BM01-Bia SKKN
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Mã số : ..............
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC SÁNG TẠO
TRONG TÁC PHẨM THƠ TRỮ TÌNH
BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”
Người thực hiện : TRỊNH THỊ THU TRANG
Lĩnh vực nghiên cứu :
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn : VĂN
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác :
Có đính kèm :
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Năm học : 2012 – 2013
Vậy thì nguyên nhân từ đâu? Phải chăng là sự thờ ơ, không hứng thú học môn
Văn của học sinh hay tại người dạy chưa phát huy hết khả năng của mình, chưa tìm
tòi sáng tạo trong giảng dạy, chắc hẳn là từ cả hai phía. Là giáo viên giảng dạy
nhiều năm tôi đã từng trăn trở và luôn tự đặt cho mình câu hỏi phải làm gì đây để
khơi gợi tình yêu, niềm đam mê hứng thú học Ngữ văn của các em, nhất là tiết đọc
văn.
Qua những năm đứng lớp, nhiều lần dự giờ rút kinh nghiệm với đồng nghiệp,
tôi đã tâm đắc một điều “Chỉ có hiểu biết mới khơi gợi sự hiểu biết, chỉ có tình yêu
mới khơi gợi tình yêu”. Đã là giáo viên Văn thì phải hiểu và yêu Văn học. Muốn
vậy người giáo viên phải luôn tìm tòi sáng tạo và làm hết khả năng của mình đối
với việc giảng dạy. Theo tôi việc đầu tiên cần thiết nhất để tác động trực tiếp đến
tâm hồn học sinh, sự chú ý của học sinh đối với tác phẩm văn học đấy chính là
khâu đọc tác phẩm của người giáo viên. Giáo viên không thể đọc tác phẩm một
cách qua loa, bình thường, tùy tiện hoặc không cần đọc mà ở đây phải là đọc sáng
tạo, đọc làm sao để toát lên được cái hồn của tác phẩm, để làm sống dậy cho học
sinh những cảm xúc thiêng liêng, những rung động thực sự về tát cả những điều
Giáo viên: Trịnh Thị Thu Trang
Trang. 2
Sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng phương pháp đọc sáng tạo trong tác phẩm thơ trữ tình bậc THPT”
mà thi sĩ gửi gắm qua tác phẩm và tôi đã vận dụng phương pháp này rất có hiệu
quả.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI.
1.Cơ sở lí luận :
Để phù hợp với việc đổi mới dạy học theo theo hướng tích hợp, việc dạy học
của thầy phải có phương pháp mới, cải tiết tiết day phù hợp và gây hứng thú học
tập cho học sinh là một vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm.
Văn là môn học rèn luyện về giao tiếp, diễn đạt, giáo dục tư tưởng và nhân cách
con người nên không thể học giỏi nhanh và không có tính thiết thực trong xã hội
ngày nay như các môn tự nhiên khác.
Giáo viên: Trịnh Thị Thu Trang
Trang. 3
Sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng phương pháp đọc sáng tạo trong tác phẩm thơ trữ tình bậc THPT”
- Trong các tác phẩm thơ trữ tình ở chương trình THPT, nhất là lớp 12 dung
lượng thơ khá dài, mặt khác phân phối chương trình chỉ cho phép khai thác tác
phẩm đó với thời lượng 2 hoặc 3 tiết nên tất nhiên sẽ tạo cho giáo viên sự gò bó về
thời gian, có khi phải chạy đua với nó, nên giáo viên phải xem xét kĩ những đoạn
thơ hay, đặc sắc, tốt lên chủ đề tư tưởng để đọc sáng tạo.
- Học sinh trong độ tuổi trưởng thành, còn bồng bột hay qn, đơi khi khơng
đem sách giáo khoa lên lớp nhìn chung hai, ba em một cuốn. Điều này làm ảnh
hưởng đến việc theo dõi khi đọc tác phẩm.
- Sĩ số học sinh của lớp còn nhiều từ 35 - 42 em, nên sẽ gây khó khăn cho
giáo viên khi quan sát sự chú ý của học sinh.
2. 3. Số liệu điều tra ban đầu.
Được sự phân cơng của nhà trường, tơi đã từng dạy Văn qua nhiều khối lớp,
tơi nhận thấy rằng, học sinh tuy chưa nhiều em hứng thú học Văn nhưng nếu giáo
viên tạo hứng thú tốt cho các em trong q trình giảng dạy thì kết quả sẽ được
nâng lên một cách rõ rệt.
* Số liệu thống kê trước khi thực hiện chun đề .
