Phần 1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1.Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ 3 tuổi
làm quen với khám phá khoa học.
2.Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực phát triển nhận thức.
3.Tác giả:
- Họ và tên: Phạm Thị Dung
- Ngày, tháng, năm sinh: 02/6/1983
-Trình độ chuyên môn: Cao đẳng mầm non
- Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên, trường Mầm non An Lạc
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Phạm Thị Dung
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu tiên: Tại Trường Mầm non An Lạc
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Cơ sở vật chất ở trường,
lớp, các trang thiết bị phục vụ cho công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáp dục trẻ.
7.Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: tháng 9 năm 2015
TÁC GIẢ
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP
DỤNG SÁNG KIẾN
Phạm Thị Dung
1
TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1.Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Như chúng ta đã biết trẻ mầm non đặc biệt là trẻ 3 tuổi là độ tuổi xem là
có sự “ bùng nổ” về sự ham hiểu biết, tìm tòi, khám phá mọi sự vật xung
quanh. Một trong các hoạt động mà giáo viên có thể tạo điều kiện cho trẻ được
thực hiện điều này là hoạt động khám phá khoa học.
1.Xây dựng m«i trơng học tập cho trẻ phong phú đa dạng, sinh động hấp
dẫn, an toàn, thuận tiện để trẻ tích cực khám phá.
2. Khai thác triệt để tác dụng của góc thiên nhiên
3.Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học
4. Rèn trẻ khám phá khoa học thông qua các hoạt động hàng ngày.
5.Kết hợp giữa cô giáo và phụ huynh để đạt hiệu quả dạy trẻ cao nhất
4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến:
Qua việc thực hiện một số biện pháp trên tôi đã đạt được kết quả: Bản
thân giáo viên linh hoạt, tự tin hơn khi tiến hành hoạt động, bên cạnh đó tôi
được trau dồi kiến thức, kĩ năng dạy trẻ khám phá khoa học.
Tạo được môi trường học tập phong phú với nội dung của từng chủ đề,
đồ dùng, đồ chơi được trang bị đầy đủ, hấp dẫn trẻ. Trẻ tham gia hoạt động
khám phá tích cực, hào hứng. Giờ học đạt được hiệu quả cao.
Các bậc phụ huynh đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc dạy trẻ làm
quen với môi trường xung quanh, cùng phối kết hợp với cô giáo tạo một cách
tích cực.
5. Đề xuất, kiến nghị để thực hiện mở rộng sáng kiến.
Các cấp lãnh đạo cần tạo điều kiện cho giáo viên trong trường được đi
kiến tập, tham quan, dự các lớp tập huấn để giáo viên có cơ hội học hỏi thêm
kinh nghiệm tổ chức các hoạt động khám phá khoa học cho trẻ.
Tăng cường đầu tư kinh phí, thời gian, đồng thời hướng dẫn, động viên,
khuyến khích giáo viên tích cực nghiên cứu, sáng tạo các hoạt động mới, hấp
dấn trẻ và có hiệu quả để phục vụ cho nội dụng bài giảng thêm sinh động.
Thường xuyên tổ chức các chuyên đề nâng cao trình độ chuyên môn cho
giáo viên về mọi lĩnh vực, đặc biệt hoạt động khám phá khoa học.
3
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Như vậy có thể nói việc tổ chức cho trẻ khám phá với môi trường xung
quanh là phương tiện không thể thiếu nhằm mục đích phát triển toàn diện cho
trẻ ở trường mầm non. Đặc biệt với trẻ mẫu giáo bé 3-4 tuổi vốn hiểu biết còn
ít, khả năng nhận thức của trẻ còn hạn chế, các kĩ năng tư duy còn non nớt, khả
năng tập trung của trẻ còn hạn chế. Vì thế để khám phá tìm tòi được thế giới
xung quanh trẻ cần dựa vào năng lực nhận thức, kĩ năng tư duy, vốn ngôn ngữ
ít ỏi của bản thân trẻ và đặc biệt là dựa vào sự hướng dẫn, tổ chức của giáo
viên. Vì thế người giáo viên có một vai trò vô cùng quan trong trong việc cho
trẻ khám phá khoa học để góp phần phát triển toàn diện cho trẻ.
