NÂNG CAO NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ HỨNG THÚ HỌC TẬP
MÔN HÓA HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA HOẠT
ĐỘNG NGOẠI KHÓA
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Hội nghị lần thứ hai của ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII đã đề ra
bốn giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng cho ngành giáo dục và đào tạo, mà
một trong bốn giải pháp đó là: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo,
khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người
học”.
Dự thảo báo cáo chính trị tại đại hội X của Đảng đã nêu: “Một nền giáo dục
hiện đại phải dạy cho con người biết học cách học, học cách làm, học cách tổ chức
các tri thức, liên kết các tri thức nhằm nâng cao hiệu quả hành động của mình”.
Trước những yêu cầu đòi hỏi cấp thiết của giáo dục và đào tạo nước nhà, mà
trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy, đổi mới phương pháp học nhằm phát huy
vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, nâng cao nhận thức của người học, giúp người
học vừa lĩnh hội được hệ thống tri thức khoa học phổ thông, vừa cập nhật được
những tri thức khoa học mới, hiện đại để khi bước vào đời không bị bỡ ngỡ trước sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật.
Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm, việc tăng nội dung thực hành
trong dạy học hóa học không những tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh lĩnh hội hệ
thống tri thức, rèn luyện kĩ năng thực hành, phát triển tư duy, mà còn giúp học sinh
hình thành thế giới quan khoa học đúng đắn. Trong hoạt động dạy học nói chung và
hoạt động dạy học hóa học nói riêng, hứng thú học tập là động lực thúc đẩy tính tích
cực, tự giác trong học tập, lòng say mê, ham hiểu biết tri thức khoa học. Thực tiễn
chứng tỏ rằng thiếu hứng thú học tập làm cho tinh thần mệt mỏi, làm giảm khả năng
tư duy, giảm khả năng lĩnh hội tri thức và đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự
yếu kém trong học tập.
Do khối lượng kiến thức của nhân loại là một kho tàng khổng lồ và ngày càng
được bổ sung, trong khi đó thời gian học trên lớp chưa đáp ứng được việc tiếp cận
toàn bộ lượng kiến thức này. Chủ trương của bộ giáo dục và đào tạo là tăng thời
gian học tập trên lớp nhằm giảm tải và đưa thêm một lượng kiến thức mới vào
đến bản chất sâu sắc hơn.
- Nhận thức không phải là sự phản ánh đơn giản, nhất thời mà là quá trình biện
chứng, quá trình không ngừng nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn.
- Thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực, mục
đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lí.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: “Nhận thức là quá trình phản ánh
biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc của
con người, trên cơ sở thực tiễn”. V.I. Lênin đã vạch rõ quy luật chung của hoạt động
nhận thức là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu
tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, của sự
nhận thức hiện thực khách quan”.
* Hoạt động nhận thức có 2 hình thức:
- Nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác, biểu tượng).
- Nhận thức lí tính (khái niệm, phán, đoán, suy luận).
Hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình học tập là một quá trình vận
động không ngừng, từ chổ chưa biết đến biết được, từ chổ biết chưa đầy đủ, chưa
đúng đắn đến đầy đủ hơn, đúng đắn hơn, sự hoạt động đó phải trải qua nhiều con
đường khác nhau.
Hoạt động học tập của học sinh là một hoạt động tìm tòi và tiếp thu những kiến
thức trong kho tàng kiến thức của nhân loại. Vì vậy, hoạt động nhận thức đóng vai
trò rất quan trọng, ban đầu từ những cảm giác, tri giác, biểu tượng tiếp theo là
những khái niệm, phán đoán, suy luận học sinh dần dần biết, hiểu và vận dụng kiến
thức thành thạo.
1.2:Hứng thú học tập.
A.G. Covaliop cho rằng: “Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đ c biệt
2
của chủ thể với đối tượng của hoạt động học tập về sự cuốn hút về tình cảm và ý
nghĩa thiết thực của nó trong đời sống cá nhân”.
hệ liên môn học.
1.3:Hoạt động ngoại khoá.
1.3.1: Khái niệm hoạt động ngoại khoá.
Hoạt động ngoại khoá được hiểu là những hoạt động học tập, giáo dục học sinh
mà được tổ chức ngoài chương trình học bắt buộc và tự chọn, do giáo viên điều
khiển có sự hỗ trợ của các đoàn thể và xã hội.
1.3.2: Mục đích của hoạt động ngoại khoá.
- Nâng cao năng lực nhận thức và hứng thú học tập bộ môn cho học sinh.
- Giáo dục cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng, củng cố niềm tin
khoa học cho học sinh.
3
- Củng cố, mở rộng, nâng cao và khắc sâu kiến thức cho học sinh.
- ước đầu cho học sinh tập làm quen với nghiên cứu khoa học, phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Hình thành ở học sinh những đức tính tốt đẹp của người lao động.
1.3.3: Nhiệm vụ cơ bản của hoạt động ngoại khoá hoá học.
- Phát triển hứng thú học tập, nâng cao và mở rộng kiến thức hoá học, phát
triển kĩ năng thực hành, thí nghiệm, kích thích lòng ham hiểu biết hoá học.