Lớp
11A7
17.5%
Kém
SL
1
%
2.5%
Đây mới là số liệu khảo sát ban đầu, nhưng cũng là cố gắng của học sinh.
Kết quả chưa cao vì giáo viên chưa có hướng khắc phục cho bản thân vì chưa tìm
ra phương pháp giúp học sinh tiếp nhận tác phẩm.
Tất cả những khó khăn trên cũng khơng gây trở ngại lớn cho tiến trình học
tập của học sinh và việc giảng dạy của giáo viên. Tuy nhiên để đạt hiệu quả tốt
trong một giờ dạy Văn thì giáo viên cần phải vận dụng phương pháp đọc sáng tạo
trong giảng dạy tác phẩm Văn học.
3. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài.
3.1 Đối tượng – Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Học sinh THPT.
- Nội dung chương trình những tiết dạy tác phẩm thơ trữ tình.
- Các ví dụ vận dụng phương pháp đọc sáng tạo trong tác phẩm văn học ở
trường THPT.
3.2. Phương pháp nghiên cứu.
- Chọn những nội dung kiến thức phù hợp với chương trình, trình độ học
sinh.
- Những tác phẩm Văn học ở trường THPT.
Giáo viên: Trịnh Thị Thu Trang
Trang. 4
cách đọc tốt nhất, nên ngắt nhịp, ngừng nghỉ đúng chỗ, nên nhấn giọng ở những từ
ngữ nào, đọc lướt từ nào….
b/ Yêu cầu đối với học sinh :
Trước hết học sinh phải có ý thức rèn luyện năng lực cảm thụ tác phẩm Văn
học bằng cách lắng nghe giáo viên đọc để liên tưởng, để bắt chước, để cảm nhận.
Sau đó tự luyện bằng cách đọc thầm rồi đến đọc nhỏ và sau đó đọc to, rõ ràng, tập
phát âm thật chuẩn, quen mặt chữ để tránh đọc sai âm và sai từ.
c/ Yêu cầu chung.
Đọc là biến hình thức chữ viết thành âm thanh, nhất là thơ. Bởi: “Thơ là lời
nói được nhạc hóa”, thơ lại liên quan đến mặt âm thanh của tiếng nói dân tộc. Do
đó cần vận dụng triệt để giá trị của âm học, của hệ thống âm thanh này.
Giáo viên: Trịnh Thị Thu Trang
Trang. 5
Sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng phương pháp đọc sáng tạo trong tác phẩm thơ trữ tình bậc THPT”
Khi đọc thơ phải làm cho mỗi tiếng trong thơ sáng lên hình, ngân lên nhạc vì
thơ truyền cảm không những ở từng bài mà ngay trong từng âm, từng thanh, từng
nhịp, từng vần.
Người đọc cần có giọng đọc tự nhiên bình tĩnh, có sức rung động từ bên
trong, lúc lên, lúc xuống, lúc bổng lúc trầm, lúc ngắt quãng ngập ngừng, có như thế
mới gây được ấn tượng, cảm xúc từ phía người nghe (học sinh). Nếu giáo viên chỉ
đọc đều đều một kiểu giọng từ đầu đến cuối bài thơ hoặc đọc quá nhỏ, quá to, quá
nhanh thì sẽ gây buồn tẻ, gây căng thẳng, mệt nhọc cho người nghe (HS). Cho nên
tuỳ vào nội dung, hình thức thể hiện của từng tác phẩm mà chọn cách đọc phù hợp.
Muốn đọc tốt, người đọc phải đi từ đọc đúng đến đọc hay, đọc diễn cảm và
cuối cùng là đọc sáng tạo.
Giáo viên: Trịnh Thị Thu Trang
Trang. 6
Sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng phương pháp đọc sáng tạo trong tác phẩm thơ trữ tình bậc THPT”
thả tự nhiên của người chiến sĩ ở một phút nào đó trong cuộc hành quân mệt mỏi.
Nên khi đọc câu thơ chúng ta phải chuyển giọng đột ngột, hạ thấp giọng, nhẹ
nhàng, dịu dàng, êm ái. Phải thổi được cái hồn vào trong từng từ ngữ của câu thơ.
Tóm lại, đọc sáng tạo là đặc biệt nhất đối với văn học, với đặc trưng là môn
học nghệ thuật. Mục đích và đặc thù của môn học này chính là nhằm cảm thụ nghệ
thuật, hình thành những thử nghiệm nghệ thuật, những khuynh hướng và năng
khiếu nghệ thuật cho học sinh. Vận dụng phương pháp này vào giảng dạy tác phẩm
văn học là con đường ngắn nhất đưa học sinh đến với tình yêu văn học, tình yêu
nghệ thuật.
4. Phương pháp cụ thể và thực hành:
Trong nhiều năm giảng dạy, tôi đã vận dụng phương pháp đọc sáng tạo vào
các tiết dạy thơ trữ tình. Tôi xin trình bày cách tiến hành đọc sáng tạo ở một số loại
thơ cơ bản: thơ lục bát, thơ đường luật, thơ tự do.
a/Thơ lục bát: Trong chương trình bậc THPT, thơ lục bát có ở: Ca dao, các
đoạn trích trong Truyện Kiều, “Lẽ ghét thương” trích tác phẩm “Lục Vân Tiên”
(truyện viết bằng thơ lục bát – truyện thơ). Lớp 12 có bài “Việt Bắc”, “Bác ơi!”
của Tố Hữu,…
Đây là một thể thơ cổ truyền của dân tộc, không gò bó về niêm luật, vần. Vần
gồm có vần chân và vần lưng, thanh điệu, tiết tấu hài hoà nhẹ nhàng, tự nhiên và
biến hoá phóng khoáng nên người ta có thể phát triển dài để tự sự. Trong thơ lục
bát lượng thanh bằng nhiều hơn thanh trắc và vần được gieo chủ yếu là vần bằng.
Chính âm điệu nhẹ nhàng đấy mà thơ lục bát đã đi vào lòng người từ bao đời nay.
Nhà thơ Chế Lan Viên từng nói : “Hồn thơ dân tộc thích biểu hiện trong hình
cảm giác của một người say đang ngắm nhìn cảnh vật trong đêm thu thơ mộng,
Giáo viên: Trịnh Thị Thu Trang
Trang. 8
Sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng phương pháp đọc sáng tạo trong tác phẩm thơ trữ tình bậc THPT”
huyền ảo nơi đồng quê Bắc bộ. Cũng như các loại thơ khác, thơ Đường luật cũng
có những biến nhịp độc đáo.
Ví dụ câu thơ :
“Trơ cái hồng nhan với nước non”
(Tự tình- Hồ Xuân Hương)
Nếu đọc theo nhịp 4/3 thì sẽ không thấy được tâm trạng của nhân vật trữ tình
đã mất hoàn toàn cảm giác, trơ ra, chai lỳ đi trước cuộc đời. Mặt khác sẽ không
thấy được sự mỉa mai, rẻ rúng đến xót xa một cảm giác bẽ bàng của chủ thể trữ
tình. Vì thế khi đọc phải ngắt nhịp: “Trơ/cái hồng nhan /với nước non” thì chúng
ta mới đồng cảm được nỗi niềm với nữ sĩ.
c/Thơ tự do
Gọi là thơ tự do nhưng hoàn toàn không phải tự do, phủ định mọi luật lệ của
thơ. Gọi là thơ tự do vì nó bao gồm các loại thơ không theo một thể thức cố định
nào cả. Số chữ trong từng câu, số câu từ trong từng bài, cũng như cách ngắt nhịp,
hiệp vần hoàn toàn phóng khoáng tuỳ theo nội dung của bài thơ, xúc cảm của
người sáng tác. Tuy vậy nó vẫn tuân theo quy luật cơ bản về âm thanh, vần luật,
nhịp điệu của nó và của cả câu thơ Việt Nam. Thơ tự do mở rộng khả năng diễn đạt
của thi pháp Việt Nam, làm giàu thêm nhịp điệu cho câu thơ Việt Nam.
Chính loại thơ tự do đòi hỏi ở người đọc tính sáng tạo rất cao. Người đọc phải
xác định nhịp thơ sao cho phù hợp để có thể đem tiếng nói “từ trái tim đến trái
tim”, chuyển được tiếng lòng từ thi nhân đến nội tâm người nghe, gây cảm xúc sâu
sắc. Khi đọc về nhịp thơ cũng cần đặc biệt chú ý, bởi nếu ngắt nhịp không chính
Đọc sau khi phân tích
Đọc diễn cảm để củng cố bài.
Đọc là tạo âm thanh và sự tác động của âm thanh là rất lớn, bởi nó đọng lại và
ngân vang mãi trong tâm hồn học sinh, giọng đọc của giáo viên có thể làm rung
động trái tim học sinh, thu hút mọi sự chú ý của các em và học sinh có thể sẽ bắt
chước và nhớ mãi. Bởi thế mà đã có nhiều bài thơ nằm trong lòng các em, nó sống
mãi với thời gian không chỉ bởi nội dung, ý nghĩa mà vì bằng cả giọng đọc truyền
cảm sáng tạo của giáo viên
Ví dụ minh hoạ cụ thể: đọc bài thơ “Thương Vợ”- Ngữ Văn 11(tập 1).
