảm thực vật chính trên thế giới
- Hình 19.2 – Các nhóm đất chính trên thế giới
Bài 22 - Hình 22.3 – Tỉ xuất gia tăng dân số tự nhiên thế giới hằng năm, thời
kì 2000 – 2005 (%)
Bài 24 - Hình 24.1 – Tỉ lệ dân thành thị trên thế giới, thời kì 2000 – 2005 (%)
Bài 25 - Hình 25.1 – Phân bố dân cư thế giới, năm 2000
Bài 28 - Hình 28.2 – Phân bố các cây lương thực chính trên thế giới
- Hình 28.5 – Phân bố các cây công nghiệp chủ yếu trên thế giới
Bài 29 - Hình 29.3 – Phân bố đàn gia súc trên thế giới

- Đọc bản đồ giống như đọc sách. Sự khác nhau giữa đọc bản đồ và đọc sách ở
chỗ, đọc sách sử dụng ngôn ngữ viết, còn đọc bản đồ sử dụng ngôn ngữ bản đồ.
- Khái quát chung về bản đồ có qui trình đọc như sau:
 Đọc tên bản đồ:
 Đọc tên bản đồ để hiểu ba nội dung:
 Nội dung địa lí.
 Không gian bao quát trên bản đồ.
 Thời gian thành lập biểu đồ.
 Đọc lưới chiếu, tỉ lệ và bố cục:
 Đối với bản đồ:
 Đọc lưới chiếu để hiểu các khu vực biến dạng( sai số) nhiều hay ít.
 Nhận dạng khung kinh, vĩ tuyến để xác định phương hướng trên bản
đồ.
 Đọc tỉ lệ để hiểu mức độ thu nhỏ của các đối tượng địa lí trên thực tế
biểu hiện trên bản đồ và ước tính khi cần thiết.
 Đọc bố cục để hiểu rõ các bộ phận cấu thành bản đồ.
- Nội dung chính được biểu hiện nổi trội trên bản đồ chính. Nội dung phụ
được biểu hiện ở tầng sau nội dung chính hoặc đặt bên ngoài bản đồ có nhiệm vụ giải
thích rõ các khía cạnh khác nhau của nội dung chính.
- Đối với lược đồ, sơ đồ, do chúng không có kinh vĩ tuyến nên đọc tỉ lệ và bố
cục để hiểu mục đích cuả chúng có mặt trên lược đồ, sơ đồ mà sử dụng tránh những
sai lầm đáng tiếc. Do đặc điểm biểu hiện của lược đồ, sơ đồ mà khi sử dụng không
nên đo đạc trên chúng theo tài liệu ghi trên sơ đồ, lược đồ.
 Đọc bản chú giải:
 Cấu trúc chung của bản chú giải: nội dung chính, nội dung phụ, các
yếu tố khác.
 Đọc nội dung chính lần lượt theo thứ tự từ trên xuống, đọc đến đâu
xác định phương pháp biểu hiện tương ứng với mỗi nội dung ghi trong
bản chú giải.
 Đọc nội dung phụ, xác định mối quan hệ giữa nội dung chính và nội