- Phát triển tính tích cực, sáng tạo và rèn luyện kĩ năng giải quyết các vấn đề
khoa học, trí thông minh của học sinh.
- Chuẩn bị cho học sinh đi vào hoạt động thực tiễn, hướng nghiệp, phát triển và
bồi dưỡng tài năng về hoá học.
- Huy động học sinh tham gia vào các hoạt động công ích có mang nội dung hoá
học.
- Tổ chức vui chơi, giải trí một cách văn hoá, có trí tuệ, bổ ích.
1.3.4: Nguyên tắc hoạt động của ngoại hoá học khoá.
- ảo đảm tính mục đích và tính kế hoạch của toàn bộ các hoạt động ngoại
khoá.
- Tình hình tổ chức hoạt động ngoại khóa hóa học ở trường từ năm 2
đến
2013.
- Nhận thức của giáo viên và học sinh về hoạt động ngoại khóa hóa học.
- kiến góp ý của giáo viên và học sinh để hoàn thiện hơn hoạt động ngoại
khóa hóa học.
Từ kết quả của các nội dung tìm hiểu, chúng tôi có cơ sở thực tiễn cho vấn đề
nghiên cứu và định hướng cho việc nghiên cứu đề tài.
1.4. : K t uả đi u tra ph ng v n.
1.4.2.1:V nhận thức của học inh.
- Phần lớn ( , ) học sinh hiểu được mục đích, ý nghĩa của hoạt động ngoại
khóa hóa học như:
- Tạo được sân chơi giải trí khoa học, bổ ích.
- Củng cố, khắc sâu và mở rộng thêm kiến thức.
- èn luyện thêm nhiều kĩ năng và hình thành những đức tính tốt đẹp cho bản
thân
1.4.2.2: Đ i v i giáo viên.
- Một số giáo viên ( , ) nhận thức chưa đúng về hoạt động ngoại khóa hóa
học và cho rằng đây là hoạt động ngoài chương trình chính khóa nên không cần
thiết lắm.
- ,
giáo viên hóa học ít quan tâm, đầu tư cho hoạt động ngoại khóa.
1.4.2.3: Đ i v i ban giám hiệu nh trường.
- an giám hiệu các trường chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động ngoại khóa
nói chung và hoạt động ngoại khóa hóa học nói riêng và lấy lí do rằng nếu trong
một năm học mà môn nào c ng tổ chức hoạt động ngoại khóa thì tốn kém kinh phí,
không có nguồn chi, không có nguồn tài chính hỗ trợ... Nên trong kế hoạch hoạt
động của năm học, hoạt động này c ng chỉ đề cập chung chung, không đưa ra chỉ
tiêu.
1.4.2.4: Một nguyên nhân chủ y u l m cho hoạt động ngoại khoá hoá học ở
nhúm bông khác tẩm dung dịch HCl đ c, bôi lên m t trong của đĩa thủy tinh, rồi úp
đĩa thủy tinh lên cốc thủy tinh. Khói trắng sẽ xuất hiện ở trong cốc.
* Giải thích hiện tượng:
Khi đưa hai đầu đ a thủy tinh lại gần nhau sẽ có phản ứng giữa NH 3 và HCl,
tạo ra những hạt nhỏ li ti NH4Cl (giống khói trắng).
NH3 + HCl
NH4Cl
Thí nghiệm : Lửa v khói.
* Dụng cụ và hóa chất:
Đĩa thủy tinh, bông, dung dịch NH3 2
và dung dịch HCl đ c.
* Tiến hành thí nghiệm:
Đ t miếng bông vào đĩa thủy tinh, các miếng bông đã được tẩm các dung
dịch sau: Miếng thư nhất tẩm cồn, miếng thứ hai tẩm dung dịch NH3 đ c, miếng thứ
ba tẩm dung dịch HCl đ c, miếng thứ tư tẩm dung dịch benzen.
- Châm lửa đốt bông tẩm cồn, cồn cháy có lửa mà không có khói.
- Gắp bông tẩm dung dịch HCl, bỏ lên bông tẩm dung dịch NH3, có khói mà
không có lửa.
- Châm lửa đốt bông tẩm benzen, benzen cháy có cả lửa và khói.
* Giải thích hiện tượng:
- Cồn cháy gần như hoàn toàn nên có lửa mà không có khói.
C2H5OH + 3O2
2CO2 + 3H2O
- Phản ứng giữa NH3 và HCl tạo ra những hạt nhỏ li ti NH4Cl (giống khói
trắng), có khói mà không có lửa.
NH3 + HCl
NH4Cl
- Benzen cháy không hoàn toàn, tạo ra muội than nên có cả lửa và khói.
2C6H6 + 15O2
12CO2 + 6H2O
được khoảng
thể tích khí NH3), làm cho áp suất trong bình giảm xuống rất thấp,
áp suất không khí ngoài bình lớn hơn, sẽ đẩy quả trứng chui vào bình cầu.
Khi hơ nóng bình cầu (phần có nước) thì khí NH3 được tạo ra nhiều, nóng lên
và nở ra, sẽ đẩy quả trứng chui ra.
