Yếu tố tài chính ảnh hưởng tới kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán VN - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------ĐỖ DƯƠNG THANH NGỌC

CÁC YẾU TỐ TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG ĐẾN
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN QUANG THU

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2011

Vietluanvanonline.com

Page 1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả hoạt
động kinh doanh của các Doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam” là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện, với sự
hướng dẫn, hỗ trợ từ Cô PGS.TS Nguyễn Quang Thu. Các nội dung và kết quả
nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
TP. Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2011

Page 3


TÓM TẮT NỘI DUNG

Xác định và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố tài chính tác động đến
hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là một chủ đề rất quan trọng, thu
hút được sự quan tâm của các nhà quản trị doanh nghiệp cũng như các nhà nghiên
cứu khoa học. Trong những thập niên vừa qua ở các nước phát triển đã có nhiều
cuộc nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, vấn đề này được nghiên cứu áp dụng
riêng đối với các doanh nghiệp trong ngành xây dựng thì trên thế giới chưa có nhiều
và ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào.
Mục tiêu của tác giả trong nghiên cứu này là xem xét các yếu tố tài chính tác
động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng
đang được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận văn của tác giả sẽ
trả lời các câu hỏi: Yếu tố nào tác động? Mức độ tác động của từng yếu tố? Kết quả
nghiên cứu ở Việt Nam có giống với kết quả nghiên cứu ở các nước trên thế giới?
Mô hình và giả thuyết nghiên cứu được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận về
hoạt động, sản phẩm xây dựng, đặc thù của các doanh nghiệp ngành xây dựng, các
chỉ số đánh giá hiệu quả kinh doanh, các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh
và một số nghiên cứu có liên quan trên thế giới. Nghiên cứu sử dụng số liệu của 40
doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Các
số liệu được truy xuất từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các doanh nghiệp
trong kỳ nghiên cứu từ năm 2006 – 2010. Tác giả sử dụng phần mềm SPSS 11.5 để
xử lý dữ liệu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong các biến xem xét (tỷ lệ nợ TDTA/TDTE/STDTA/LTDTA, quy mô doanh nghiệp – SIZE, tốc độ tăng trưởng
tổng tài sản – GROWTH, tỷ trọng tài sản cố định – TANG) thì có 1 biến tác động
đến hiệu quả kinh doanh được đo lường bởi chỉ số ROA là biến tỷ lệ nợ
(TDTA/TDTE/STDTA). Trong đó biến tỷ lệ nợ có tác động rất mạnh theo chiều âm


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................................................2
4. Phương pháp thực hiện.................................................................................................. 2
5. Kết cấu của đề tài nghiên cứu........................................................................................3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG..............................................................4
Hiệu quả hoạt động kinh doanh DN ngành xây dựng....................................................4
Các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh các DN xây dựng......................5
Các yếu tố ảnh hưởng hiệu quả hoạt động kinh doanh các DN xây dựng....................6
Nhóm yếu tố khách quan........................................................................................6
Nhóm yếu tố chủ quan........................................................................................... 9
Thực trạng hoạt động kinh doanh của các DN ngành xây dựng từ năm 2007 –
2011.12 1.5 Đặc thù hoạt động kinh doanh của DN ngành xây dựng..................14
Một số nghiên cứu trên thế giới..................................................................................16
Nghiên cứu của Weixu (2005)..............................................................................16
Nghiên cứu của Dimitris Margaritis và Maria Psillaki (2007).............................17
Nghiên cứu của Zeitun & Tian (2007)..................................................................17

Vietluanvanonline.com

Page 6


Nghiên cứu của Onaolapo & Kajola (2010).........................................................19
CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU......................................................................21
Xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tài chính tác động đến HQKD.................21
Giả thuyết nghiên cứu.................................................................................................24
Mô tả số liệu và phương pháp thực hiện.....................................................................23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU......................................................................29
Mô tả thống kê............................................................................................................ 29
Mô tả hệ số tương quan.............................................................................................. 31


: Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

SXKD

: Sản xuất kinh doanh

CSH

: Chủ sở hữu

WACC

: Chi phí vốn bình quân gia quyền

ROA

: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

ROE

: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

TDTA

: Tỷ lệ nợ trên tổng vốn

TDTE

: Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu

CUB

: Hàm hồi quy bậc 3

EXP

: Hàm số mũ/lũy thừa

res_1

: Biến phần dư của mô hình 1

BPres_1

: Biến bình phương phần dư của mô hình 1

ABSres_1 : Biến trị tuyệt đối của phần dư mô hình 1
res_2

: Biến phần dư của mô hình 2

BPres_2

: Biến bình phương phần dư của mô hình 2

ABSres_2 : Biến trị tuyệt đối của phần dư mô hình 2
res_3

: Biến phần dư của mô hình 3


Biểu đồ 3.1 : Biểu đồ bình phương phần dư theo ROA (mô hình 1)
Biểu đồ 3.2 : Biểu đồ tần số Histogram khảo sát phân phối của phần dư (mô hình 1)
Biểu đồ 3.3 : Biểu đồ tần số Q-Q Plot khảo sát phân phối của phần dư (mô hình 1)
Biểu đồ 3.4 : Biểu đồ phân tán phần dư chuẩn hóa theo thứ tự quan sát (mô hình 1)
Biểu đồ 3.5 : Biểu đồ bình phương phần dư theo ROA (mô hình 2)
Biểu đồ 3.6 : Biểu đồ tần số Histogram khảo sát phân phối của phần dư (mô hình 2)
Biểu đồ 3.7 : Biểu đồ tần số Q-Q Plot khảo sát phân phối của phần dư (mô hình 2)
Biểu đồ 3.8 : Biểu đồ phân tán phần dư chuẩn hóa theo thứ tự quan sát (mô hình 2)
Biểu đồ 3.9 : Biểu đồ bình phương phần dư theo ROA (mô hình 3)
Biểu đồ 3.10: Biểu đồ tần số Histogram khảo sát phân phối của phần dư (mô hình 3)
Biểu đồ 3.11: Biểu đồ tần số Q-Q Plot khảo sát phân phối của phần dư (mô hình 3)
Biểu đồ 3.12: Biểu đồ phân tán phần dư chuẩn hóa theo thứ tự quan sát (mô hình 3)


11

TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.

Lý do nghiên cứu
Hiệu quả là vấn đề cơ bản sản xuất kinh doanh của một hình thái kinh tế xã

hội. Các chủ thể tham gia vào nền kinh tế tiến hành sản xuất kinh doanh phải đặt
mục tiêu hiệu quả lên hàng đầu cùng với nâng cao năng suất và chất lượng. Doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả là doanh nghiệp thỏa mãn tối đa nhu cầu về
hàng hóa – dịch vụ của xã hội trong giới hạn cho phép của các nguồn lực hiện có và
thu được nhiều lợi nhuận nhất, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất. Như vậy,
có thể nói mục đích chính của sản xuất kinh doanh là lợi nhuận. Lợi nhuận là mục
tiêu trước mắt, lâu dài và thường xuyên của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Có rất nhiều các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của

kinh doanh
 Kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu, từ đó xác định các yếu tố

tài chính tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
 Đề xuất các kiến nghị để nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp

ngành xây dựng
3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả hoạt động

kinh doanh
 Phạm vi nghiên cứu: các Doanh nghiệp trong ngành xây dựng niêm yết trên

thị trường chứng khoán Việt Nam
4.