vùng, theo đường hay theo điểm; kí hiệu phản ánh cấu trúc, phản ánh số lượng, chất
lượng như thế nào. Cùng là kí hiệu biểu đồ (biểu đồ cột, biểu đồ tròn, biểu đồ đường..)
nhưng nếu chúng nằm trong các phương pháp khác nhau thì mang ý nghĩa khác nhau:
- Kí hiệu biểu đồ nằm trong phương pháp kí hiệu có thể biểu hiện vị trí đối
tượng, số lượng (quy mô lớn, nhỏ), chất lượng, cấu trúc, và động lực phát triển hiện
tượng.
- Kí hiệu biểu đồ nằm trong phương pháp bản đồ- biểu đồ lại thể hiện tổng giá
trị hiện tượng có trong một lãnh thổ nhất định, hay sự biến đổi của hiện tượng (ví dụ:
sự gia tăng tự nhiên của dân số qua một năm) theo thời gian trên lãnh thổ đó.
- Kí hiệu biểu đồ nằm trong phương pháp biểu đồ định vị lại thể hiện sự biến
đổi của hiện tượng trong một thời gian nhất định, trên một vùng rộng lớn.
 Có thể lấy ví dụ khác: kí hiệu các cây trồng, vật nuôi biểu hiện trên bản
đồ có các ý nghĩa rất khác nhau:
 Nếu kí hiệu cây trồng, vật nuôi đặt trên bản đồ thì điều đó biểu
hiện vùng phân bố chăn nuôi và trồng trọt sơ lược.
 Nếu kí hiệu cây trồng, vật nuôi đặt trong đường viền đứt đoạn thì
điều đó biểu hiện vùng phân bố không thể xác định chính xác được
trong tự nhiên.
 Nếu kí hiệu cây trồng, vật nuôi đặt trong đường viền liền nét thì
điều đó biểu hiện vùng phân bố đã được xác định chính xác trong
tự nhiên...
2.4.3.3 Sử dụng bản đồ
- Trên bản đồ tàng trữ một lượng thông tin lớn, lượng thông tin này còn lớn gấp
bội khi người dùng nhất thể hóa kiến thức trình bày trên bản đồ với kiến thức địa lí.
Do đó mục đích sử dụng bản đồ là đề tài không có giới hạn.
- Có thể dùng bản đồ giáo khoa với mục đích đo tính khoảng cách, đo tính độ
cao, độ dài, đo tính tọa độ, đo tính biểu đồ, … cũng có thể sử dụng bản đồ để phân
tích một hiện tượng, phân tích hiện trạng, phân tích thông qua biến đổi hiện trạng, kết
hợp phân tích các hiện tượng trên nhiều bản đồ được thành lập trên cùng một địa
phương,… Dựa vào bản đồ có thể xác định các mối quan hệ địa lí (mối quan hệ tương

- Tương ứng với bản đồ câm treo tường dành cho giáo viên là bản đồ câm
dành cho học trò. Bản đồ của học trò có tỉ lệ nhỏ hơn, thường được đóng thành tập gọi
là “tập bản đồ bài tập”. Trong giờ học, học sinh thường để chúng ở trên bàn. Học
sinh vừa nghe thầy giảng bài vừa ghi chép, vừa chuyển những nội dung mà giáo viên
trên bản đồ câm vào bản đồ của mình. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa thầy và trò khi sử
dụng các loại bản đồ câm ở trên lớp là phương pháp hình thành biểu tượng và khái
niệm cho học sinh một cách tích cực. Giáo viên cũng có thể ra bài tập cho học sinh về
nhà tự làm việc với bản đồ câm, giúp các em có thói quen làm việc với độc lập, nhằm
củng cố kiến thức đã học ở trên lớp, chuẩn bị bài để thu nhận kiến thức mới và rèn
luyện kĩ năng bản đồ cần thiết.
- Bản đồ câm có mối quan hệ chặt chẽ với sách giáo khoa, bản đồ trong sách
giáo khoa, bản đồ treo tường và atlat. Nếu giáo viên biết hướng dẫn cho học sinh khai
thác các mối quan hệ này thì sẽ tạo điều kiện để các em hoạt động nhận thức tự giác
và tích cực.
- Có thể lấy kết quả thực nghiệm khoa học của các nhà tâm lí về hoạt
động nhận thức để minh chứng hiệu quả khai thác mối quan hệ này khi thực
hành trên bản đồ câm: học sinh tự trình bày kết hợp với thực hành trên bản đồ
sẽ lưu giữ được 90% lượng tri thức của bài học.
2.4.5. Phương pháp khai thác các loại biểu đồ Địa lí 10
- Trong SGK Địa lí 10 đã sử dụng các biểu đồ sau:
Bài 6 - Hình 6. 1 – Đường biểu diễn chuyển động biểu kiến của Mặt Trời trong
năm
Bài 13 - Hình 13.1 – Phân bố lượng mưa theo vĩ độ
Bài 17 - Hình 14.2 – Biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa của một số địa điểm
Bài 22 - Hình 22.1 – Tỉ suất sinh thô thời kí 1950 – 2005
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 14