Song thực tế hiện nay, việc tổ chức cho trẻ 3-4 tuổi khám phá về môi
trường xung quanh còn nhiều hạn chế, và chưa được giáo viên thực sự quan
tâm đầu tư, tổ chức hoạt động còn đơn điệu, chưa sáng tạo và hiệu quả mang lại
chưa cao. Nhận thức rõ tầm quan trọng của bộ môn và căn cứ vào kết qủa trên
trẻ ở trường, căn cứ vào cơ sở vật chất của lớp, của trường, của địa phương, và
sự quan tâm ủng hộ của các ban ngành, phụ huynh nên tôi đã mạnh dạn nghiên
cứu tìm hiểu “một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ 3 tuổi làm quen
với khám phá khoa học” và việc áp dụng đó đã mang lại hiệu quả cao, trẻ
hứng thú, tích cực hoạt động.
2. Cơ sở lý luận
Theo từ điển tiếng việt “ Khoa học là hệ thống tri thức tích lũy trong
quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ảnh những quy luật
khách quan của thế giới bên ngoài cũng như của các hoạt động tinh thần của
con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực”. Như vậy
kiến thức khoa học là những kiến thức chính xác ở mức độ cao, còn nghiên cứu
khoa học được hiểu là hoạt động tìm tòi, khám phá của loài người để phát minh
ra những tri thức có thể giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên và trong
xã hội, trong chính con người và cải tạo thế giới.
Ở lứa tuổi Mần non, khoa học là những hiểu biết sơ khai về thế giới
nắm được những thuận lợi và khó khăn cơ bản như sau:
3.1. Thuận lợi :
Trường có Ban nghiệp vụ luôn đi sâu, đi sát bồi dưỡng về chuyên môn
nghiệp vụ cho giáo viên.
6
Số trẻ đồng đều về độ tuổi, trẻ ngoan và có sự phát triển tương đối đồng
đều về các mặt.
Tỷ lệ chuyên chăm cao.
Lớp có tương đối đầy đủ đồ dùng, phương tiện phục vụ cho dạy và học.
Giáo viên: 2 cô đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn về chuyên môn
nghiệp vụ, có lòng yêu nghề mến trẻ, ham học hỏi nâng cao trình độ chuyên
môn .
Ban giám hiệu, chính quyền đia phương, phụ huynh luôn động viện, tạo
điều kiện và phối kết hợp thực hiện tốt công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục trẻ.
3.2 Khó khăn :
Sỹ số trẻ ở lớp tương đối đông (34 cháu/lớp).
Môi trường để trẻ trải nghiệm thực tế còn hạn chế: những vật mẫu,
những con vật thật, đồ vật ...
Góc nhiên nhiên còn nghèo, số cây ít, loại cây chưa phong phú, cô chưa
tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm ở đó.
Đa số phụ huynh quan tâm và phối hợp tốt với cô giáo trong công tác
chăm sóc, giáo dục trẻ. Tuy nhiên chưa có nhiều phương pháp giáo dục trẻ
đúng cách.
Đồ dùng phục vụ tiết dạy còn nghèo nàn, đồ chơi của trẻ chưa đủ theo quy
định, thiếu những hình ảnh đẹp, sinh động để trẻ quan sát. Các đồ dùng, đồ
chơi chưa mang tính động để gây hứng thú cho trẻ và kích thích trẻ tìm tòi
khám phá.
Chưa đạt
yêu cầu
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
5
14.7
7
20.6
12
động hấp dẫn, an toàn, thuận tiện để trẻ tích cực khám phá.
Có thể nói việc xây dựng môi trường giáo dục trong trường mần non là
thực sựcần thiết và quan trọng. Nó được ví như người giáo viên thứ 2 trong
công tác tổ chức, hướng dẫn trẻ hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi, và
hoạt động của trẻ, thông qua đó nhân cách trẻ được hình thành và phát triển
toàn diện. Đặc biệt với trẻ 3 - 4 tuổi khi tư duy hình tượng đang phát triển
mạnh mẽ thì đồ chơi không thể thiếu đối với sự phát triển toàn diện của trẻ nói
chung và hoạt động khám phá khoa học nói riêng. Môi trường học tập phong
phú, đa dạng, sinh động sẽ kích thích tính tò mò, ham hiểu biết, tìm hiểu, khám
phá ở trẻ.