* Chú ý: có thể thay khí NH3 bằng khí HCl hoặc khí CO2 và dung dịch NaOH
o
2 3
Hình 2.1 : Thí nghiệm trứng chui vào lọ
Thí nghiệm 5: Thu khói v t n thu c lá.
* Dụng cụ và hóa chất:
7
Cốc thủy tinh, đĩa thủy tinh, bàn, diêm, điếu thuốc lá, lá nhôm, dung dịch NaOH
loãng, dung dịch HgCl2 đậm đ c, dung dịch NH3 đậm đ c, dung dịch HCl đậm đ c
và nước.
* Tiến hành thí nghiệm:
- Hai cốc thủy tinh rửa sạch, lau khô, và đ t ở một đầu bàn, cách nhau 2 cm,
lá nhôm ngâm vào dung dịch NaOH loãng, lấy ra, rửa lại bằng nước cất và lau khô.
- Lấy bông tẩm dung dịch HgCl2 lau thật kỹ lên m t của lá nhôm, đậy lá nhôm
lên cốc thủy tinh và cho m t lau dung dịch HgCl2 vào phía trong.
- Châm lửa một điếu thuốc lá và đ t ở đầu bàn phía bên kia.
- Lấy bông tẩm dung dịch NH3 đậm đ c, bôi vào m t trong của cốc thứ hai, lấy
nhúm bông khác tẩm dung dịch HCl đậm đ c, bôi lên m t của đĩa thủy tinh. Lấy đĩa
thủy tinh đậy lên cốc thứ hai (úp m t bôi HCl vào trong).
Khói thuốc lá sẽ “chui” vào cốc thứ hai và vài phút sau tàn thuốc lá c ng “chui”
qua lá nhôm vào cốc thứ nhất.
trong chén sứ bùng cháy.
8
* Giải thích hiện tượng:
1) Nước phản ứng mạnh với natri và giải phóng khí H2, phản ứng tỏa nhiệt
mạnh, làm khí H2 thoát ra tự bốc cháy và natri c ng cháy theo.
2Na + 2H2O
2NaOH + H2 ↑
2) Phản ứng của nhôm với iot xảy ra khi có xúc tác là nước, hỗn hợp bốc cháy
mạnh thành ngọn lửa có màu tím của iot (iot thăng hoa) lẫn màu vàng của AlI3.
2Al
+ 3I2 nước 2AlI3
) Khi rót nước vào, nước n ng hơn dầu hỏa nên chìm xuống dưới và tác dụng
với natri. Phản ứng tỏa nhiệt mạnh làm khí H2 thoát ra tự bốc cháy và natri c ng
cháy theo.
Thí nghiệm 7: Đ t cháy nư c đá.
* Dụng cụ và hóa chất:
Lon sữa bò đã qua sử dụng, đất đèn (canxi cacbua CaC2) và nước đá.
* Tiến hành thí nghiệm:
Cho đất đèn vào lon sữa bò khô, nước đá đập nhỏ, bỏ lên trên đất đèn cho gần
đầy lon, châm lửa đốt, ngọn lửa bùng cháy trên m t nước đá.
* Giải thích hiện tượng:
Khi bỏ nước đá vào đất đèn (thành phần chính CaC 2), sẽ có phản ứng giải
phóng khí C2H2.
CaC2 + 2H2O
C2H2 + Ca(OH)2
Khí C2H2 thoát lên m t nước đá, khi đốt nó sẽ cháy trông giống nước đá cháy.
2C2H2 + 5O2
4CO2 + 2H2O
ZnSO4 + H2O
Thí nghiệm 9: Từ một ch t pha được hai m u.
* Dụng cụ và hóa chất:
Cốc thủy tinh, CoCl2 khan, axeton và nước.
* Tiến hành thí nghiệm:
Hai cốc thủy tinh, một cốc đựng axeton, một cốc đựng nước (giống 2 cốc đựng
nước). Lần lượt cho CoCl2 khan vào 2 cốc, khuấy đều, một cốc chuyển sang màu
xanh, một cốc chuyển sang màu hồng.
* Giải thích hiện tượng:
Khi hòa tan CoCl2 khan vào axeton có màu xanh, màu của CoCl2 khan. Còn khi
hòa tan CoCl2 khan vào nước sẽ có màu hồng, màu của CoCl2.6H2O.
Thí nghiệm 0: Bắn cháy t u chi n địch.
* Dụng cụ và hóa chât:
Giấy, chậu thủy tinh, natri (ho c kali), nước và phenolphtalein.
* Tiến hành thí nghiệm:
Dùng giấy thấm gấp một chiếc tàu, cho vào trong đó một mẩu natri to bằng hạt
đậu, rồi thả vào chậu nước đã chứa vài giọt phenolphtalein. Sau vài phút, tàu sẽ tự
bốc cháy và nước trong chậu từ trong suốt chuyển sang màu hồng.
* Giải thích hiện tượng:
Nước thấm qua giấy phản ứng với natri theo PTHH sau.
2Na + 2H2O
2NaOH + H2 ↑
Phản ứng trên tỏa nhiều nhiệt làm H2 thoát ra tự bốc cháy, đồng thời NaOH tạo
thành, làm nước trong chậu từ trong suốt chuyển sang màu hồng.
