HỆ THỐNG NHÂN vật TRONG GIAI THOẠI xứ HUẾ - Pdf 37

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA NGỮ VĂN

MAI THỊ DÂNG

HỆ THỐNG NHÂN VẬT
TRONG GIAI THOẠI XỨ HUẾ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN
NGÀNH VĂN HỌC
KHÓA K36 (2012 - 2016)

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:
NGUYỄN THỊ QUỲNH HƯƠNG

Huế, 5-2016


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận với đề tài:“Hệ thống nhân vật trong giai
thoại xứ Huế”, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy
cô giáo trong khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Khoa học Huế đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu. Đặc biệt tôi xin
chân thành cám ơn Trung Tâm Thông Tin Thư Viện Trường Đại học
Khoa học Huế đã cung cấp nguồn tài liệu quý giá phục vụ cho quá trình
học tập, tìm hiểu và viết bài khóa luận.
Tôi xin được gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc tới Cô
Nguyễn Thị Quỳnh Hương đã nhiệt tình hướng dẫn tôi tìm hiểu và cung
cấp thông tin, số liệu cần thiết để tôi hoàn thành bài khóa luận này.
Do hạn chế về thời gian, trình độ, kiến thức và kinh nghiệm nên

..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU
1. Mục đích và lý do chọn đề tài
Thừa Thiên Huế không những có thiên nhiên hùng vĩ, kỳ bí với rừng
xanh, biển rộng, sông sâu và những đền đài, lăng tẩm, cung điện, thành trì
mà nơi đây còn có những dấu tích lịch sử, văn hóa, xã hội. Trải qua 700
năm (1306 – 2006) hình thành và phát triển, Thừa Thiên Huế đã lưu lại một
di sản văn học dân gian phong phú và đa dạng. Di sản ấy vừa hàm chứa
truyền thống văn hiến, văn hóa dân tộc mà lại vừa mang nét đặc thù của
vùng đất Cố đô. Tìm hiểu văn học dân gian Thừa Thiên Huế, chúng ta
không thể bỏ qua việc nghiên cứu các thể loại: truyện cổ tích, truyền
thuyết, ca dao, tục ngữ, vè,... Đây thực sự là những thể loại góp phần làm

dỏm. Đặc biệt, trong giai thoại, hệ thống nhân vật hết sức sinh động, mang
một nét đặc trưng riêng đậm chất Huế, và chính yếu tố này cũng góp phần
không nhỏ cho sự phong phú, đa dạng của văn học dân gian xứ Huế.
Hệ thống nhân vật là yếu tố quyết định chất lượng, giá trị của giai
thoại nói chung và giai thoại xứ Huế nói riêng. Tuy nhiên hiện nay, các
công trình nghiên cứu về giai thoại cũng như hệ thống nhân vật trong giai
thoại xứ Huế vẫn còn rất ít ỏi. Phần lớn là những công trình nghiên cứu giai
thoại với tư cách thể loại và góp phần minh định giai thoại văn học với giai
thoại dân gian.
Trong khuôn khổ của một khóa luận, chúng tôi chỉ xin tập trung
khảo lược các công trình nghiên cứu về giai thoại xứ Huế.
Đầu tiên, năm 1998, nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội cho xuất
bản tập 1 - Truyện kể dân gian của bộ Tổng tập văn học dân gian Thừa
Thiên – Huế do Tôn Thất Bình biên soạn. Đây là chuyên luận trình bày một
cách tương đối đầy đủ và hệ thống về những vấn đề liên quan đến truyện kể
Thừa Thiên Huế gồm các thể loại: thần thoại và truyền thuyết, truyện cổ
tích, truyện cười, giai thoại. Đặc biệt, tác giả chú trọng phân loại giai thoại
thành một hệ thống cụ thể theo tuyến nhân vật: giai thoại các mệ, giai thoại
sư Viên Thành, giai thoại Nguyễn Kinh, giai thoại hò hát của Ưng Bình
7