- Quy trình chung sử dụng biểu đồ:
 Đọc biểu đồ: Quan sát hình dạng biểu đồ (dạng hình cột đơn, cột ghép
hay cột chồng, biểu đồ hình tròn: có cấu trúc hoặc phi cấu trúc, dạng
đường đơn hay nhiều đường biểu hiện nhiều hiện tượng, biểu đồ kết hợp
cột và đường, biểu đồ miền, biểu đồ thanh ngang…).
 Xem xét nội dung biểu hiện về nông nghiệp, công nghiệp, dân cư,… và
đọc bản chú giải (nếu có).
 Xem xét cấu trúc: biểu hiện các thành phần, các bộ phận hay biểu hiện
cơ cấu, biểu hiện một, hai hay nhiều hiện tượng có quan hệ chặt chẽ với
nhau.
 Xác định quy mô (độ lớn) của các thành phần, tỉ trọng (thị phần) của
chúng, xu hướng phát triển (tăng hay giảm) và tầm quan trọng của từng
thành phần.
 Nhận xét và giải thích: Dựa trên phân tích hình dạng, nội dung, cấu trúc,
độ lớn và thị phần của hiện tượng để nêu nhận xét. Giải thích nguyên
nhân.
 Kết luận: Nhận thức hiện tượng nghiên cứu
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 15


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

2.4.6. Phương pháp khai thác hình vẽ, tranh ảnh Địa lí 10
- Trong sách giáo khoa Địa lí 10 có các hình vẽ và tranh ảnh sau:
Bài 1 - Hình 1.1 – Mặt chiếu tiếp xúc với bề mặt Điạ Cầu
- Hình 1.2 – Ba vị trí của mặt chiếu trong phép chiếu phương vị

- Hình 11.4 – Nhiệt độ thay đổi theo độ dốc và hướng phơi của sườn núi
Bài 12 – Hình 12.1 – Các đai khí áp và gió trên Trái Đất
- Hình 12.4 – Gió biển và gió đất
- Hình 12.5 – Quá trình hình thành gió fơn
Bài 15 – Hình 15 – Sơ đồ tuần hoàn của nước
Bài 16 – Hình 16.1 – Chu kì tuần trăng
- Hình 16.2 – Vị trí của Mặt Trăng so với Trái Đất và Mặt Trời vào các
ngày “triều cường”
- Hình 16.3 – Vị trí của Mặt Trăng vào các ngày “triều kém”
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 16


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

Bài 17 – Hình 17 – Vị trí lớp phủ thổ nhưỡng ở lục địa
Bài 18 – Hình 18 – Các vành đai của thực vật theo độ cao ở núi An-pơ (châu
Âu)
Bài 19 – Hình 19.3 – Đài nguyên
- Hình 19.4 – Rừng lá kim
- Hình 19.5 – Rừng lá rộng ôn đới
- Hình 19.6 – Thảo nguyên ôn đới
- Hình 19.7 – Rừng cận nhiệt ẩm
- Hình 19.8 – Rừng và cây bụi lá cứng cận nhiệt
- Hình 19.9 – Xavan;
- Hình 19.10 – Rừng nhiệt đới ẩm
- Hình 19.11 – Sơ đồ các vành đai thực vật và đất ở sườn Tây dãy