Nhận thức rõ vai trò to lớn của việc xây dựng môi trường học tập cho trẻ
tôi đã cố gắng xây dựng môi trường học tập cho trẻ phong phú đa dạng, sinh
động hấp dẫn, an toàn, thuận tiện để trẻ tích cực khám phá bằng những việc
làm cụ thể như:
Căn cứ vào diện tích lớp học tôi sắp xếp các góc chơi, giá đồ chơi phù
hợp, an toàn, thuận tiện cho trẻ hoạt động.
Để các góc chơi, các giá đồ chơi sinh động hấp dẫn đối với trẻ thì đồ
chơi phải đảm bảo đủ về số lượng theo qui định, phong phú về chủng loại, chất
liệu, đảm bảo về mặt thẩm mĩ. Tuy nhiên đồ dùng đồ chơi trong lớp tôi còn
9
chưa nhiều, chủ yếu là đồ dùng đồ chơi cấp phát. Trước yêu cầu thực tế trong
quá trình giảng môn khám phá khoa học về môi trường xung quanh, tôi luôn
luôn băn khoăn trăn trở muốn giờ học đạt kết quả cao thì yêu cầu giáo viên phải
có đủ đồ dùng học tập, và tạo ra môi trường học tập của trẻ thật tốt, từ đó tôi
đặt ra kế hoạch làm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho giảng dạy bằng các biện pháp
sau:
Bản thân tôi tận dụng những nguyên vật liệu có sẵn ở địa phương như:
vải vụn, cọng rơm khô, lá khô, hoa ép khô, vỏ cây khô để làm đồ chơi. Sưu tầm
Với các bậc phụ huynh vận động họ mua thêm đồ dùng, tranh, truyện, đặc
biệt là tranh, sách, ảnh về các con vật, cây cối, hoa lá, quả,... Sưu tầm những
câu ca dao , tục ngữ ,đồng dao để làm phong phú vốn hiểu biết về môi trường
xung quanh của trẻ .
Tôi giúp đỡ để cho trẻ làm một sản phẩm như tranh vẽ về các con vật ,
cỏ cây ,hoa lá , hoặc các sản phẩm nặn những đồ vật xung quanh trẻ ,các sản
phẩm tạo hình ,tranh từ những phế liệu, cô và trẻ cùng làm thể hiện vốn hiểu
biết phong phú của trẻ về khám phá khoa học.
Với những đồ dùng, đồ chơi được cấp phát và tự làm khi tôi đưa vào sử
dụng trong tiết dạỵ và các trò chơi khám phá khoa học, tôi thấy trẻ rất hứng thú
học, trẻ hiểu biết nhiều, thích qua sát, tìm rất nhanh các vật mẫu cô đưa ra,quan
sát và nhận xét, rất rõ ràng, rành mạch , ngôn ngữ rất phát triển , trẻ thuộc rất
nhiều thơ ca dao, tục ngữ, đặc biệt là các câu đố về các con vật, các cây hoa,các
loại quả ... Tư duy của trẻ cũng nhanh và chính xác hơn .
4.2 Khai thác triệt để tác dụng của góc thiên nhiên
Ngoài việc tạo môi trường trong lớp học sinh động, hấp dẫn tôi chú ý
đên xây dựng góc bé với thiên nhiên. Bởi góc thiên nhiên là khu vực kích thích
trẻ thực hiện các hoạt động khám phá khoa học và làm những thí nghiệm đơn
giản để làm giàu thêm hiểu biết của trẻ về sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ.
Tôi dùng nhiều chậu nhỏ, vỏ chai nước đã trồng nhiều loại cây khác nhau, cây
leo, cây cảnh, cây hoa, cây trồng trong đât, cây trồng trong nước, tôi cắt tỉa đẹp
mắt. Tôi còn bố trí một số đồ dùng, đồ chơi ở đó để trẻ làm thí nghiệm phù hợp
với từng chủ đề, như:
- Pha màu
- Vật chìm vật nổi
11
- Đường tan hay sỏi tan trong nước?