Phương pháp thực hiện
 Nguồn dữ liệu: báo cáo tài chính đã được kiểm toán từ năm 2006 – 2010 của

40 công ty trong ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt
Nam
 Phương pháp thực hiện: trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp

định lượng và phương pháp định tính. Trong phương pháp định lượng, tác
giả sử dụng công cụ kinh tế lượng hồi quy để thực hiện ước lượng, kiểm định
mô hình và từ đó xác định được các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả




xây dựng
 Chương 2: Mô hình nghiên cứu
 Chương 3: Kết quả nghiên cứu
 Chương 4: Đề xuất kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp ngành xây dựng
 Kết luận


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG
Hiệu quả hoạt động kinh doanh Doanh nghiệp ngành xây dựng
Hiệu quả hoạt động kinh doanh (HQKD) là một phạm trù kinh tế phản ánh
trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của DN nhằm đạt kết quả cao nhất trong quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) với chi phí thấp nhất. HQKD của DN
biểu hiện mối tương quan giữa kết quả nhận được ở đầu ra của một quá trình và chi
phí đầu vào. Nếu gọi H là HQKD thì H được thể hiện theo công thức toán học như
sau1:
H = Kết quả đầu ra - Chi phí đầu vào
H = Kết quả đầu ra / Chi phí đầu vào
Như vậy HQKD của DN ngành xây dựng biểu hiện mối tương quan giữa kết
quả đầu ra là thu nhập của DN và chi phí đầu vào cụ thể như sau:
Thu nhập của Doanh nghiệp xây dựng: là toàn bộ khoản tiền thu được từ
các hoạt động SXKD của DN. Các khoản thu nhập của DN xây dựng bao gồm 2:
 Thu nhập bán hàng hay còn gọi là doanh thu từ hoạt động bàn giao công

trình, hạng mục hoàn thành cho đơn vị giao thầu, đây là nội dung chủ yếu,
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu nhập của DN xây dựng

phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công và chi phí sản xuất chung3
Các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
ngành xây dựng
Thông thường hiệu quả kinh doanh của DN ngành xây dựng được phản ánh
qua các chỉ số4:
Lợi nhuận sau thuế thu nhập DN = Doanh thu – Tổng chi phí. Chỉ số này phản
ánh hiệu quả tuyệt đối phần lợi nhuận, tức là phần chênh lệch giữa kết quả đầu ra và
chi phí đầu vào và là số tiền DN thực thu được sau một quá trình hoạt động SXKD.
Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của chỉ số này là rất khó để so sánh HQKD giữa các
DN trong cùng ngành nghề với nhau. Ví dụ, những DN xây dựng có quy mô lớn
(tổng tài sản, nguồn vốn lớn) thì tất nhiên sẽ tạo ra lợi nhuận lớn hơn những DN có
quy mô nhỏ, nhưng điều này không có nghĩa là các DN lớn hoạt động kinh doanh có
hiệu quả hơn các DN nhỏ. Như vậy, chỉ số hiệu quả tuyệt đối không cho biết khả
năng sử dụng tiết kiệm hay lãng phí các chi phí đầu vào. Để khắc phục được nhược
điểm này, người ta có thể sử dụng các chỉ số hiệu quả sau:
3

Nguyễn Thị Thu Thủy (2008), Giáo trình tài chính trong DN xây dựng, Đại học Bách khoa Đà Nẵng, tr.54
Nguyễn Thị Thu Thủy (2008), Giáo trình tài chính trong DN xây dựng, Đại học Bách khoa Đà Nẵng,
tr.55-56
4


ROE = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu bình quân. Chỉ số này cho biết
bình quân 1 đồng vốn CSH được bỏ vào đầu tư thì sau quá trình hoạt động SXKD,
chủ sở hữu thu lại được bao nhiêu đồng lời. Đây là một chỉ số được sử dụng rất phổ
biến bởi tính đơn giản, dễ hiểu và dễ so sánh giữa các DN trong cùng ngành nghề
với quy mô khác nhau, hoặc giữa các DN trong nhiều ngành nghề khác nhau, hoặc
giữa nhiều hoạt động đầu tư khác nhau như tiền gửi tiết kiệm, bất động sản, chứng
khoán, vàng, ngoại tệ, dự án kinh doanh … chính vì vậy nó sẽ giúp nhà đầu tư đưa

xây dựng giai đoạn 2002 – 2011 được thể hiện thông qua biểu đồ 1.1 sau:

Biểu đồ 1.1: Tốc độ tăng trưởng GDP và ngành công nghiệp – xây dựng giai đoạn 2002 – 2011

Nguồn: Tổng cục Thống kê năm từ năm 2002 đến 2010 và 6 tháng năm 2011

Kinh tế tăng trưởng sẽ dẫn đến tới nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầng, khu đô
thị, nhà ở, khu công nghiệp, cao ốc văn phòng tăng cao, nguồn vốn đầu tư vào lĩnh
vực xây dựng cũng tăng lên. Tuy nhiên hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang rơi vào
chu kỳ trì trệ, một phần do ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế thế giới, phần còn lại do
nguyên nhân nội tại của nền kinh tế trong nước. Khi nền kinh tế rơi vào thời kỳ suy
thoái sẽ kéo theo nguồn vốn đầu tư, nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng và xây dựng
dân dụng giảm. Điều này gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả và hiệu quả sản xuất
kinh doanh của các DN ngành xây dựng.


Lạm phát
Khi lạm phát ở mức cao, giá cả leo thang, giá nguyên liệu đầu vào phục vụ
cho sản xuất như xi măng, sắt thép … sẽ tăng lên dẫn đến giá thành công trình tăng
cao hơn mức dự kiến. Tỷ số lạm phát5 năm 2008: 22.97%, năm 2009: 9%, năm
2010: 11.75% và 9 tháng năm 2011: 18%. Giá cả các loại mặt hàng đều gia tăng đã
gây rất nhiều khó khăn cho các DN nói chung và ngành xây dựng nói riêng.
Tỷ giá hối đoái
Trong lĩnh vực xây dựng, một số nguyên vật liệu phải nhập khẩu và chiếm
một tỷ trọng tương đối cao. Ví dụ như tỷ lệ sắt thép chiếm khoảng 20% trong công
trình xây dựng nhà ở và chiếm gần 40% trong công trình xây dựng công nghiệp.
Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam mới sản xuất được 50% phôi thép, 50% quặng,
30% thép phế, còn lại đều phải nhập khẩu 6. Do vậy hoạt động của DN phần nào chịu
ảnh hưởng của biến động tỷ giá giữa VND với các loại ngoại tệ.
Yếu tố luật pháp

phần lợi nhuận trước thuế. Trong khi đó chi phí vốn CSH không có được ưu điểm
này, vì cổ tức là yếu tố chi phí sau thuế. Chính vì vậy mà giá trị DN được tăng lên
là nhờ lợi ích từ lá chắn thuế.
Theo lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu, khi một DN bắt đầu vay nợ, DN có lợi thế
về thuế. Chi phí nợ thấp kết hợp với lợi thế về thuế sẽ làm cho chi phí vốn bình
quân gia quyền (WACC) giảm khi nợ tăng. Tuy nhiên, khi tỷ lệ giữa nợ và vốn
CSH tăng, buộc các chủ sở hữu phải tăng lợi tức yêu cầu của cổ đông (nghĩa là chi
phí vốn CSH tăng). Đồng thời, ở mức tỷ lệ nợ và vốn CSH cao, chi phí nợ cũng
tăng bởi khả năng DN không trả được nợ là cao hơn (nguy cơ phá sản cao hơn). Vì
vậy, ở mức tỷ lệ nợ và vốn CSH cao hơn, WACC sẽ tăng. Do đó, lý thuyết cơ cấu
vốn tối ưu cho rằng, cơ cấu vốn có tác động đến WACC và giá trị công ty hay nói
khác đi có một tỷ lệ nợ tối ưu, ở đó WACC của DN là nhỏ nhất và giá trị của DN
lớn nhất.
Như vậy, theo lý thuyết Modigliani & Miller và lý thuyết cơ cấu vốn tối ưu
chúng ta có thể thấy được việc lựa chọn và sử dụng vốn như thế nào sẽ có tác động


đến HQKD của DN. Hay nói một cách khác là tồn tại mối quan hệ giữa cơ cấu vốn
và HQKD của DN. Tỷ lệ nợ trên tổng vốn của ngành xây dựng được so sánh với các
ngành khác tại Việt Nam thông qua biểu đồ 1.2 sau:
Biểu đồ 1.2: So sánh tỷ lệ nợ của ngành xây dựng và một số nhóm ngành khác tại Việt Nam

Nguồn: Công ty chứng khoán phố Wall

Biểu đồ này cho thấy ở Việt Nam, ngành xây dựng là ngành có tỷ lệ nợ cao
nhất, bình quân ở mức 67%. Do đó, đối với các DN trong ngành xây dựng thì mối
quan hệ giữa cơ cấu vốn và HQKD càng trở nên chặt chẽ, rõ ràng hơn.
Công nghệ, máy móc thiết bị
Lợi nhuận của DN là phần chênh lệch giữa Doanh thu thuần và toàn bộ chi
phí bỏ ra. Thông thường để tăng lợi nhuận, các DN tập trung vào vấn đề cắt giảm

 Hiệu quả của tính chuyên môn hóa, khi quy mô sản xuất của DN tăng thì DN

sẽ thuê thêm lao động. Mỗi người công nhân có thể tập trung vào một công
việc cụ thể và giải quyết công việc đó hiệu quả hơn, từ đó góp phần làm giảm
chi phí bình quân. Đồng thời do chuyên môn hóa nên việc đào tạo người lao
động cũng tiết kiệm thời gian và chi phí đào tạo hơn.
7

Nguyễn Văn Tạo (2006), Nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
[http://na.gov.vn/htx/vietnamese/default.asp?Newid=1218#LwpnuK0gqy8B, truy cập ngày 05/07/2011]


Bên cạnh đó các DN có quy mô lớn sẽ có điều kiện thuận lợi về uy tín,
thương hiệu, thị phần, sức mạnh tài chính nên có khả năng tiếp cận với nguồn vốn
tốt hơn (ví dụ như dễ dàng huy động hơn, mức vay cao hơn, lãi suất vay thấp hơn).
Năng lực quản trị tài chính doanh nghiệp
Các hoạt động chủ yếu mà người phụ trách về tài chính của DN phải làm là
dự báo và lên kế hoạch tài chính, phân tích các dự án để ra quyết định đầu tư dài
hạn, phân tích các nguồn tài trợ sẵn có để quyết định phương án huy động vốn. Để
làm tốt chức năng này, nhà quản trị tài chính cần những hiểu biết về thị trường vốn
và thị trường tiền tệ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có nhiều nhà quản trị tài chính
thiếu kinh nghiệm, do đó các quyết định tài chính còn nhiều bất cập:
 DN sử dụng hoàn toàn vốn CSH, do đó không khai thác được lợi thế của lá

chắn thuế và đòn bẩy tài chính để nâng cao HQKD
 DN không xác định được nguồn vốn vay, sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu

tư tài sản dài hạn, do đó thiếu hụt nguồn vốn kinh doanh
 DN áp dụng một chính sách tín dụng thương mại (bán chịu) khá thoải mái


thuận lợi trên, dẫn đến năm 2007 các DN trong ngành xây dựng làm không hết việc
và luôn đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 30%/năm, cao gấp gần ba lần so với
mức tăng trưởng chung của khu vực công nghiệp và xây dựng cả nước (10.6%) 9 .
Giai đoạn từ năm 2007 sang năm 2008, khủng hoảng kinh tế và lạm phát tăng
cao, gây tác động mạnh lên cả ba lĩnh vực có quan hệ mật thiết với nhau đó là: xây
dựng, vật liệu xây dựng và kinh doanh bất động sản. Một trong những khó khăn lớn
nhất của năm 2008 là giá cả trên thị trường vật liệu xây dựng tăng cao trong 6 tháng
đầu năm: sắt thép tăng 90%, gạch tăng 300% … khiến chi phí vật liệu xây dựng
chiếm đến 60% - 70% giá thành xây lắp. Song song đó, chi phí nhân công cũng tăng
30% - 55% và đặc biệt là lãi suất cho vay tăng mạnh (cao nhất là 21%/năm), trong
khi đó vốn vay ngân hàng lại chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn của các DN ngành
xây dựng. Tất cả đều tăng khiến cho chi phí đầu vào vượt quá sức chịu đựng của
phần lớn DN.
Thị trường chứng khoán sụt giảm, Nhà nước siết chặt tín dụng và tác động
của cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra khiến các chủ đầu tư càng cạn kiệt nguồn
vốn triển khai dự án, kể cả những dự án đang thi công dở dang. Hàng loạt công
9

Nguồn: Vụ quản lý hoạt động xây dựng – Bộ xây dựng


trường nhà xưởng, công nghiệp, dự án căn hộ hoặc ngưng hẳn hoặc chỉ thi công cầm
chừng. Các DN xây dựng có việc làm nhưng phải chấp nhận việc thanh toán bị
chậm hoặc không biết khi nào được thanh toán bởi phía đối tác cũng không xoay xở
được vốn do nguồn vốn tín dụng bị hạn chế. Chưa bao giờ các DN trong ngành xây
dựng lại trải qua những thử thách ở mức độ mạnh và trên diện rộng như năm 2008.
Phần lớn các DN quy mô nhỏ, yếu vốn và yếu công nghệ hầu như không có doanh
thu, lợi nhuận và gặp rất nhiều khó khăn trong việc duy trì hoạt động kinh doanh
của mình.
Từ năm 2009 cho đến nay, tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng đã có sự

công cũng như thống nhất phê duyệt quyết toán giữa chủ đầu tư và nhà thầu thường
mất nhiều thời gian, dẫn tới tình trạng chủ đầu tư chậm thanh toán cho các DN xây
dựng, từ đó công nợ của các DN xây dựng rất cao. Ngoài ra, các DN trong ngành
xây dựng tăng lợi nhuận chủ yếu dựa vào tăng doanh số. Chính vì vậy mà các DN
xây dựng thường sử dụng đòn bẩy tài chính để giải quyết vấn đề về xoay xở đồng
vốn và tăng doanh số. Các DN xây dựng Việt Nam hiện nay lệ thuộc quá sâu vào hệ
thống ngân hàng. Không có tín dụng từ ngân hàng, các DN xây dựng không thể trụ
lâu được, hoặc nếu có trụ lâu được thì cũng khó tăng trưởng được. Trong thời gian
gần đây, nhà nước với chính sách thắt chặt tiền tệ, các ngân hàng siết chặt tín dụng,
áp dụng lãi suất ở mức cao dẫn tới chi phí đầu vào của các DN xây dựng bị ảnh
hưởng rất nặng bởi chi phí lãi vay của tỷ lệ nợ cao.
Trình độ công nghệ quyết định lợi thế cạnh tranh. Đứng trên giác độ của
người sử dụng khi có nhu cầu xây dựng một công trình thì đa số họ có tâm lý quan
tâm nhiều đến chất lượng công trình. Bởi lẽ, chất lượng công trình quyết định mức
độ an toàn của người sử dụng. Còn đứng trên giác độ của chủ đầu tư, khi tham gia
gọi thầu từ các DN xây dựng thì bên cạnh chất lượng, họ quan tâm nhiều đến giá cả.
Đối với các công trình có khối lượng thi công lớn, một sự biến đổi nhỏ về giá cả có
thể làm cho chi phí của công trình thay đổi đáng kể. Để giải quyết bài toán nâng cao
chất lượng công trình, hạ giá thành sản phẩm thì công nghệ là yếu tố đóng vai trò



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status