MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC TRIỂN KHAI
BẢO HIỂM Y TẾ HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG THANH BÌNH, HUYỆN TÂN PHÚ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề sức khỏe của
nhân dân và xem đây là yếu tố quyết định đến sự thành công của mọi công việc.
Người nói: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây dựng đời sống mới, việc
gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công…”. Nói về mối quan hệ giữa sức
khỏe của nhân dân và sự cường thịnh của quốc gia thì Người chỉ rõ: “Mỗi một
người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ, tức là
cả nước mạnh khoẻ… Dân cường thì quốc thịnh”.
Thấm nhuần lời dạy của Bác, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta
cũng đã luôn chú trọng đến công tác chăm lo sức khỏe cho nhân dân với việc đầu
tư cho lĩnh vực y tế, hệ thống chăm sóc sức khỏe cộng đồng và chủ trương phát
triển Bảo hiểm y tế cho nhân dân.
Bảo hiểm y tế (BHYT) là một chính sách xã hội mang ý nghĩa nhân đạo, có
tính chia sẻ sâu sắc trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đây là chính
sách lớn được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng để thực hiện mục tiêu đảm
bảo an sinh xã hội, chăm lo cải thiện không ngừng cuộc sống của người dân.
Sự ra đời và hoàn thiện của luật BHYT cho thấy sự quan tâm sâu sắc của
Đảng và Nhà nước đến công tác chăm lo sức khỏe cho toàn dân. Việc thực hiện
BHYT toàn dân sẽ hướng đến một xã hội khỏe mạnh, tạo động lực thúc đẩy phát
triển kinh tế và tiến bộ xã hội.
Trong những năm qua, BHYT đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp
phần ổn định đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội. Hệ thống chính
sách, pháp luật về BHYT từng bước được hoàn thiện phù hợp với sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước; số người tham gia tăng qua các năm; quyền lợi của
người tham gia BHYT ngày càng được mở rộng. Quỹ BHYT bước đầu đã cân đối
được thu chi và có kết dư.
Trang 1
Bình với mong muốn được trao đổi và chia sẻ cùng các đơn vị bạn, góp phần
thúc đẩy sự phát triển, hướng đến mục tiêu thực hiện BHYT toàn dân.
Trang 2
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:
1. Cơ sở lí luận:
Chính sách BHYT ở Việt Nam bắt đầu được thực hiện từ năm 1992 bằng
sự ra đời của Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Chính phủ) ban hành Điều lệ BHYT và tiếp tục được Chính phủ điều
chỉnh, sửa đổi, bổ sung thông qua việc ban hành Nghị định số 58/1998/NĐ-CP
ngày 13/8/1998, Nghị định 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005.
Sau 17 năm thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, ngày 14/11/2008 Quốc
hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XII, kỳ họp thứ tư đã thông
qua Luật bảo hiểm y tế (Luật số 25/2008/QH12), có hiệu lực thi hành từ ngày
01/7/2009.
Ngày 22/11/2012 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế giai đoạn 2012 – 2020.
Ngày 13/6/2014 Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật bảo hiểm y tế (Luật số 46/2014/QH13), có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2015.
Luật BHYT là văn bản pháp lý quan trọng thể chế hoá các quan điểm của
Đảng và Nhà nước về BHYT, định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển
trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, hướng đến mục tiêu thực
hiện BHYT toàn dân. Chính phủ và các Bộ, ngành theo thẩm quyền đã ban hành
các văn bản quy phạm pháp luật nhằm hướng dẫn chi tiết các quy định của Luật
BHYT, đưa chính sách pháp luật về BHYT vào cuộc sống, đảm bảo tuân thủ
nguyên tắc thực thi pháp luật, đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân.
học 2015- 2016. Theo công văn nêu trên, Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai đã
có sự chỉ đạo cụ thể đối với công tác triển khai BHYT cho đối tượng học sinh,
sinh viên trong các cơ sở giáo dục, đào tạo. Với sự chỉ đạo sâu sát đó đã làm cho
công tác triển khai BHYT học sinh, sinh viên cũng đã có sự chuyển biến tích cực
và mang lại những kết quả nhất định.