- Cây xanh có những bộ phận nào?
nhiên chơi như trước nữa. Qua đó trẻ tích lũy rất nhiều kiến thức bổ xung cho
tiết học, tiết học trở lên hiệu quả hơn, sôi nổi hơn.
4.3 Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học
Đây là hình thức chủ đạo để củng cố , hệ thống hoá , khái quát hoá, mở rộng
kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho trẻ. Nhưng hoạt động này dẽ gây cho trẻ sự
gò bó, ép buộc.Căn cứ vào nội dung của từng đề tài, căn cứ vào cấu trúc một
giờ học tôi đã sử dụng đa dạng phong phú các phương pháp dạy học như: quan
sát, sử dụng phương tiện trực quan, đàm thoại, truyện kể, thơ ca, câu đố, trò
chơi, mô hình hóa…Ví dụ tôi có thể sử dụng phương pháp dùng truyện kể, câu
đố, thơ ca vào việc gây hứng thú nhăm thu hút và kích thích sự tập chung chú ý
của trẻ. Tôi cũng có thể sử dụng phương pháp này vào việc củng cố, mở rộng
kiến thức, phát triển ngôn ngữ và giáo dục thái độ ứng xử đúng đắn. Sau khi
gây hứng thú tôi tiến hành tổ chức cho trẻ quan sát. Việc tiến hành cho trẻ quan
sát đạt hiệu quả trược hết tôi phải lập kế hoạch quan sát. Trong kế hoạch tôi đã
thể hiện rõ mục đích, nội dung, đối tượng quan sát, các bước tổ chức quan sát.
Ví dụ khi cho trẻ quan sát con cá vàng. Tôi cho trẻ khám phá màu sắc, cấu tạo
ngoài(đầu, mình, đuôi, vây, vẩy, mang và chức năng của chúng), vận động,
thức ăn của chúng. Ngoài ra tôi rèn luyện cho trẻ khả năng ghi nhớ có chủ định,
sử dụng phối hợp các giác quan, phán đoán, nhận xét, giải quyết các tình huống
có vấn đề.
Đối tượng quan sát tôi lựa chọn phải gần gũi, quen thuộc, tiêu biểu, nổi
bật, và đảm bảo thẩm mĩ. Ngoài đối tượng quan sát tôi chuẩn bị các phương
tiện để phục vụ quan sát. Ví dụ quan sát con cá vàng phải chuẩn bị bể cá, vợt,
thức ăn.
Không gian quan sát: Tùy thuộc vào từng đối tượng mà tôi lựa chọn vị trí
cho trẻ quan sát có thể đứng hoạc ngồi, ngồi xung quanh hay ngồi hình chữ u,
nhóm nhỏ, hay nhóm lớn…sao cho tạo ra được khoảng không gian tối ưu cho
việc tiếp xúc của trẻ với đối tượng quan sát. Bởi lẽ việc tri giác các sự vật, hiện
tượng xung quanh chỉ có thể xảy ra thông qua những tiếp xúc trực tiếp. Trẻ
thức và tư duy của trẻ. Vi vậy khi tổ chức cho trẻ khám phá khoa học về môi
trường xung quanh tôi đã sử dụng đa dạng các tranh ảnh, mô hình, sách, băng
14
đĩa có kích thước, chất liệu , nội dung khác nhau . Tranh, ảnh tôi chọn có kích
thước lớn, nội dung đơn giản, đẹp, sinh động và phản ánh trung thực hiện thực
khách quan, đặc biệt tôi chú ý lựa chọn những vật mẫu thật, những hình ảnh
động để kích thích sự hững thú cho trẻ. Khi cho trẻ xem tranh ảnh, băng đĩa,
sách tôi căn cứ vào mục đích của hoạt động khám phá và nội dung của tranh
ảnh, mô hình để tôi đặt câu hỏi cho phù hợp. Tôi tổ chưc cho trẻ xem tranh ảnh,
sách, đĩa trong các thời điểm thích hợp.