Thúc Giạ Thị và Thảo Am Nguyễn Khoa Vi và giai thoại hát bội. Việc
phân loại các tiểu loại như vậy giúp người đọc dễ dàng thống kê được hệ
thống nhân vật trong giai thoại xứ Huế.
Tiếp theo phải kể đến cuốn Đặc khảo văn học dân gian Thừa Thiên
Huế của Lê Văn Chưởng, xuất bản năm 2010, nhà xuất bản Trẻ, Thành phố
Hồ Chí Minh. Trong Đặc khảo văn học dân gian Thừa Thiên Huế, tác giả
đã tuyển tập một kho tàng văn học dân gian nhiều màu sắc mang tinh thần
mộc mạc, hồn nhiên xứ Huế. Đến với công trình là chúng ta đến với một

phần truyện giai thoại có hai chương mục là giai thoại lịch sử và giai thoại
văn học nghệ thuật; ngoài ra, còn có các hệ thống chương mục nhỏ trong
mỗi chương mục lớn rất cụ thể và rõ ràng.Triều Nguyên đã đem đến cho
chúng ta những trải nghiệm về truyện cười, truyện trạng và giai thoại Thừa
Thiên Huế một cách toàn diện, hệ thống, chuyên sâu hơn, có thể phục vụ
đông đảo bạn đọc yêu thích ba thể loại này. Đồng thời, ông cũng góp phần
bảo tồn, phát huy bản sắc vùng văn hóa Huế và phục dựng văn học dân
gian Thừa Thiên Huế.
Trong các công trình trên, tác giả đã tập hợp được một cách hệ thống
giai thoại xứ Huế. Đây là mặt thuận lợi của chúng tôi trong quá trình thực
hiện đề tài; ngoài ra, ở cuối mỗi văn bản, tác giả còn chú thích về những từ
ngữ địa phương và nguồn gốc xuất xứ của văn bản. Hơn nữa, trong các
công trình này, tác giả đã phân loại, thống kê một số giai thoại điển hình
theo từng nội dung cụ thể. Chính những yếu tố đó góp phần quan trọng cho
chúng tôi trong quá trình tìm hiểu, phân tích và giải quyết đề tài nghiên
cứu. Tuy nhiên, ba công trình trên vẫn nặng về sưu tầm, biên soạn hơn là
thẩm định và đánh giá. Cho nên bên cạnh mặt thuận lợi, chúng tôi cũng gặp
phải những khó khăn nhất định trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Ngoài ra, các công trình nghiên cứu thể loại giai thoại cũng được
giới thiệu sơ lược qua một vài bài viết trên trang mạng như: Giai thoại –
Một thể loại văn học dân gian của Nguyễn Thị Bích Hà (Khoa Việt Nam
học – ĐHSP Hà Nội). Nguyễn Thị Bích Hà đã góp phần trong việc đi sâu
khai thác lý thuyết về thể loại giai thoại qua các ý kiến của các nhà nghiên
9


cứu văn học. Bài viết phần nào làm cho chúng ta hiểu hơn về thể loại giai
thoại và cách phân loại của nó. Hay bài viết Các kiểu nhân vật trong truyện
kể dân gian của Nguyễn Thị Mỹ Liên, đã chỉ ra được các đặc điểm của các
nhân vật trong truyện kể dân gian trong đó có đề cập đến nhân vật của giai

lâu đời và có sức sống mãnh liệt. Nhưng trên cơ sở các tài liệu chúng tôi
tiếp cận được, cho đến nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu giai
thoại xứ Huế một cách chuyên sâu.
Vì vậy với đề tài này, chúng tôi mong muốn có thể đưa ra một cái
nhìn khái quát, chuyên sâu về giai thoại xứ Huế:
Thứ nhất, từ việc khảo lược ý kiến của các nhà nghiên cứu về truyện
kể Nguyễn Kinh, chúng tôi góp phần xác lập thể loại cho hệ thống truyện
kể này. Chúng tôi thiết nghĩ đây là thao tác cần thiết trước khi tìm hiểu về
hệ thống nhân vật của giai thoại xứ Huế
Thứ hai, trên cơ sở khảo sát, thống kê, chúng tôi đi vào phân loại hệ
thống nhân vật của giai thoại xứ Huế. Qua đó, chúng tôi tiếp tục phân tích
để chỉ rõ từng kiểu, loại nhân vật trong giai thoại xứ Huế.
Thứ ba, chúng tôi khám phá hệ thống nhân vật của giai thoại xứ Huế
dưới các góc độ: ngôn ngữ, kết cấu, yếu tố hài hước và không gian, thời gian
nghệ thuật. Chương 3 sẽ làm rõ những phương thức nghệ thuật đặc sắc của
tác giả dân gian trong quá trình khắc họa nhân vật của giai thoại xứ Huế.
Thứ tư, khóa luận sẽ góp phần khẳng định giá trị và vai trò của thể
loại giai thoại đối với văn hóa xứ Huế nói chung, cũng như văn học dân gian
Huế nói riêng. Ngoài ra, khóa luận sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh
viên Ngữ văn và những người yêu thích văn học dân gian Thừa Thiên Huế.
6. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận được
triển khai trong ba chương:
Chương 1: Giai thoại và nhân vật trong giai thoại xứ Huế
Chương 2: Phân loại hệ thống nhân vật trong giai thoại xứ Huế
Chương 3: Hệ thống nhân vật trong giai thoại xứ Huế nhìn từ
phương thức nghệ thuật
11



Vũ Ngọc Khánh (Kho tàng giai thoại Việt Nam, 1994) nhận định giai
thoại thuộc văn học dân gian khi ông cho rằng “…Những câu thơ, câu đối
ở đây có vẻ giàu chữ nghĩa, điển tích như ở văn chương bác học, song điều
bắt buộc là phải vận dụng theo phong cách dân gian, lấy chất liệu và cả
biện pháp quen thuộc của ca dao, câu đố…tác phẩm văn học bác học được
xem như tác phẩm dân gian và có thể sống trong quần chúng…” [16, tr.2].
Kiều Thu Hoạch (Văn học dân gian người Việt, góc nhìn thể loại,
2006) cũng định nghĩa “Giai thoại vốn là một thuật ngữ gốc Hán, giai có
nghĩa là hay, đẹp, thoại là câu chuyện kể. Như vậy giai thoại là câu chuyện
kể hay, đẹp…Tuy nhiên, giai thoại không phải là câu chuyện, mẩu chuyện
kể bình thường, mà đó phải là những câu chuyện hay, lý thú, gợi được
những khoái cảm thẩm mĩ” [16, tr.2].
Hay Từ điển Văn học do NXB Thế giới phát hành năm 2004 (do Đỗ
Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ biên) biên
soạn) định nghĩa như sau: “Một thể loại chuyện kể truyền miệng, lưu
truyền chủ yếu trong giới nhà văn và lớp công chúng ưa thích thơ văn, nhất
là những người có hiểu biết Hán học và văn chương chữ Hán. Thuật ngữ
giai thoại được mượn từ Trung Hoa (thoại: truyện kể; giai: hay, đẹp, thú
vị). Mỗi giai thoại là một truyện kể ngắn gọn, lý thú, xoay quanh những
nhân vật có thực, thường là những danh nhân… Giai thoại văn học thường
không phân giới rõ rệt với truyền thuyết, truyền kỳ; có những mảng giai
thoại xuất hiện thời kỳ sau lại gần với tiếu lâm. Tuy vậy giai thoại vẫn mang
tính độc lập như một thể loại độc đáo; nó thuộc về văn chương bác học, gắn
với sinh hoạt văn học thành văn, nhưng lại tồn tại dưới dạng truyền miệng,
tức là dạng thức tồn tại của các truyện kể dân gian” [16, tr.2].
Trên cơ sở giới thiệu định nghĩa, bên cạnh sự đồng tình với một vài ý
kiến, Nguyễn Thị Bích Hà cũng đã chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong
các cách nhận diện và đánh giá giai thoại. Chúng tôi nhận thấy rằng, kho
tàng văn học dân gian có một mảng truyện kể khá gần gũi với truyện cười
13


14


Thế nhưng, khi nghe một truyền thuyết, ai nấy đều luôn có niềm tin,
niềm tin trong truyền thuyết thường khiến mọi người có nhu cầu gắn nó với
một chứng tích văn hóa nào đó (lăng mộ, địa danh, lễ hội…). Còn khi nghe
một giai thoại, mọi người có thể tin hoặc không tin vì không ít giai thoại
văn học đã được lịch sử hóa và sự tiếp nhận của giai thoại không có nhu
cầu gắn nó với một chứng tích.
1.1.2. Phân loại giai thoại xứ Huế
Giai thoại xứ Huế có số lượng văn bản vô cùng phong phú, cho nên
sự phân loại, gọi tên riêng các tiểu loại trong dòng giai thoại chung vẫn tồn
tại nhiều hướng đi, thậm chí chính bản thân một tác giả cũng đã có nhiều
hướng phân loại giai thoại khác nhau.
Tôn Thất Bình là người dành rất nhiều tâm huyết cho giai thoại. Đầu
tiên, trong Huế những giai thoại (Nxb Văn hóa thông tin Bình Trị Thiên,
1987), ông phân giai thoại xứ Huế có 3 loại: 1. Chuyện các mệ; 2. Giai
thoại về làng ria mão; 3. Giai thoại từ dân gian đến cung đình. Còn trong
Truyện kể dân gian Thừa Thiên Huế, ông lại có một hướng phân loại hoàn
toàn khác, đó là ông phân loại giai thoại thành 6 loại: 1. Giai thoại hò; 2.
Giai thoại các mệ; 3. Giai thoại sư Viên Thành; 4. Giai thoại Nguyễn Kinh;
5. Giai thoại hò hát của Ưng Bình Thúc Giạ Thị và Thảo Am Nguyễn Khoa
Vi; 6. Giai thoại hát bội. Tiếp đến, trong Nụ cười xứ Huế, ông tiếp tục chia
giai thoại thành 3 loại nhưng có tên gọi khác: 1. Giai thoại sáng tác thơ văn
trào phúng ở Huế; 2. Giai thoại văn học từ dân gian đến cung đình; 3. Giai
thoại sân khấu. Trong tất cả các hướng phân loại trên, với bài viết Vẻ đẹp
hài hòa của giai thoại Thừa Thiên Huế của Nguyễn Thị Quỳnh Hương, cho
rằng: “Có lẽ trong Nụ cười xứ Huế, Tôn Thất Bình đã lựa chọn, xâu chuỗi
để có cách phân loại tương đối hợp lý nhất và nhấn mạnh những đặc trưng

Vi; 6. Giai thoại hát bội. Việc phân loại như vậy sẽ giúp chúng tôi dễ dàng
khảo sát hệ thống nhân vật trong quá trình nghiên cứu giai thoại.Và cách
phân loại này có hệ thống giai thoại gần tương ứng với hệ thống phân loại
nhân vật trong giai thoại xứ Huế.
1.2. Nhân vật trong giai thoại xứ Huế
1.2.1. Khái niệm nhân vật
16


“Nhân vật là hình thức cơ bản miêu tả con người trong văn học” [13,
tr.41]. Nghĩa là, trong văn học, con người là đối tượng để phân tích và là
trọng tâm của hoạt động nhận thức. Những con người này có thể được miêu
tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần,
thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh
hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm.
Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệ,
không thể bị đồng nhất với con người có thật, ngay cả khi tác giả xây dựng
nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu. Nên có thể nói, đối tượng
chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ vị trí
trung tâm. Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên
nhiên, những lời bình luận...đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng
cho tác phẩm nhưng điều quyết định chất lượng tác phẩm văn học chính là
việc xây dựng nhân vật. Ðọc một tác phẩm, dấu ấn đọng lại sâu sắc nhất
trong tâm hồn người đọc thường là số phận, cảm xúc, suy tư của những
nhân vật được nhà văn khắc họa. Vì vậy, Tô Hoài đã có lí khi cho rằng
“Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một
sáng tác” [20, tr.1].
Trong Lý luận văn học, Hà Minh Đức cho rằng: “Văn học không thể
thiếu nhân vật, bởi đó chính là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát
hiện thực một cách hình tượng” [3, tr.126]. Nhà văn sáng tạo nhân vật để

Tuy nhiên, ý nghĩa của nhân vật không chỉ là sự thể hiện tính cách,
vì mỗi tính cách là kết tinh của một môi trường, cho nên nhân vật còn là
người dẫn dắt ta vào đời sống thực tế.
Ðể xây dựng thành công một nhân vật văn học, nhà văn phải có khả
năng đồng cảm, phát hiện những đặc điểm bền vững ở nhân vật. Ðiều này
đòi hỏi nhà văn phải hiểu đời và hiểu người. Nhưng có một điều không
kém phần quan trọng là nhà văn phải miêu tả, khắc họa nhân vật ấy sao cho
có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với người đọc. Ðây là vấn đề liên quan
trực tiếp đến những biện pháp xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học
(miêu tả nhân vật qua ngoại hình, nội tâm, ngôn ngữ và hành động...).
18


Tóm lại, nhân vật là công cụ, chìa khóa để mở rộng các mảng đề tài
mới, mỗi nhân vật đều cung cấp một điểm nhìn để độc giả khám phá đời
sống. Văn học chỉ có thể tái hiện được cuộc sống qua những chủ thể nhất
định, đóng vai trò như những tấm gương của cuộc đời. Nhân vật văn học
góp phần khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện
những hiểu biết, những ước ao, kì vọng về con người. Qua nhân vật, chúng
ta có thể khẳng định được giá trị của tác phẩm và tài năng của tác giả.
1.2.2. Đặc điểm nhân vật trong giai thoại xứ Huế
Để thấy rõ hơn đặc điểm nhân vật trong văn học dân gian, văn học
viết khi miêu tả nhân vật các tác giả chú ý hơn về ngoại hình, tính cách,
hoàn cảnh xuất thân của nhân vật. Và để thể hiện những đặc điểm đó thì
văn học viết sử dụng các biện pháp nghệ thuật độc thoại nội tâm, thâm
nhập sâu hơn vào khai thác suy nghĩ của nhân vật.
Văn học dân gian là sáng tác tập thể nên khi xây dựng hình tượng
nhân vật, con người đều gửi gắm những tâm sự, ước mơ, khát vọng của
mình vào một xã hội công bằng, tốt đẹp. Và có lẽ vì đặc trưng có tính
truyền miệng nên việc miêu tả tâm lý nhân vật trong văn học dân gian cũng

bao giờ anh hé lời về chuyện này. Cho đến khi hai người gặp nhau trong
một cuộc hò giã gạo, họ đã dùng những câu hò để giải quyết khúc mắc
trong lòng của mình. Sau khi nghe bạn hò xong, chị tức tối ném chày
không hò nữa, còn anh ủ rũ bỏ về. Hai nhân vật trong giai thoại xuất hiện
để giải quyết vấn đề vì sao anh hủy bỏ hôn ước và nhân vật “anh” đã dùng
câu hò của mình để nói lên sự nghi ngờ về lòng chung thủy của “chị”:
- “Gương trong lồng thủy, thủy gắn không phai,
Bởi vì em ăn ở một dạ hai lòng, nên gương trong không trong
lồng thủy, mà thủy gắn ngoài lồng gương!” [40, tr.226].
Và trong giai thoại trên, điều đáng lưu ý là nhân vật xuất hiện để
thực hiện hành động hò, chứ không được miêu tả ngoại hình, tính cách hay
hoàn cảnh xuất thân.
Một giai thoại khi đã có tình huống thú vị, lời thoại hấp dẫn và nếu
được gắn với nhân vật nổi tiếng thì sự thu hút người đọc được tăng thêm
20


bội phần. Chính vì vậy, không ít chuyện kể trong giai thoại xứ Huế đã lịch
sử hóa nhân vật có thật như giai thoại về các vua chúa (vua Duy Tân, vua
Thành Thái, vua Tự Đức,...) hay chuyện các đại thần (Ông Ích Khiêm, Đào
Duy Từ, Nguyễn Công Trứ,...). Là nhân vật được lịch sử hóa nên khi nghe
một giai thoại, mọi người có thể tin hoặc không tin vào câu chuyện được
kể. Giai thoại là chuyện vặt, chuyện dật sử, có cái không đáng tin, chính vì
vậy hệ thống nhân vật giai thoại Thừa Thiên Huế thường đưa cuộc đời
nhân vật đi từ chỗ bí ẩn trở về gần gũi với mọi người, có xu hướng kéo
nhân vật xuống đời thường. Ví dụ như chuyện hỉ nộ hằng ngày của vua
Thành Thái, vua Khải Định, chuyện ăn uống của bà Từ Dũ – thân mẫu vua
Tự Đức.
Có lẽ chính bởi đặc điểm này mà có sự gắn kết với nhân vật lịch sử,
giai thoại là những câu chuyện lưu truyền rộng rãi trong dân gian và được