Vì thời gian không cho phép nên tôi chỉ đưa ra một số ví dụ cụ thể: đọc sáng
tạo trong bài thơ “Thương Vợ” của Tú Xương.
Đây là bài thơ hay nhất trong những bài thơ viết về vợ của Tú Xương. Ông đã
từng gọi vợ mình là “mẹ đĩ” là “mình” là “mẹ mày” là “con bu nó”, rất âu yếm, rất
tự nhiên và đưa bà vào thơ như một nhân vật sống động, có ngoại hình, có tính
cách, có cảm xúc… Dường như Bà Tú đã trở thành nguồn cảm hứng trữ tình phong
phú hấp dẫn cho thơ của ông Tú.
Riêng đối với bài thơ “Thương Vợ” là một bài thơ trữ tình pha chút hóm hỉnh,
trào lộng rất Tú Xương, bộc lộ tình cảm yêu thương quý trọng của nhà thơ đối với
bà vợ tần tảo, đảm đang, giàu sức hy sinh của mình. Về thể loại thì đây là một bài
thơ làm theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật, rất hoàn chỉnh về mặt kết cấu và
nhịp điệu.
Giáo viên cần nắm vững các nội dung, đặc trưng trên để có cách đọc phù hợp
nhằm gây hứng thú cho học sinh, nhằm toát lên được nội dung của nó.
Mở đầu bài thơ, nhà thơ giới thiệu bà Tú bằng cách kể công lao vất vả của bà
với gia đình của mình:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông”
Công việc buôn bán là một công việc bình thường mà hầu hết phụ nữ Việt
Nam tần tảo xưa kia đều ít nhiều quen thuộc. Tự nó sẽ chưa nói được gì nếu không
có cái bối cảnh thời gian và không gian mà câu thơ gợi mở: “Quanh năm”, “mom
sông”. Cho nên ta cần đọc ngắt nhịp 2/2/3 và nhấn giọng ở từ “quanh năm”, “mom
truân của bà Tú, gợi niềm thương cảm của một thân phận , một số kiếp con người
thật tội nghiệp. Nhà thơ còn dùng từ “khi quãng vắng” chứ không phải là “nơi
quãng vắng”. Như thế mới gợi được sự liên tưởng cả về thời gian và không gian
mà bà Tú buôn bán thật mênh mông, rợn ngợp, quạnh hiu lúc đầu hôm sớm mai
đầy bất trắc, hiểm nguy. Hiểu được điều đó ta sẽ đọc hai câu thơ như sau:
Lặn lội/ thân cò/ khi/ quãng vắng
Eo sèo/ mặt nước/ buổi/ đò đông.
Cách đọc như thế sẽ gây được rung cảm sâu sắc trong tâm hồn HS về bà Tú,
một người phụ nữ đảm đang chịu khó.
Sang hai câu luận:
“Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công”.
Tú Xương không chỉ thương vợ mà dường như còn cảm thông đến tận cùng
tâm hồn bà Tú nên đã nói thành lời những suy nghĩ thầm lặng của bà. Vợ chồng là
cái duyên cái số, và cái phúc cái phần bao giờ cũng đi liền với nhau.
Bà Tú hiểu đựơc điều đó nên rất vui vẻ, sẵn sàng hy sinh tất cả vì chồng vì
con , câu thơ vừa bộ lộ sự cảm thông vừa có sự ngợi ca về đức hạnh , công lao của
bà Tú . Hiểu được điều đó, ta sẽ đọc hai câu thơ này với giọng điệu vui hơn, tự tin
hơn, nhẹ nhàng hơn.
Một duyên / hai nợ/ âu đành phân
Năm nắng /mười mưa/dám quản công
Giáo viên: Trịnh Thị Thu Trang
Trang. 11
Sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng phương pháp đọc sáng tạo trong tác phẩm thơ trữ tình bậc THPT”
Đọc như thế sẽ tạo đựơc âm hưởng trử tình sâu lắng cho câu thơ.
Khép lại bài thơ là hai câu kết :
được ghi nhớ mãi trong tâm hồn các em .Với hình ảnh của một người phụ nữ chịu
thương chịu khó, giàu đức hy sinh sẽ được các em cảm phục và yêu mến.
III . HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI :
Sau nhiều năm giảng dạy Văn học với phương pháp đọc sáng tạo và do có khả
năng khá diễn cảm về chất giọng, tôi đã thu được những kết quả khả quan. Đó là
học sinh những lớp tôi dạy rất thích giờ Văn. Các em còn phát biểu “chúng em rất
thích học văn và rất thích nghe cô đọc thơ”. Nhiều em đã bắt chước, cố gắng rèn
Giáo viên: Trịnh Thị Thu Trang
Trang. 12
Sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng phương pháp đọc sáng tạo trong tác phẩm thơ trữ tình bậc THPT”
luyện và đã có giọng đọc rất tốt. Đó chính là niềm vui là động lực thúc đẩy người
giáo viên phải ln tìm tòi sáng tạo trong giảng dạy. Giờ học Văn thực sự đã có
hiệu quả , thu hút được sự chú ý của học sinh .Các em đã khơng chán nản và thờ ơ
với mơn học này như trước đây nữa. Từ chỗ u thích nên sự hiểu biết về Văn học
của học sinh cũng tăng lên và khả năng cảm thụ văn học , khả năng thực hành cũng
cao hơn và kết quả cuối năm của học sinh về mơn Ngữ văn cũng đạt từ 85 % trên
TB.
Qua thực tế vận dụng tơi thấy đạt hiệu quả rõ rệt như mong muốn , học sinh
đã có hứng thú học mơn Ngữ văn hơn.
*Số liệu thống kê sau khi thực hiện chun đề.
Lớp
11A7
Giỏi
10
%
Kém
SL %
0
0
IV . KẾT LUẬN
Người ta thường bảo “Được học Văn là điều hạnh phúc, dạy Văn còn hạnh
phúc hơn nhiều”. Quả thật như vậy, dạy Văn và học Văn là một điều lý thú, nếu
như ta biết u thích nó , biết rung động trước những điều mà tác phẩm văn học
mang lại. Đúng là “chỉ có hiểu biết mới khơi gợi sự hiểu biết và chỉ có tình u
mới khơi gợi được tình u”. Muốn vậy người giáo viên cần phải phát huy hết mọi
khả năng của mình, phải vận dụng một cách linh họat và đầy đủ sáng tạo mọi
phương pháp. Có như thế mới đáp ứng được u cầu của GD –ĐT nhất là trong
giai đoạn đổi mới đất nước hiện nay. Phải làm cho văn học thực sự đi sâu vào tâm
hồn học sinh , tác động trực tiếp đến nhân cách và tâm hồn các em, in dấu ấn đậm
nét trong tâm hồn đọng lại trong trí nhớ con người là do được đọc, được học ,được
nghe trong thời cắp sách đến trường. Tấm bảng đen viên phấn trắng , cánh phượng
đỏ, tiếng ve kêu cùng với những vần thơ, những giong đọc truyền cảm, những lời
giảng ngọt ngào say sưa của thầy cơ vẫn còn văng vẳng nhiều năm sau, vẫn còn
rộn rã và khó phai mờ trong tâm khảm của mỗi người, dù họ đã trưởng thành, ở
đâu và làm gì đi nữa. Văn học trong nhà trường đã tác động vun xới và bồi đắp tâm
hồn cao đẹp, góp phần hình thành nhân cách cho người học sinh hồn thành quy
luật “mưa dầm thấm lâu”.
* Bài học kinh nghiệm: Qua thực tế vận dụng tơi thấy đạt hiệu quả rõ rệt
như mong muốn , học sinh đã có hứng thú học mơn Ngữ văn hơn. Khi thực hiện
Người thực hiện
Trịnh Thị Thu Trang
Giáo viên: Trịnh Thị Thu Trang
Trang. 14
Sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng phương pháp đọc sáng tạo trong tác phẩm thơ trữ tình bậc THPT”
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Rèn kĩ năng cảm thụ thơ văn cho học sinh lớp 10, 11,12 - Nhà xuất bản Đại
học quốc gia TP. Hồ Chí Minh- Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn (chủ biên)
Bồi dưỡng Ngữ văn 10, 11, 12- Nhà xuất bản giáo dục
Thiết kế ngữ văn 10, 11, 12 – Nhà xuất bản Hà Nội, Chủ biên : Nguyễn Văn
Đường.
Thể tài và tác gia Văn học Việt Nam trung đại
Sử dụng sách giáo khoa , sách giáo viên môn Ngữ văn ở Trường THPT - Nhà
xuất bản giáo dục.
Giáo viên: Trịnh Thị Thu Trang
Trang. 15