Trang 4
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác triển khai
BHYT học sinh, sinh viên vẫn còn một số hạn chế nhất định. “Theo Thứ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thị Nghĩa, công tác BHYT học sinh, sinh viên
vẫn còn một số khó khăn như: tỷ lệ học sinh, sinh viên tham gia BHYT chưa
đồng đều và chưa đạt yêu cầu theo quy định bắt buộc của Luật BHYT. Mặc dù
Nhà nước hỗ trợ 30% kinh phí tham gia nhưng đến hết năm 2014 mới chỉ có
92% học sinh và 78% sinh viên tham gia BHYT. Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật BHYT quy định BHYT là loại hình bắt buộc nhưng lại chưa có
chế tài xử lý vi phạm. Công tác tuyên truyền BHYT học sinh, sinh viên dù đã có
chuyển biến tích cực nhưng lại chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Nhận thức
của một số bậc cha mẹ học sinh, một số sinh viên chưa đầy đủ về lợi ích của việc
tham gia BHYT”.[8]
Với vai trò đặc biệt quan trọng của các đơn vị trường học trong công tác
phát triển BHYT như đã trình bày trong phần nêu lí do chọn đề tài thì những khó
khăn trong công tác triển khai BHYT tại các cơ sở giáo dục đang thực sự trở
thành rào cản và là thử thách lớn trong việc phấn đấu thực hiện mục tiêu đến
năm 2020 BHYT đạt độ che phủ hơn 80% dân số và hướng đến thực hiện BHYT
toàn dân như Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng cũng như Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ X đã đề ra.
Như vậy, từ tình hình thực tiễn đã xuất hiện yêu cầu rất cấp thiết là phải
có một hệ thống các giải pháp nhằm giải quyết, khắc phục những khó khăn trong
chăm lo sức khỏe toàn dân theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Để đạt hiệu quả cao trong công tác triển khai BHYT học sinh, trong
những năm qua trường THPT Thanh Bình đã thực hiện các giải pháp sau đây:
1. Giải pháp1: Quán triệt nhận thức “vận động học sinh tham gia BHYT là
thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện và là giải pháp góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục của nhà trường”.
Xác định, lứa tuổi học sinh, sinh viên là lứa tuổi quan trọng trong việc
hình thành nhân cách, trí tuệ, sức khỏe của tương lai đất nước, nên việc quan
tâm, chăm sóc sức khỏe cho lứa tuổi này đã được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt
quan tâm. BHYT học sinh, sinh viên là phương cách để chăm lo cho thế hệ trẻ
một cách toàn diện, không những chăm lo về mặt sức khoẻ mà còn giáo dục
nhân cách và lối sống nhân ái.
Trang 6
Khi triển khai thực hiện chính sách BHYT ở nước ta, học sinh, sinh viên
là đối tượng được quan tâm thực hiện sớm ngay từ năm học 1994 – 1995 theo
Thông tư liên tịch số 14/1884/TTLT-BGDĐT-BYT ngày 19/9/1994 của liên Bộ
Giáo dục – Đào tạo và Bộ Y tế.
Ngày 12/7/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số
23/2006/CT-TTg về việc tăng cường công tác y tế trong các trường học, trong
đó xác định rõ tuyên truyền, vận động học sinh, sinh viên tham gia BHYT là một
trong những giải pháp quan trọng để tạo nguồn lực phát triển y tế trường học và
góp phần phát triển giáo dục toàn diện.
Điều 2, Luật giáo dục năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 nêu Mục tiêu
giáo dục là “…đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri
thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng
lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.”[4]
trên thì đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên mới xem việc tuyên truyền, vận
động học sinh tham gia BHYT là một trách nhiệm thực sự của người làm công
tác giáo dục.
2. Giải pháp 2: Đặc biệt coi trọng vai trò của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp
trong công tác tuyên truyền về BHYT:
Trước tiên phải xác định giáo viên chủ nhiệm lớp là người sức ảnh hưởng
rất lớn đối với học sinh và là người có vai trò rất quan trọng trong công tác liên
hệ và tác động đối với phụ huynh học sinh.
Điều đặc biệt trong BHYT học sinh đó là người trực tiếp tham gia bảo
hiểm là học sinh nhưng người quyết định có tham gia hay không chính là phụ
huynh của các em. Do đó, bên cạnh việc chú trọng tuyên truyền cho học sinh thì
công tác tuyên truyền làm cho phụ huynh học sinh hiểu được ý nghĩa, lợi ích của
việc tham gia BHYT có phần quyết định đến tỉ lệ học sinh tham gia bảo hiểm y
tế tại mỗi đơn vị.
Với ý nghĩa đó, để công tác tuyên truyền, vận động đạt được hiệu quả cao
thì sau khi đã trang bị cho đội ngũ giáo viên nhận thức một cách toàn diện, đầy
đủ về vai trò, ý nghĩa của HBYT thì bước tiếp theo đó là trang bị cho họ những
kiến thức, nội dung, quy định của Luật BHYT để làm hành trang cho công tác
Trang 8
vận động. Để thực hiện điều này, nhà trường có thể tiến hành bằng cách biên tập
một tài liệu tuyên truyền với những nội dung cơ bản về chế độ BHYT trong đó
đặc biệt chú trọng đến vấn đề quyền lợi được hưởng của người tham gia BHYT
để giáo viên chủ nhiệm truyền tải đến học sinh và phụ huynh của các em.