nghiên cứu đã xếp thể loại giai thoại ngang hàng với truyền thuyết,
truyện cổ tích, truyện cười trong truyện dân gian Thừa Thiên Huế. Nghĩa
là họ đã nghiễm nhiên xem giai thoại là một thể loại trong loại hình tự sự
của văn học dân gian.
Trong Đặc khảo văn học dân gian Thừa Thiên Huế, Lê Văn Chưởng
đã có bảng thống kê truyện dân gian Thừa Thiên Huế (những công trình
tiêu biểu) và ta có thể thấy rằng các con số trong bảng thống kê đã chứng
minh số lượng giai thoại trong kho tàng văn học dân gian Huế là rất nhiều
(giai thoại chiếm 52% trong tổng số 308 truyện dân gian). Như vậy, những
con số trong bảng thống kê của Lê Văn Chưởng đã nói lên ưu thế của giai
thoại trong văn học dân gian Thừa Thiên Huế. Ngoài ra, việc phân loại giai
thoại vẫn còn tồn tại nhiều hướng đi như chúng tôi đã trình bày trong
chương 1, tiểu mục 1.1.2 của khóa luận. Tuy nhiên, với giai thoại, ngoài
công tác sưu tầm điền dã, biên soạn thì việc nghiên cứu một cách cụ thể,
mang tính nhận định vẫn còn đang bị “bỏ ngõ” và chưa có sự quan tâm
thực sự xứng đáng.

22


Các loại hình nhân vật của giai thoại cũng rất phong phú và nhiều
màu sắc, bởi vì có bao nhiêu nhân vật là có bấy nhiêu dáng vẻ, mỗi nhân
vật là một sự sáng tạo độc đáo, không lặp lại.
Trong Lý luận văn học, Hà Minh Đức đề ra 03 tiêu chí phân loại
nhân vật, gồm có: xét vai trò nhân vật trong tác phẩm, xét về phương diện
tư tưởng, xét về quan hệ với lý tưởng xã hội của tác giả.
Đầu tiên, xét về vai trò của nhân vật, chúng ta có nhân vật chính,
nhân vật phụ và nhân vật trung tâm. “Nhân vật chính là nhân vật xuất hiện
nhiều hơn cả trong tác phẩm, đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện
tập trung đề tài, chủ đề, tư tưởng tác phẩm” [3, tr.127]. Qua nhân vật chính,

cuộc sống... có thể được coi là nhân vật lí tưởng. Còn nhân vật phản diện là
nhân vật đại diện cho lực lượng phi nghĩa, cho cái ác, cái lạc hậu, phản
động, cần bị lên án.
Nhân vật trong văn học dân gian là nhân vật chức năng và chỉ có một
nét tính cách, không có sự thay đổi vị thế từ thiện sang ác.Vì thế, trong các
giai thoại cũng chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa nhân vật chính diện và
nhân vật phản diện.
Chúng ta thấy rằng nhân vật trong giai thoại là những nhân vật hoàn
toàn khác biệt so với các thể loại văn học dân gian khác. Nếu như các nhân
vật trong văn học viết được miêu tả đầy đủ về tính cách, ngoại hình, tiểu sử
và đời sống nội tâm thì trong văn học dân gian, nhân vật hầu như không có
miêu tả đầy đủ như vậy. Vì đặc trưng truyền miệng của văn học dân gian
nên những yếu tố ngoại biên này không được chú trọng để tăng tính dễ nhớ,
dễ kể của tác phẩm. Nhân vật trong giai thoại xứ Huế cũng không có tính
cách hay ngoại hình. Nhân vật xuất hiện từ đầu đến cuối giai thoại qua lời
kể một cách khách quan, không mang tính chất đánh giá, bình luận của một
cá nhân nào. Cho nên nếu dựa vào các tiêu chí trên thì việc phân loại hệ
thống nhân vật trong giai thoại là vô cùng khó khăn, phức tạp. Hay nói
cách khác, các tiêu chí đó không phù hợp để phân loại nhân vật trong giai
thoại xứ Huế.

24


Cuối cùng, dựa vào cấu trúc nhân vật có nhân vật chức năng là kiểu
nhân vật không có đời sống nội tâm, phẩm chất cố định từ đầu đến cuối tác
phẩm, sự tồn tại và hành động của nó chỉ nhằm thực hiện một số chức năng
nhất định, đóng một vai trò nhất định. Nhân vật loại hình là kiểu nhân vật
chỉ có một nét tính cách, một đặc điểm nhưng lại được tô đậm thành loại
hình. Với nhân vật tính cách, đây là nhân vật có tính cách đầy đặn nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status