Thí nghiệm : Vòi phun nư c đổi m u.
* Dụng cụ và hóa chất:
Lọ thủy tinh (ho c bình tam giác), nút cao su kín, nút cao su có ống thủy tinh
vuốt nhọn xuyên qua (đầu nhọn hướng vào bình), chậu thủy tinh, dung dịch NH 3
đậm đ c, dung dịch H2SO4 đậm đ c, NaCl rắn, phenolphtalein, dung dịch quỳ tím
và nước.
Hình 2.2: Thí nghiệm về tính
Hình 2.3: Thí nghiệm về tính
tan của amoniac
tan của hiđro clorua
Thí nghiêm 12: Bi n nư c th nh rượu m u.
* Dụng cụ và hóa chất:
Chai nước khoáng
ml đã qua sử dụng, bông, băng dính 2 m t, nước vôi
trong Ca(OH)2 và phenolphtalein
* Tiến hành thí nghiệm:
Lấy một ít bông tẩm dung dịch phenolphtalein, rồi dùng băng dính 2 m t dính
vào m t bên trong của nút chai. Nước vôi trong cho vào khoảng ¾ chai nước
khoáng, lấy nút chai v n ch t. Lắc mạnh cho nước vôi trong tiếp xúc với nhúm
bông, nước ở trong chai chuyển từ trong suốt, sang màu hồng ( giống rượu màu).
* Giải thích hiện tượng:
Khi lắc làm dung dịch Ca(OH)2 tiếp xúc với phenolphtalein, dung dịch bazơ làm
phenolphtalein chuyển sang màu hồng.
* Lưu ý: Thí nghiệm này cũng có thể biểu diễn bằng cách dùng đũa khuấy, một
đầu đũa nhúng vào dung dịch phenolphtalein trước.
11
Thí nghiệm 3: Đ t khăn không cháy.
* Dụng cụ và hóa chất:
Kẹp gỗ, khăn m t, hộp diêm, axeton (ho c ete) và nước.
* Tiến hành thí nghiệm:
Nhúng khăn vào nước và vắt thật khô, sau đó nhỏ một ít axeton lên m t khăn,
dùng 2 kẹp gỗ kéo căng khăn ra và châm lửa đốt, chiếc khăn bùng cháy. Một lúc sau
lửa tắt, chiếc khăn vẫn còn nguyên vẹn.
* Giải thích hiện tượng:
của đèn cồn, một lát sau đèn cồn sẽ tự bùng cháy.
* Giải thích hiện tượng:
Khi trộn kali pemanganat KMnO4 với dung dịch H2SO4 đậm đ c sẽ có phản
ứng tạo thành axit pemanganic HMnO4.
2KMnO4 + H2SO4
K2SO4 + 2HMnO4
Dưới tác dụng của dung dịch H2SO4 đậm đ c, HMnO4 mất nước tạo thành
anhiđrit maganic Mn2O7, chất này là chất lỏng màu nâu, sánh như dầu, dễ bị phân
2
4
12
hủy ở nhiệt độ thường, tạo thành MnO2 và O2.
2Mn2O7
4MnO2 + 3O2 ↑
Anhiđrit manganic là một chất oxi hóa rất mạnh, cồn, ete và nhiều chất hữu cơ
khác bốc cháy khi tiếp xúc với anhiđrit maganic Mn2O7.
Thí nghiệm 6: Sự cháy trong lòng ch t l ng.
* Dụng cụ và hóa chất:
Giá để ống nghiệm, ống nghiệm, cồn, dung dịch H2SO4 đậm đ c và KMnO4 rắn.
* Tiến hành thí nghiệm:
Lấy ống nghiệm lớn, sạch, rồi rót vào khoảng ml cồn, sau đó rót thêm ml
dung dịch H2SO4 đậm đ c. Hỗn hợp chia làm 2 lớp, lớp dưới là dung dịch H 2SO4
đậm đ c, lớp trên là cồn. ắc từ từ những hạt kali pemanganat KMnO4 vào hỗn hợp.
Khoảng một phút sau, những tia lửa lóe sáng trong lòng chất lỏng như sao và có
những tiếng nổ lách tách.
* Giải thích hiện tượng:
13
e) Dùng đ a thủy tinh chấm vào dung dịch H2SO4 loãng, viết lên tờ giấy trắng
một bức thư ngắn, nét chữ sẽ không có màu. Hơ bức thư lên bếp than ho c bàn là,
những dòng chữ màu đen của bức thư xuất hiện.
* Giải thích hiện tượng:
a) Dung dịch iot làm hồ tinh bột chuyển sang màu xanh.
b) Dung dịch bazơ Ca(OH)2 làm phenolphtalein chuyển sang màu hồng.
c) Na2S sẽ phản ứng với Pb(NO3)2 tạo thành PbS kết tủa, màu đen.