Trong khi trẻ quan sát, xem đồ dùng trực quan tôi đã kết hợp với phương
pháp đàm thoại nhằm gây hứng thú, kích thích sự tập trung chú ý, tri giác tư
duy của trẻ, phát triển khả năng suy luận nhận xét cho trẻ. Tôi còn kết hợp đàm
thoại với đọc thơ, kể truyện, thí nghiệm để gây sự tò mò, nhu cầu khám phá và
tạo cơ hội cho trẻ nói lên cảm nhận, suy nghĩ của mình.Để trẻ tiến hàng đàm
thoại được tốt tôi đã chú ý rất lớn tới việc xây dựng hệ thống câu hỏi. Tôi dựa
vào mục đích của việc khám phá, nhiệm vụ cụ thể của mỗi hoạt động tôi chuẩn
bị câu hỏi cho phù hợp. Để kích thích sự chú ý của trẻ tôi thường đặt câu hỏi
nêu vấn đề. Đó là những câu hỏi về đặc điểm dấu hiệu của sự vật mà trẻ chưa
biết rõ.Ví dụ trước khi cho trẻ quan sát con cá tôi thường hỏi trẻ một trong số
các câu hỏi: “ Các con biết gì về con cá rôi?, Cá có kêu được không? Mắt của
cá có giống mắt của chúng mình không?”. Để trả lời được các câu hỏi trên yêu
cầu trẻ phải tích cực quan sát. Để gây sự chú ý của trẻ vào khám phá các đặ
điểm, dấu hiệu đặc trưng của đối tượng, đồng thời kích thích hoạt động của các
giác quan tôi đưa ra những câu hỏi gợi mở như: Con thấy nó như thế nào? Hay
“ Con thấy nó ra sao?”, khi trẻ gặp khó khăn tôi có thể gợi mở hơn: “ Nó nhẵn
hay sần sùi?”, “ Con ngửi thây nó có thơm không”…Và khi hỏi tôi phải cố
gắng hỏi bằng giọng truyền cảm, thái độ trìu mến và tôi cùng chú ý động viên
nghiệp treo chuông gió ở cửa sổ? Vì sao chuông gió lại kêu? Gió đó là ở đâu?Gió trời – Gió thiên nhiên.....Những trải nghiệm này trẻ rất hứng thú và lĩnh hội
kiến thức nhẹ nhàng, sâu sắc.
Để gây hứng thú cho trẻ trong suốt giờ học tôi luôn chú ý đến bước giới
thiệu chuyển tiếp giữa các đối tượng. Tôi sử dụng phong phú đa dạng hình thức
giới thiệu đối tượng trong một giờ học, khi là khám phá hộp quà, khi dùng thơ,
câu đồ, bài hát, mô phỏng hành động, hoạt đông, trò chơi,…
16
Việc củng cố mở rộng kiến thức cho trẻ phải đi đôi với việc rèn luyện kỹ
năng: Kỹ năng hoạt động trí tuệ ( so sánh, phán đoán, giải quyết vấn đề…) Kỹ
năng xã hội ( giao tiếp, hợp tác, thoả thuận trong nhóm bạn bè…). Tôi luôn
luôn chú ý rèn các kĩ năng này khi tổ chức các hoạt động khám phá, rèn mọi
lúc mọi nơi.
( Có giáo án minh họa).
4. Rèn trẻ khám phá khoa học thông qua các hoạt động hàng ngày.
Ngoài việc rèn trẻ khám phá khoa học ở hoạt động học có chủ đích thì
hoạt động khám phá khoa học có thể rèn trẻ trong các hoạt động hàng ngày
như:
* Dạo chơi:
Với các nội dung về: Động vật , thực vật , phương tiện giao thông, thiên
nhiên vô sinh, hiện tượng thiên nhiên hay mét số hoạt động của con người (Lao
động của người lớn trong trường MN, công việc của công nhân vệ sinh môi
trường , của thợ xây, của người bán hàng….) trong các buổi dạo chơi, cô giáo
giúp trẻ quan sát và đàm thoại nhằm khơi gợi hứng thú, kích thích tính tò mò,
ham hiểu biết của trẻ, đồng thời cung cấp kiến thức cho trẻ về đối tượng .