 Giá trị của bức tranh :
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 17


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

 Giá trị của bức tranh trong học tập địa lí
 Giá trị về lịch sử
 Giá trị về kiến trúc, văn hóa, khoa học, nhân văn
 Giá trị về kinh tế, chính trị...
- Đối với hình vẽ mô phỏng về cấu trúc, về quy luật của một hiện tượng tự
nhiên thì giáo viên cần phân tích để làm rõ bản chất của hiện tượng.
 Ví dụ: các vận động của Trái Đất và hệ quả của nó, cấu tạo của Trái Đất,
của lớp vỏ thạch quyển, các mảng kiến tạo, các quá trình uốn nếp, đứt
gãy; các tầng khí quyển, quy luật phân phối năng lượng Mặt Trờì, phân
bố các đai cao hạ áp, quy luật của gió; quy luật tuần hoàn của nước, quy
luật thuỷ triều, các vành đai thực vật và đất trên các núi cao và cấu trúc
của lớp vỏ địa lí của Trái Đất.
 Quy trình chung khai thác một hình vẽ:
 Đọc tên hình vẽ
 Xác định hình vẽ đó mô phỏng cái gì ? (Ví dụ: Bài 6 – Hình 6.4 – Mô
phỏng các mùa theo dương lịch ở Bắc bán cầu; Bài 14 – Hình 14.1 –
Mô phỏng sự phân phối năng lượng Mặt Trời; Bài 19 - Hình 19.1 –
Mô phỏng sự tuần hoàn của nước trên Trái Đất... )
 Giá trị của hình vẽ đó trong việc diễn giải các dấu hiệu của khái niệm
địa lí tự nhiên hay diễn giải các quy luật địa lí tự nhiên

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

2.4.7.2. Một số ví dụ phối hợp khai thác kênh hình trong việc dạy học Địa
lí 10
- Ví dụ 1: Bài 5, trang 18, SGK
 Khi giảng mục 1- Vũ Trụ, ngoài hình 5.1 trong SGK,GV có thể sử
dụng thêm hình chụp từ vệ tinh sau:
Hệ Mặt Trời trong Dải Ngân Hà

 Nội dung
 Đây là bức ảnh thể hiện vị trí Mặt Trời trong Dải Ngân Hà. Thiên
hà chứa Hệ Mặt Trời, được gọi là Ngân Hà đó là một trong hàng
trăm tỉ thiên hà trong khoảng không gian vô cùng vô tận. Khoảng
không gian vô tận mà con người nhận thức được gọi là Vũ Trụ.
Trong Dải Ngân Hà, Mặt Trời cũng chỉ là 1 trong khoảng 1, 5 tỉ
ngôi sao phát sáng.
 Qua hình , chúng ta thấy hệ Mặt Trời chỉ là 1 chấm sáng trong hàng tỉ chấm
sáng trong Dải Ngân Hà.
 Phương pháp sử dụng
 Hình 5.1 được sử dụng để giảng dạy mục I – Vũ trụ. Học thuyết
về sự hình thành Vũ Trụ. Khái niệm "Vũ Trụ", HS đã được học ở
lớp 6, ở đây GV cần hướng dẫn HS kết hợp quan sát ảnh và kiến
thức đã học để nắm được nội dung cơ bản của khái niệm này.
Mặt Trời chỉ là 1 ngôi sao trong rất nhiều ngôi sao (hàng tỉ) trong
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 19


Trường THPT Chu Văn An

Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 20


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

phát vấn, dẫn dắt để HS có hiểu biết đầy đủ hơn về Hệ Mặt
Trời.Ngoài các hành tinh đã được thể hiện trong hình 2.2, Hệ Mặt
Trời còn có các tiểu hành tinh, vệ tinh, sao chổi, thiên thạch và
các đám bụi khí. Để củng cố kiến thức của HS về Vũ Trụ ở mục
I.2, GV có thể mô tả để HS hình dung được Hệ Mặt Trời là một
hệ nhỏ trong Vũ Trụ bao la vô cùng, vô tận. GV cần lưu ý để HS
nắm được: Ngoài chuyển động xung quanh Mặt Trời, các hành
tinh còn tự quay quanh trục với hướng ngược chiều kim đồng hồ
(trừ Kim tinh và Thiên vương tinh).
 Khi giảng mục I.3. Trái đất trong Hệ Mặt Trời, GV có thể sử dụng
hình sau

Trái Đất trong hệ Mặt Trời
 Trái Đất của chúng ta có dạng hình cầu và kích thước rất lớn, bán
kính Trái Đất là 6370 km, chiều dài đường Xích đạo là 40.076
km. Trái Đất là một khối cầu vĩ đại, nhưng Mặt Trời còn lớn hơn
nhiều, đường kính Mặt Trời dài gấp 109 lần đường kính Trái Đất.
Thể tích Mặt Trời cũng lớn gấp 1.300.000 lần thể tích Trái Đất.
Khoảng cách trung bình từ Trái Đất đến Mặt Trời là 150 triệu
km, một máy bay phản lực tốc độ 1000 km /h phải bay gần 18
năm. Với tốc độ 300.000 km /s, ánh sáng từ Mặt Trời tới Trái Đất

66033'.
 Thời gian Trái Đất tự quay một vòng quanh trục là một ngày đêm
(24 giờ)
- Ví dụ 2: Bài 11. Khí quyển. Sự phân phối nhiệt độ không khí trên Trái Đất.
 Khi giảng mục II.1, GV sử dụng hình 11.2: Phân phối bức xạ Mặt Trời

Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 22


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

 Nội dung: Mặt Trời là một ngôi sao phát sáng khổng lồ, nguồn năng
lượng Mặt Trời được toả đi các hướng trong không gian.
 Hình 11.2. minh hoạ sự phân phối năng lượng Mặt Trời hướng
tới Trái Đất. Quan sát hình, chúng ta thấy nguồn bức xạ Mặt Trời
được phân phối như sau: 30% phản hồi vào không gian, 19%
khí quyển hấp thụ, 47% bề mặt Trái Đất hấp thụ, 4% tới bề mặt
Trái Đất rồi bị phản hồi vào không gian.
 Phương pháp sử dụng: Trái Đất là một hành tinh không tự phát sáng.
Nguồn cung cấp nhiệt chủ yếu cho bề mặt Trái Đất là bức xạ Mặt Trời.
Nội dung chủ yếu của mục II.1 là quan hệ giữa bức xạ và nhiệt độ
không khí, nhưng dựa vào hình, HS mới chỉ nêu được sự phân phối của
năng lượng Mặt Trời đến bề mặt Trái Đất. Câu hỏi phát vấn mà GV
dùng để khai thác hình là: Dựa vào hình 11.2, em hãy cho biết nguồn
bức xạ từ Mặt Trời đến bề mặt Trái Đất được phân phối như thế nào?
- Ví dụ 3: Bài 12. Sự phân bố khí áp. Một số loại gió chính

600N ; hướng thịnh hành là hướng đông.
 Phương pháp sử dụng: GV có thể sử dụng các câu hỏi phát vấn sau:
 Câu hỏi 1: Quan sát hình 2.8, em hãy nêu sự phân bố các đai áp thấp
và áp cao trên thế giới.
Giáo viên: Nguyễn Lệ Phúc Hậu

Page 24


Trường THPT Chu Văn An

Đề Tài: sáng kiến kinh nghiệm Địa Lí

=> Câu hỏi này yêu cầu HS mô tả được các đai khí áp trên Trái Đất như
đoạn: "Trên Trái Đất ... cực Bắc và cực Nam.".
 Câu hỏi 2: Dựa vào SGK và vốn kiến thức, em hãy giải thích sự
phân bố các đai khí áp nêu trên?
 Đây là câu hỏi phát huy tư duy địa lí, trên cơ sở vận dụng vốn hiểu biết
sẵn có của HS. Câu hỏi này yêu cầu HS giải thích được sự phân bố của
các đai khí áp. Ví dụ: giải thích sự hình thành đai áp thấp xích đạo (ở
vùng xích đạo, quanh năm nóng, không khí nở ra, bốc lên cao; vì vậy, ở
đây không khí loãng, sinh ra đai áp thấp xích đạo).
- Ví dụ 4: Bài 22 - Dân số và sự gia tăng dân số.
 Khi giảng muc II.1 GV sử dụng các biểu đồ sau:

 Nội dung:Trên hình xây dựng biểu đồ tỉ suất sinh thô thời kì 1950- 2005
của các nước phát triển, các nước đang phát triển và toàn thế giới. Nhìn
trên biểu đồ ta thấy tỉ suất sinh thô của các nước phát triển giảm mạnh,
các biểu đồ cột giảm nhanh, riêng cột biểu đồ của các nước đang phát
triển giảm ít hơn vì tỉ suất sinh thô của các nước đang phát triển giảm ít


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status