Na2S + Pb(NO3)2
PbS ↓ + 2NaNO3
d) Dung dịch CoCl2.6H2O có màu hồng nên khi ta viết lên giấy pơluya màu
hồng sẽ không nhìn thấy nét chữ. Hơ giấy pơluya trên bếp than ho c bàn là, nước
bay hơi, chuyển CoCl2.6H2O, thành CoCl2 khan, có màu xanh.
e) Hơ bức thư lên bếp than ho c bàn là nước ở nét chữ sẽ bay hơi, làm cho dung
dịch H2SO4 loãng, thành H2SO4 đậm đ c. H2SO4 đậm đ c nó chiếm nước của
xelulozơ là thành phần chính của giấy và giải phóng cacbon, làm xuất hiện nét chữ
màu đen.
đăc
6nC + 5nH2O
(C6H10O5)n HSO,
Thí nghiệm 8: Trứng tự uay.
* Dụng cụ và hóa chất:
Chậu thủy tinh, 2 quả trứng, nước, natri hiđrocacbonat NaHCO 3 rắn và axit
oxalic H2C2O4 rắn.
* Tiến hành thí nghiệm:
Châm thủng 2 lỗ ở 2 đầu quả trứng và hút hết lòng trứng ra. Trộn axit oxalic
H2C2O4 và muối natri hiđrocacbonat NaHCO3 theo tỉ lệ 1 : 2 về khối lượng. Cho
hỗn hợp trên vào trong quả trứng đến khoảng 1/ thể tích quả trứng (nếu cho nhiều
oxi thoát ra từ ống nghiệm làm bắn tung tóe các hạt than đang cháy.
Thí nghiệm 0: Đun ôi không cần lửa.
* Dụng cụ và hoá chất:
ình cầu, chậu thuỷ tinh, nút cao su có gắn ống dẫn khí, dung dịch H 2SO4 đậm
đ c, ete và nước.
* Tiến hành thí nghiệm:
ót vào bình cầu khoảng 2 ml ete, đậy nút cao su có gắn ống dẫn khí, rồi đ t
nó vào trong chậu nước. Lúc này trong bình không có hiện tượng gì xảy ra.
Dùng pipep rót dung dịch H2SO4 đậm đ c vào chậu thuỷ tinh đựng nước, thấy
ete trong bình sôi lên và có khí thoát ra ở ống dẫn khí, châm lửa đốt, khí trong ống
dẫn khí cháy sáng.
* Giải thích hiện tượng thí nghiệm:
Khi hoà tan H2SO4 đậm đ c vào nước, dung dịch toả nhiệt, làm nhiệt độ nước
trong chậu thuỷ tinh tăng lên đến mức làm cho ete trong bình sôi và bay hơi (nhiệt
độ sôi của ete thấp).
2.1. : Câu h i hóa học vui hiện tượng hóa học trong thiên nhiên v trong cuộc
ng.
Câu 1: ằng kiến thức hóa học hãy giải thích câu ca dao sau:
“ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Nghe tiếng Sấm động, phất cờ mà lên”
- Khi trời mưa dông có Sấm, Sét tạo ra tia lửa điện, là điều kiện để nitơ N2 và
oxi O2phản ứng với nhau.
N2 + O2 tia lửa điện
2NO
- NO sinh ra kết hợp với oxi trong không khí tạo ra NO2.
2NO + O2
2NO2
- NO2 sinh ra phản ứng với nước mưa trong điều kiện có oxi tạo thành HNO3.
4NO2 + 2H2O + O2
4HNO3
UV
3O2 (phóng điện trong cơn dông) 2O3
- Ở dưới thấp (trên M t Đất) thì ngược lại ozon là chất gây ô nhiễm. Nó cùng
với các hợp chất nitơ oxit gây nên mù quang hóa, bao phủ bầu trời thành phố trong
những ngày hè không có gió. Mù quang hóa gây đau cơ bắp, cuống họng, đó là
nguồn gốc của bệnh khó thở, ozon O3 c ng giống như khí cacbonic CO2 là chất gây
nên “Hiệu ứng nhà kính”.
Nếu nồng độ O3 trong khí quyển tăng lên gấp 2 lần thì nhiệt độ Trái Đất tăng
thêm 1oC.
Câu 4: Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng tầng ozon bị thủng ?
Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm tầng ozon là do sử dụng
các hợp chất CFC (Cloflocacbon) như: CCl2F2, CClF3,... có tên chung là freon.
Freon là chất sinh hàn, được dùng trong tủ lạnh, máy điều hòa.... Khi thải CFC
vào tầng đối lưu, nó khuếch tán dần sang tầng bình lưu, ở đây dưới tác dụng của tia
cực tím, nó bị phân hủy thành gốc tự do Cl.
CCl2F2 UV Cl. + .CClF2
Gốc tự do Cl., phá hủy tầng ozon.
Cl. + O3
ClO. + O2
ClO. + O3
Cl. + 2O2
Gốc tự do Cl. sinh ra, lại tiếp tục thực hiện phản ứng dây chuyền với O 3. Mỗi
gốc Cl. phá hủy hàng nghìn, hàng chục nghìn phân tử O3, gây ra hiện tượng thủng
tầng ozon. Khi tầng ozon bị thủng, tia cực tím của ánh sáng M t Trời qua lỗ thủng
này chiếu xuống M t Đất, gây ra một số bệnh cho con người như: Ung thư da, hủy
hoại mắt...
Hiện nay công ước quốc tế về môi trường đã cấm sản xuất hợp chất CFC,
nhưng với khối lượng CFC đã thải vào khí quyển trước đây, hiện có trong khí quyển
nó sẽ tiếp tục phá hủy tầng ozon tới hàng trăm năm sau.
Câu 5: Giải thích sự tạo thành thạch nh trong các hang động đá vôi ?
máy) có chứa các khí SO2, NO, NO2...
Các khí này tác dụng với oxi và hơi nước trong không khí nhờ xúc tác của oxit kim
loại (có trong khói, bụi nhà máy) ho c ozon tạo ra axit sunfuric H 2SO4 và axit nitric
HNO3.
2SO2 + O2 + 2H2O
2H2SO4
4NO2 + O2 + 2H2O
4HNO3
Axit H2SO4, HNO3 tan vào trong nước mưa, gây ra hiện tượng mưa axit.
* Tác hại của mưa axit:
- Làm giảm năng suất cây trồng.
- Phá hủy các công trình xây dựng, các tượng đài làm từ đá cẩm thạch, đá
vôi, đá phiến (các loại đá này có thành phần chính là CaCO3).
- Làm ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất...
Tác hại của mưa axit
2.1.3: Hiện tượng hóa học trong trong cuộc ng.
Câu 1: Những chân ruộng đất chua, người nông dân thường dùng chất gì để khử
chua cho đất ? Giải thích ?
- Dùng vôi sống CaO để bón.
- Đất chua là do trong đất có [H+] lớn, bón CaO vào chân ruộng đất chua sẽ có
phản ứng.
17
CaO + H2O
Ca(OH)2
+
H
+ OH
chẩn đoán và điều trị, các hợp chất đánh dấu hóa phóng xạ cung cấp các thông tin
giải phẫu học về nội tạng con người, về các hoạt động của cơ quan riêng biệt, phục
vụ cho chẩn đoán bệnh.
Tia phóng xạ được phục vụ cho chụp cắt lớp. Từ lâu người ta đã sử dụng đồng
131
vị I trong chẩn đoán và điều trị bệnh tuyến giáp. Tia γ có thể hội tụ thành chùm
tia có năng lượng lớn, được sử dụng như một lưỡi dao sắc (dao gama) trong các ca
mổ không chảy máu đối với các khối u nằm sâu trong não, mà bệnh nhân không cần
phải gây mê và có thể đi lại được ngay sau khi mổ... Năm 2
một thiết bị “dao
gama” như vậy đã được đưa vào sử dụng ở Việt Nam (tại bệnh viện Trường Đại học
Y Dược Huế).
c) Trong công nghiệp và nghiên cứu khoa học.
Phương pháp nguyên tử đánh dấu được dùng rộng rãi để theo dõi sự di chuyển
của nước m t, nước ngầm, kiểm tra tốc độ thấm qua đê, thăm dò dầu khí, nghiên
18
cứu cơ chế của các phản ứng phức tạp và đo đạc các hằng số hóa lí.
Tia γ (với khả năng đâm xuyên mạnh) cho phép kiểm tra độ đ c khít của bê
tông và các vật liệu kết khối, phát hiện các vết nứt, gãy nằm sâu trong vật liệu mà
không phải phá mẫu. Năng lượng của tia phóng xạ có thể gây ra nhiều biến đổi hóa
học, biến tính nhiều vật liệu, tạo ra các vật liệu mới với những tính chất cực kì độc
đáo. Các phương pháp hạt nhân có khả năng phát hiện tạp chất ở nồng độ rất nhỏ
(10-9 - 10-8) đã làm thay đổi đáng kể diện mạo của hóa học phân tích hiện đại. Phân
tích đồng vị cho phép xác định tuổi của mẫu đất, đá ho c mẫu hóa thạch...
Câu 4: Trong các loại phân đạm sau: NH4Cl, NH4NO3, (NH2)2CO, (NH4)2SO4. Nên
dùng loại phân nào để bón cho những chân ruộng đất chua ? Vì sao ?
- Dùng (NH2)2CO.
- Vì nếu dùng loại phân còn lại để bón sẽ làm cho đất càng chua thêm.
KAl(SO4)2
K+ + Al3+ + 2SO42Ion Al3+ có phản ứng thủy phân.
Al3+ + 3H2O
Al(OH)3 + 3H+
Nhôm hiđroxit Al(OH)3 kết tủa ở dạng keo, kết hợp với các hạt lơ lửng trong
nước đục thành hạt to, n ng và chìm xuống, làm trong nước. Nên trong dân gian có
câu.
“Anh đừng bắc bậc làm cao
Phèn chua em đánh, nước nào c ng trong”
Câu 7: Vì sao bôi vôi tôi vào chổ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau ?
Trong nộc độc của ong, kiến có chứa axit fomic HCOOH. Vôi tôi Ca(OH) 2 là
bazơ nên trung hòa axit, làm giảm đau.
2HCOOH + Ca(OH)2
Ca(HCOO)2 + 2H2O
Câu 8: Vì sao khi nấu cơm, cơm bị khê người ta thường cho vào nồi cơm một ít
than củi ?
Than củi xốp, có tính hấp phụ nên hấp phụ mùi khét của cơm, làm cho cơm
giảm mùi khê.