- Cần cho trẻ phát hiện thấy sự đa dạng, phong phú và các mối liên hệ ,
tác động qua lại ,ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng trong môi
trường. Khi cho trẻ quan sát giáo viên cần lưu ý liên hệ với những kiến thức
kinh nghiệm đã có của trẻ, khơi gợi ở trẻ những tình cảm tích cực, thái độ đúng
với một số cá nhân trẻ : Cùng xem tranh ảnh, cùng đọc truyện , đọc thơ, cùng
trao đổi , trò chuyện nhằm cung cấp ,tích luỹ kiến thức, cho trẻ .Những trẻ nhút
nhát, khó khăn trong việc hoà nhập vào tập thể, thường có sự giúp đỡ của giáo
viên.
4.5 Kết hợp giữa cô giáo và phụ huynh để đạt hiệu quả dạy trẻ cao nhất
Sự hình thành nhân cách của trẻ chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc bởi
giáo dục gia đình và nhà trường. Do vậy việc phối hợp giữa cô giáo và phụ
huynh là rất cần thiết. Nó tạo được sự thống nhất trong công tác chăm sóc, giáo
dục trẻ, tránh được tình trạng “ trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Đặc biệt
trong hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh thì sự phối hợp
giữa cô giáo và phụ huynh góp phần mang lại hiệu quả thiêt thực. Phụ huynh
18
có thể giúp cô giáo cho trẻ tìm hiểu trước những đối tượng xung quanh, củng
cố, khắc sâu lại những đối tượng đã tìm hiểu, phụ huynh còn có thể cung cấp
nguyên vật liệu làm đồ dùng phục vụ cho hoạt động của trẻ….Cô giáo cung cấp
cho phụ huynh phương pháp dạy con khám phá một đối tượng, hoặc củng cố
kiến thức về một đối tượng…. Chính vì vậy mà tôi luôn luôn chú ý phối kết
hợp vơi phụ huynh để tổ chức tốt hoạt động khám phá cho trẻ.
Tôi làm tốt công tác tuyên truyền với các bậc phụ huynh những nội dung
trẻ thực hiện hoạt động khám phá khoa học thông qua bảng tuyên tuyền của
lớp, của trường. Trong bảng tuyên truyền “ Tuần này bé học gì” ngoài việc
tuyên truyền về nội dung học trong tuần, tôi cùng sưu tầm tranh ảnh phù hợp
với chủ đề cho phụ huynh biết, trên cơ sở đó phụ huynh cho trẻ tìm hiểu ở nhà.
Trong bảng tuyên truyền tôi cũng đưa một số hình ảnh hoạt động của phụ
huynh trong việc phối kết hợp với cô giáo dạy trẻ khám phá khoa học.
Tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh vào giờ đón, trả trẻ về tình hình
học tập của trẻ, đặc biệt với những trẻ nhút nhát, nhận thức chậm để phụ huynh
củng cố, rèn thêm cho trẻ thêm cho trẻ khi trẻ về nhà. Động viên các cháu
(tháng
9/2014)
Lớp 3
tuổi B
(tháng
2/2015)
Số
lượng
34
34
Kết quả đánh giá
Đạt yêu
Khá
cầu
Giỏi
Chưa đạt
yêu cầu
SL
%
SL
SL
%
SL
%
SL
%
10
29.4
16
40.1
6
17.6
2
5.9
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng
Qua thực tế áp dụng các giải pháp trên vào giảng dạy, tôi thấy để đề tài
Khám phá khoa học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thỏa mãn
nhu cầu nhận thức, nhu cầu hoạt động nhóm của trẻ, tạo cơ hội cho trẻ được
chơi, hoạt động khám phá thế giới xung quanh một cách tích cực, độc lập, sáng
tạo. Do vậy nâng cao chất lượng cho trẻ 3 tuổi làm quen với khám phá khoa
học tôi cần:
Xây dựng môi trường học tập cho trẻ phong phú đa dạng, sinh động hấp
dẫn, an toàn, thuận tiện để trẻ tích cực khám phá.
Khai thác triệt để tác dụng của góc thiên nhiên
Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học
Rèn trẻ khám phá khoa học thông qua các hoạt động hàng ngày.
Kết hợp giữa cô giáo và phụ huynh để đạt hiệu quả dạy trẻ cao nhất
Bản thân tôi không ngừng rèn luyện, học tập và bồi dưỡng về đạo đức
cũng như nghiệp vụ sư phạm. Tổ chức tốt các hoạt động trong lớp, tạo môi
trường trong lớp thân thiện, phù hợp có khoa học.