Sau khi có được nhận thức đầy đủ, toàn diện về BHYT thì đội ngũ giáo
viên, đặc biệt là những giáo viên chủ nhiệm lớp sẽ trở thành những tuyên truyền
viên tích cực và công tác tuyên truyền, vận động mới đạt hiệu quả cao.
Thông qua đại hội phụ huynh học sinh đầu mỗi năm học, lãnh đạo nhà
trường cần chỉ đạo cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm thực hiện tốt công tác tuyên
đầu năm học tạo thành gánh nặng tài chính đối với phụ huynh học sinh.
Do quá khó khăn nên một số phụ huynh sẽ chọn giải pháp: Chỉ đóng
những những khoản thu bắt buộc không thể không đóng, còn lại cắt giảm tối đa
những khoản khác trong đó phí tham gia BHYT tuy gọi là “bắt buộc” nhưng trên
thực tế thì vẫn là một hình thực “tự nguyên” do thiếu biện pháp chế tài đi kèm để
xử lí những cá nhân không chấp hành nên trên thực tế nhiều phụ huynh đã cắt
giảm nội dung này.
Để khắc phục tình trạng trên chúng ta có thể vận dung công văn chỉ đạo số
2194/SGDĐT-CTHSSV ngày 21/9/2015 của Sở GDĐT về việc thực hiện BHYT
cho học sinh, sinh viên năm học 2015- 2016. Theo đó có thể chia nhỏ thành 02
đợt thu, mỗi đợt 06 tháng và tránh thu vào đầu năm học. Với cách làm này thì
mỗi lần đóng cho 06 tháng sẽ chỉ còn lại là 217.350 đồng.
Như vậy, cần phải chọn thời điểm thu thích hợp để tạo điều kiện thuận lợi
cho gia đình học sinh, thông thường tại đơn vị chúng tôi chọn thời điểm tháng 11
và tháng 12 dương lịch. Kết quả theo dõi tiến độ hàng năm cho thấy với cách
làm này thì tỉ lệ học sinh tham gia bảo hiểm sẽ nhiều hơn.
4. Giải pháp 4:
Sử dụng hợp lí nguồn kinh phí trích lại từ bảo hiểm y tế.
Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho học sinh .
Theo quy định, hàng năm quỹ BHYT sẽ trích nguồn kinh phí cho các đơn
vị nhằm phục vụ thực hiện công tác khám, chữa bệnh ban đầu tại cơ sở. Việc sử
dụng nguồn khinh phí này một cách hợp lí, đúng mục đích sẽ có tác dụng rất lớn
trong việc nâng cao tỉ lệ học sinh tham gia BHYT. Độ tuổi học sinh THPT là
giai đoạn cơ thể đang phát triển nhanh, đa số các em có thể lực rất tốt. Đây là
giai đoạn sức khỏe rất sung mãn, rất ít khi đau ốm, đôi khi các em chỉ gặp những
vấn đề nhỏ về sức khỏe như nhức đầu, đau bụng, rất hiếm trường hợp gặp những
vấn đề lớn nên chỉ cần được chăm sóc sức khỏe ban đầu tốt là các em có thể
phục hồi. Có thể nói rằng dịch vụ y tế được thụ hưởng nhiều nhất từ việc tham
Thông qua công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cơ sở sẽ giúp cán bộ y
tế trường học theo dõi và kịp thời phát hiện những bệnh, tật mà học sinh có thể
mắc phải để từ đó thực hiện việc tư vấn, hướng dẫn cho gia đình học sinh nơi
khám, chữa bệnh phù hợp, đúng chuyên khoa và đúng tuyến bảo hiểm.
Trang 11
5. Giải pháp 5:
Giải quyết tốt mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi của
người tham gia bảo hiểm.
Một nguyên tắc rất quan trọng trong BHYT đó là nguyên tắc "đóng hưởng". Nếu không đảm bảo nguyên tắc này sẽ làm mất niềm tin của người tham
gia vào chế độ BHYT. Như vậy, để đảm bảo người tham gia được hưởng đúng
và đủ quyền lợi thì các cơ sở giáo dục cần chú ý làm tốt việc cung cấp thông tin
về người tham gia BHYT. Với số lượng rất lớn học sinh tham gia BHYT ở mỗi
đơn vị nên khả năng sai lệch thông tin trong thẻ BHYT rất dễ xảy ra. Để đảm
bảo cho đối tượng tham gia được hưởng đầy đủ quyền lợi của mình theo luật
định thì người cán bộ được giao phụ trách công tác BHYT học sinh phải hướng
dẫn học sinh rà soát thông tin, phát hiện sai sót và phản hồi về người phụ trách
công tác, từ đó người cán bộ phụ trách công tác kịp thời tổng hợp và đề nghị cơ
quan BHYT sửa chữa, điều chỉnh những sai sót trong hồ sơ mà cụ thể là những
thông tin cá nhân trong thẻ bảo hiểm cấp cho học sinh, tuyệt đối tránh để xảy ra
tình trạng có tham gia BHYT nhưng không được hưởng quyền lợi khi ốm đau do
sai lệch thông tin cá nhân.
Một vấn đề nữa cần lưu ý đó là hiện nay có khá nhiều nhóm đối tượng
được Nhà nước cấp thẻ BHYT miễn phí do đó khi vận động học sinh tham gia
BHYT các cơ sở giáo dục cần rà soát, nắm rõ danh sách các đối tượng thuộc
diện được cấp miễn phí để tránh chồng chéo, gây lãng phí cho nhân dân khi đã
thuộc đối tượng được cấp miễn phí thẻ BHYT nhưng lại phải tiếp tục mua thẻ
96,67%
2011-2012
1665
1632
98,01%
2012-2013
1671
1669
99,88%
2013-2014
1686
1686
100%
2014-2015
1667
Trang 13
trình bày trong phần nội dung đề tài tôi xin đề xuất đến các cấp quản lí một số
vấn đề sau dây:
- Đối với cơ quan quản lí giáo dục:
Để khắc phục tình trạng một số đơn vị chưa thật sự chú trọng đến công tác triển
khai BHYT học sinh thì Sở GD-ĐT nên đưa tiêu chí tỉ lệ học sinh từng trường
tham gia BHYT trở thành một tiêu chí, căn cứ để bình xét, xếp loại thi đua giữa
các đơn vị cuối mỗi năm học.
- Đối với ngành y tế:
Ngày 04/6/2015 Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 2151/QĐ-BYT về đổi mới
phong cách thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người
bệnh. Với sự ra đời của quyết định 2151/QĐ-BYT của ngành y, tôi cho rằng đó
là nỗ lực lớn thể hiện quyết tâm thay đổi của ngành y tế tuy nhiên phải thường
xuyên thực hiện công tác giám sát việc thực hiện cam kết một cách nghiêm túc
để tạo được sự chuyển biến thực sự, đưa lương y thực sự trở thành từ mẫu và để
bệnh nhân thực sự hài lòng khi khám, chữa bệnh, đặc biệt là khi khám, chữa
bệnh bằng thẻ BHYT.
- Đối với cơ quan lập pháp:
Khó khăn lớn hiện nay khi đưa Luật BHYT vào cuộc sống là chưa có chế tài
xử lí những cá nhân phạm luật, vì thế cần sớm ban hành biện pháp chế tài để xử
lí những cá nhân, tổ chức có sai phạm trong lĩnh vực BHYT làm chỗ dựa và cơ
sở pháp lí cho việc triển khai thi hành luật BHYT.
VI. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 14
Hình ảnh 2: Giấy khen của Bảo hiểm xã hội Đồng Nai – Năm 2009
(Ảnh chụp từ phòng Truyền thống nhà trường)
Trang 16
Hình ảnh 3: Bằng khen của cơ quan BHXH Việt Nam – Năm 2013
(Ảnh chụp từ phòng Truyền thống nhà trường)
Hình ảnh 4: Giấy khen của Bảo hiểm xã hội Đồng Nai – Năm 2015
(Ảnh chụp từ phòng Truyền thống nhà trường)
Trang 17
MỤC LỤC
Trang
I.
II.
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI………………………………………..
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN………………………….
1
3
1.
Cơ sở lí luận...............................................................................
3
Giải pháp 3: Lựa chọn thời điểm thu phí bảo hiểm y tế thích hợp
Giải pháp 4: Sử dụng hợp lí nguồn kinh phí trích lại từ bảo hiểm y
8
9
tế. Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho học sinh 10
Giải pháp 5: Giải quyết tốt mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền
lợi của người tham gia bảo hiểm………………………………….. 12
HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI………………………………………… 13
14
ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Tài liệu tham khảo............................................................................
15
Phụ lục………………………………………………………..........
17
Trang 18