Câu 9: pH và sâu răng có liên quan với nhau như thế nào ?
ăng được bảo vệ bởi lớp men cứng, dày khoảng ,2 mm, lớp men này là hợp
chất Ca5(PO4)3OH và được tạo thành bằng phản ứng.
5Ca2+ + 3PO43- + O HCa5(PO4)3OH
(1)
Quá trình tạo ra lớp men này là sự bảo vệ tự nhiên của con người, chống lại
bệnh sâu răng. Sau bữa ăn, vi khuẩn trong miệng phân huỷ các thức ăn còn lưu lại
trên răng, tạo thành các axit hữu cơ như: Axit axetic, axit lactic. Thức ăn có hàm
lượng đường cao, tạo điều kiện tốt cho sự sản sinh ra các axit đó. Lượng axit trong
miệng tăng, làm cho phản ứng sau xảy ra.
H+ + OHH2O
(1)
Lớp nhôm oxit bảo vệ bên ngoài bị phá hủy, để lộ ra lớp nhôm bên trong nên có
phản ứng.
2Al + 6H2O
2Al(OH)3 + 3H2 ↑
(2)
Nhôm hiđroxit Al(OH)3 là hợp chất lưỡng tính nên tiếp tục có phản ứng.
Al(OH)3 + NaOH
Na[Al(OH)4]
(3)
Các phản ứng (2) và ( ) tiếp tục xảy ra xen kẽ nhau, làm cho đồ dùng bằng
nhôm bị phá hủy.
Câu 12: Tại sao khí CO2 được dùng để đập tắt đám cháy ?
Khí CO2 n ng hơn không khí và không tác dụng với oxi nên nó có tác dụng
ngăn không cho các vật cháy tiếp xúc với oxi không khí. Do đó khí CO 2 được dùng
để dập tắt các đám cháy.
Câu 13: Vì sao ban đầu mới lên sống ở độ, cao con người thường bị chứng đau đầu,
chóng m t, buồn nôn, mệt mỏi ?
Quá trình sinh lí bị ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường. Sự thay đổi đột ngột
về độ cao có thể gây ra đau đầu, buồn nôn, mệt mỏi và khó chịu. Đây là triệu chứng
của sự thiếu oxi ở trong các mô, sống ở độ cao vài tuần ho c vài tháng sẽ dần dần
vượt qua được chứng say độ cao và thích nghi dần với nồng độ oxi trong không khí
ở độ cao. Sự kết hợp của oxi với hemoglobin (Hb) được biểu diễn một cách đơn
giản như sau:
Hb + O2
HbO2
(Hemoglobin)
(Oxihemoglobin)
HbO2 đưa oxi đến các mô, biểu thức của hằng số cân bằng là:
Kc = HbO2
nhỏ có tác dụng kích thích thần kinh, nếu dùng cafein quá mức sẽ gây bệnh mất ngủ
và gây nghiện.
* Nicotin (C10H14N2): Có nhiều trong cây thuốc lá, nó là chất lỏng sánh như
dầu, không màu, có mùi thuốc lá, tan được trong nước. Khi hút thuốc lá nicotin đi
vào phổi, thấm vào máu. Nicotin là một trong những chất độc mạnh (từ 1 đến 2 giọt
nicotin có thể giết chết một con chó), tính độc của nó có thể so sánh với axit
xianhiđric HCN. Nicotin chỉ là một trong số các chất hoá học độc hại có trong
thuốc lá (trong khói thuốc lá có chứa tới 1
hợp chất hoá học khác nhau). Dung
dịch nicotin trong nước được dùng làm thuốc trừ sâu cho cây trồng. Những người
nghiện thuốc lá thường mắc bệnh ung thư phổi và những bệnh ung thư khác.
Hassish: Là hoạt chất có trong cây cần sa (còn gọi là bồ đà), có tác dụng
chống co giật, chống nôn mửa. Nhưng có tác dụng kích thích mạnh và gây ảo giác.
Thuốc an thần như: Seduxen, meprobamat... Có tác dụng chữa bệnh mất ngủ,
làm dịu cơn đau, nhưng gây nghiện.
Amphetamin: Chất kích thích hệ thần kinh, dễ gây nghiện, gây choáng, rối
loạn thần kinh nếu dùng thường xuyên.
ượu (thành phần chính là C2H5OH): Tuỳ thuộc nồng độ và cách sử dụng,
rượu có thể tác dụng tốt ho c làm suy yếu nghiêm trọng sức khoẻ con người, với
nhiều người chỉ cần uống một lượng rượu nhỏ c ng dẫn đến phản ứng chậm chạp,
xử lí kém linh hoạt, thần kinh dễ bị kích động, gây ra những trường hợp đáng tiếc
như: Tai nạn giao thông, hành động bạo ngược... Trong rượu thường chứa một
lượng nhỏ chất độc hại là etanal CH3-CHO, gây nôn nao, khó chịu, nếu nồng độ cao
có thể dẫn đến tử vong.
Câu 16: Nguyên nhân và tác hại của ô nhiễm môi trường không khí ?
* Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí.
Có 2 nguồn cơ bản gây ô nhiễm môi trường không khí.
- Nguồn gây ô nhiễm do thiên nhiên: Khói bụi tạo ra do hoạt động của núi lửa.
22
- Ô nhiễm nước do nguồn gốc nhân tạo: Chủ yếu là do nước thải từ các vùng
dân cư, khu công nghiệp, hoạt động giao thông, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt
cỏ trong sản xuất nông nghiệp vào môi trường nước.
* Tác hại của ô nhiễm môi trường nước.
Tuỳ theo mức độ ô nhiễm khác nhau, các chất gây ô nhiễm có tác hại khác nhau
đến sự sinh trưởng, phát triển của động, thực vật, ảnh hưởng đến sức khoẻ con
người. Ví dụ: Các kim loại n ng và các chất nguy hại khác, chậm phân huỷ sẽ tích
luỹ theo thức ăn vào cơ thể động vật, con người gây nên những tác hại cho sức
khoẻ. Các loại vi khuẩn, vi sinh vật gây bệnh theo nguồn nước bị ô nhiễm lan truyền
bệnh cho người và động vật.
Hiện tượng thăm dò, khai thác dầu, hiện tượng rò rỉ dầu từ các giàn khoan,
hiện tượng tràn dầu trên biển là những sự cố gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm
trọng.
23
Câu 18: Hàn the là chất gì ?
Hàn the là chất natri tetraborat (còn gọi là borac) đông y gọi là bàng sa ho c
nguyệt thạch, ở dạng tinh thể ngậm 1 phân tử H2O (Na2B4O7.10H2O). Tinh thể
trong suốt, tan nhiều trong nước nóng, không tan trong cồn 9 o.
Trước đây người ta thường dùng hàn the làm chất phụ gia cho vào giò lụa, bánh
phở, bánh cuốn,... để cho những thứ này khi ăn sẽ cảm thấy dai và giòn. Từ năm
19 , Tổ chức Y tế thế giới đã cấm dùng hàn the làm chất phụ gia cho thực phẩm vì
nó độc, có thể gây sốc, truỵ tim, co giật và hôn mê.
Câu 19: Cloramin là chất gì mà sát trùng được nguồn nước ?
Là chất NH2Cl và NHCl2. Khi hoà tan cloramin vào nước sẽ giải phóng ra clo.
Clo tác dụng với nước tạo ra HOCl.
Cl2 + H2O
HOCl + HCl
HOCl dễ hấp thụ trên màng sinh học của vi sinh vật, phá huỷ protein của màng,
24
quả của nó vẫn còn cho đến ngày nay.
Câu 23: Vì sao than đá chất thành đống lớn có thể tự bốc cháy ?
Do than tác dụng với O2 trong không khí tạo ra CO2, phản ứng toả nhiệt. Nhiệt
toả ra được tích góp dần, khi đạt tới nhiệt độ cháy của than thì than sẽ tự bốc cháy.
Câu 24: Đối với cơ thể, muối có vai trò như thế nào ?
Để cơ thể khoẻ mạnh, con người cần được cung cấp đầy đủ các nguyên tố hoá
học cần thiết. Có những nguyên tố cần được cung cấp với khối lượng lớn và có
những nguyên tố cần được cung cấp với khối lượng nhỏ (vi lượng). Iot là một
nguyên tố vi lượng hết sức cần thiết đối với con người. Theo các nhà khoa học, mỗi
ngày cơ thể con người cần được cung cấp từ 1.1 -4 đến 2.1 -4 gam iot.
Cơ thể tiếp nhận được phần iot cần thiết dưới dạng hợp chất của iot có sẵn
trong muối ăn và một số loại thực phẩm. Nhưng việc thiếu hụt iot vẫn thường xảy
ra. Hiện nay, tính trên toàn thế giới 1/ số dân bị thiếu iot trong cơ thể. Ở Việt Nam,
theo điều tra mới nhất có 9
số dân thiếu hụt iot ở những mức độ khác nhau.
Thiếu hụt iot trong cơ thể dẫn đến hậu quả rất tai hại như: Làm não bị hư hại nên
người trở nên đần độn, chậm chạp, có thể điếc, câm, liệt chi, lùn. Thiếu iot còn gây
ra bệnh bướu cổ và hàng loạt rối loạn khác, đ c biệt nguy hiểm đối với bà mẹ và trẻ
em. Để khắc phục trình trạng thiếu iot, người ta cho thêm hợp chất của iot vào thực
phẩm như: Muối ăn, sữa, kẹo...
Muối iot là muối có trộn thêm một lượng nhỏ hợp chất của iot (thường là KI,
KIO3). Ví dụ: Trộn 2 kg KI vào một tấn muối ăn.
Việc dùng muối iot thật dễ dàng và đơn giản. Tuy nhiên, hợp chất iot bị phân
huỷ ở nhiệt độ cao. Vì vậy, phải thêm muối iot sau khi thực phẩm đã được nấu chín.
Câu 25: Vì sao rượu giả có thể làm chết người ?
Uống rượu giả có thể bị ngộ độc, có trường hợp mù cả mắt, thậm chí tử vong.
Những người làm rượu giả không phải đem rượu trắng trộn thêm nước, vì làm như