II. Kiến nghị
Qua việc nghiên cứu và thực hiện một sô biện phám giúp trẻ 3 tuổi nâng
cao chất lượng khám phá khoa học về môi trường xung quanh, tôi có một số ý
kiến đề xuất sau:
Các cấp lãnh đạo cần tạo điều kiện cho giáo viên trong trường được đi
kiến tập, tham quan, dự các lớp tập huấn để giáo viên có cơ hội học hỏi thêm
kinh nghiệm tổ chức các hoạt động khám phá khoa học
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã đúc rút được trong năm
qua ,để nâng cao kỹ năng quan sát , nhận xét, phán đoán cho trẻ . Tuy nhiên
bản thân tôi còn cần phải cố gắng nhiều hơn nữa để góp phần nhỏ bé của mình
vào sự nghiệp giáo dục nước nhà. Rất mong được sự đóng góp của các cấp
lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp để bản sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
MỤC LỤC
3
Thực trạng của vấn đề
6
4
Các biện pháp thực hiện
8
5
Kết quả đạt được
20
6
Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng
21
22
Phần 3
Kết luận và khuyến nghị
1
Kết luận
- Cô cho bạn búp bê đến thăm lớp. Búp
bê mời cả lớp đi thăm vườn hoa nhà
mình.
- Cô cho cả lớp đi thăm vườn hoa nhà bạn
búp bê, vừa đi vừa hát “ màu hoa”
- Cho trẻ quan sát và kể tên một số loài
hoa mà trẻ biết ở trong vườn.
- Cô giới thiệu búp bê tặng hoa cho cả
lớp.
* HĐ 2: Khám phá
- Cô cho cả lớp về chỗ ngồi thành 3 tổ và
khám phá hộp quà bạn búp bê tặng.
- Cô tặng cho 3 tổ, mỗi tổ một giỏ hoa
to(giỏ hoa hồng, hoa cúc, hoa đào), cho
các tổ về chỗ ngồi và tiền hành thảo luận.
-Cô gợi ý vấn để cho trẻ thảo luận.
- Thời gian thảo luận 5 phút.
- Cô cho mỗi trẻ chọn cho mình 1 bông
hoa cắm vào giỏ hoa và để lên bàn của tổ
mình.
* Khám phá hoa đào:
- Cô đọc thơ:
Bông đào nho nhỏ
Cánh đào hồng tươi
Hễ thấy hoa đào hễ là tết đến
Cô vừa đọc những câu thơ nói về loài hoa
của tổ nào?
-Loài hoa đó có tên là hoa gì?
- Ai có hoa đào để lên phía trước cho các
bạn quan sát.
thế nào?
- Hoa đòa nở vào dịp nào trong năm?
- Hoa đào dùng làm gì?
- Cô khái quát lại: Hoa đào màu hồng,
cánh hoa nhỏ nhỏ xinh xinh, tròn mỏng,
chỉ nở vào dịp tết.
- Các con còn nhớ bài thơ nào nói về hoa
đào không?
- Cho trẻ đọc thơ “Cây đào”
* Khám phá hoa cúc
- Cô cho trẻ xem hình ảnh hoa cúc trên
máy tình và hỏi trẻ đây là hoa gì?
- Cô cho trẻ nói tên hoa cúc, và hỏi trẻ đó
là hoa của tổ nào?
- Cô cho tổ, nhóm, cá nhân nói tên hoa
cúc.
- Cô yêu cầu tổ có hoa cúc để lên phía
trên và trình bày đặc điểm hoa cúc.
+ Con thấy hoa cúc có màu gì?
+ Cánh hoa cúc đâu? Ai có nhận xét gì về
cánh hoa cúc?
+ Lá hoa cúc đâu? Là hoa màu gì?
-Cô chú ý hỏi một số bạn ở tổ khác có
nhất trí với ý kiến trình bày của tổ bạn
không? Ý kiến của con là gì?
- Cô chú ý động viên
Khen gợi trẻ nhất là những trẻ ở tổ khác
để thu hút tạo hứng thú cho trẻ.
*Khám phá hoa hồng
- Cô đọc câu đố: