Đề tài: Sử dụng phương pháp dạy học trực quan nhằm nâng cao tính tích cực, chủ
động của học sinh trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Sông Ray
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC QUAN NHẰM
NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Ở TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xã hội ngày càng phát triển, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra
ngày càng mạnh mẽ, kéo theo đó giáo dục cũng phát triển không ngừng. Để đáp
ứng kịp thời những yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì giáo
dục và đào tạo có vai trò to lớn trong việc trực tiếp tham gia bồi dưỡng nguồn lực
con người. Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú
về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực và mục tiêu của công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chính vì vậy, trong văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Giáo dục và
đào tạo phải xác định rõ mục tiêu, thiết kế nội dung, chương trình đổi mới phương
pháp giáo dục, đào tạo, lựa chọn, những nội dung có tính cơ bản, hiện đại. Tăng
cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác Lê - nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức và nhân văn, lịch sử dân tộc và bản sắc văn
hóa dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước.
Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá
trình đào tạo.... ”
Đến đại hội X vẫn tiếp tục nhấn mạnh: “ Nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện, đổi mới tổ chức, nội dung, phương pháp và dạy học... ”
Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố hàng đầu và có ý nghĩa then
chốt đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục. Vì vậy đổi mới phương pháp dạy
học đang được đặt ra một cách cấp bách, yêu cầu này xuất phát từ thực tiễn giáo
dục Việt Nam.
Một trong những xu hướng cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học là việc
nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp trực quan. Đây là phương pháp dạy học
động nhận thức của học sinh, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong
việc chiếm lĩnh tri thức. Bên cạnh đó nó còn là nguồn phương tiện giúp học sinh
nắm vững các khái niệm, quy luật, hiện tượng, các vấn đề về kinh tế xã - hội, rèn
luyện cho học sinh kĩ năng, thái độ đúng đắn, hình thành cho học sinh nhân sinh
quan tích cực, tiến bộ.
Bằng những kinh nghiệm của bản thân và thu nhận một số ý kiến đóng góp từ
quý thầy cô trong tổ bộ môn cùng với việc tham khảo ở đồng nghiệp về chất lượng
học tập của học sinh nên tôi đã thực hiện đề tài: “ Sử dụng phương pháp dạy học
trực quan nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động của học sinh trong dạy học
môn Giáo dục công dân ở trường THPT Sông Ray”.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1. Khái niệm phương pháp dạy học
Thuật ngữ phương pháp dạy học có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là
“Methodos”, có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích.
Có khá nhiều khái niệm về phương pháp dạy học, tuy nhiên dù ở những
phạm vi quan niệm khác nhau tất cả đều cho rằng:
- Phương pháp dạy học phản ánh hình thức vận động của nội dung dạy học.
- Phương pháp dạy học phản ánh sự vận động quá trình nhận thức của học
sinh nhằm đạt được mục đích học tập.
- Phương pháp dạy học phản ánh cách thức hoạt động, thao tác, trao đổi thông
tin, dạy học giữa thầy và trò.
1.2. Tính chất chung của phương pháp dạy học.
Phương pháp dạy học có tính hai mặt: mặt khách quan gắn liền với đối tượng
của phương pháp và điều kiện dạy học; mặt chủ quan gắn liền với chủ thể sử
dụng phương pháp.
Phương pháp dạy học có những đặc điểm đặc biệt so với các phương pháp
khác là ở chỗ nó là một phương pháp kép, là sự tổng hợp của hai phương pháp:
Phương pháp dạy và phương pháp học. Hai phương pháp này có tương tác chặt
- Trình bày trực quan: khi trình bày trực quan, học sinh quan sát các phương
tiện trực quan dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
b. Những cơ sở khoa học của phương pháp sử dụng phương tiện trực
quan
Bất cứ một sự vật, hiện tượng nào, khoa học nào đều có cơ sở thực tiễn của
nó. Phương pháp dạy học trực quan cũng có cơ sở khoa học, đó là:
* Xuất phát từ quy luật nhận thức
Xã hội loài người phát triển là vì nhu cầu của con người ngày càng nhiều,
muốn đáp ứng được nhu cầu đó con người phải nhận thức được đối tượng của nhu
cầu là gì. Như vậy, ta thấy, nhận thức xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, chính môi
trường thực tiễn sẽ cung cấp những hình ảnh cụ thể, những sự vật, hiện tượng cụ
thể...Điều đó đáp ứng cho vế thứ nhất của bài toán nhận thức đó là “ trực quan
sinh động”. Rồi qua quá trình phân tích, tổng hợp, khái quát...là “ giai đoạn nhận
thúc lý tính” để cho ra những khái niệm, những quy luật, những phạm trù...Nếu
không có trực quan sinh động thì khái niệm sẽ không hình thành. Nếu trực quan
không đầy đủ thì khái niệm sẽ thiếu cơ sở thực tế và nó không phản ánh đầy đủ
được nội dung, bản chất của sự vật, hiện tượng.
Ở giai đoạn nhận thức cảm tính càng có nhiều cơ quan cảm giác tham gia vào
quá trình phản ánh sự vât hiện tượng càng làm cho biểu tượng chính xác, càng có
cơ sở cho giai đoạn nhận thức cao hơn – giai đoạn nhận thức lý tính.
Ở bậc trung học phổ thông, trình độ tư duy khái quát của học sinh đã phát triển
nhưng chưa cao. Do vậy, phương pháp này đóng vai trò quan trọng, tác động đến
trí nhớ của học sinh và giúp cho bài giảng trở nên sinh động hơn, thu hút sự chú ý
của người học. Nhà giáo dục Việt Nam Hồ Ngọc Đại đã cho rằng: trực quan sinh
động, thực tiễn sinh động, đây chính là cơ sở - động lực, tiêu chuẩn của quá trình
nhận thức.
* Dựa trên kết luận của thực nghiệm tâm lí học
Hệ thống giác quan của con người bao gồm: xúc giác, thị giác, khứu giác,
thính giác, vị giác. Tất cả đều có sự tham gia cũng như có vị trí cao trong quá trình
nhận thức các sự vật, hiện tượng khách quan của con người. Qua những điều tra
định mối quan hệ giữa cảm tính và lí tính, giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong
nhận thức của học sinh – trong đó mối quan hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng
đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Vận dụng lý luận trên vào lĩnh vực dạy học, ta thấy: trong dạy học, muốn nhận
thức được đối tượng học tập thì người học phải có hình ảnh trực quan về chúng.
Mục đích của phương pháp dạy học trực quan là tạo ra những hình ảnh về biểu
tượng của đối tượng nhận thức cho học sinh, để từ đó, hình thành các khái niệm
khoa học. Nếu không có các hình ảnh về các biểu tượng đó thì học sinh không thể
có khái niệm về đối tượng học tập. Như vậy, dạy học phải bắt đầu từ cái cụ thể,
trực quan, đây là một nguyên tắc của lý luận nhận thức và dạy học. Tuy nhiên, có
thể sử dụng phương tiện trực quan hay không lại phải phụ thuộc vào người học đã
có hình ảnh biểu tượng về đối tượng nhận thức hay chưa (nếu người học chưa có
những hình ảnh, biểu tượng về đối tượng nhận thức thì nhất thiết phải có các
phương tiện trực quan để tạo ra các hình ảnh tương ứng của chúng. Nếu người học,
trong cuộc sống hay trong quá trình học tập trước đó đã hình thành hình ảnh trực
quan về đối tượng học tập thì không cần phải sử dụng phương tiện trực quan).
Tổ chức cho học sinh tiến hành các hoạt động thực tiễn với các phương tiện
trực quan trong dạy học không chỉ giúp các em hình thành những biểu tượng cảm
tính về đối tượng nhận thức, mà còn tạo điều kiện cho người học nhận ra được mối
quan hệ bản chất của đối tượng cần nắm vững. Hoạt động với các phương tiện trực
quan góp phần hoàn thiện các giác quan, hình thành những kĩ năng hoạt động cho
học sinh.
GVTH: Lại Thị Ngọc Xuyến
Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang 4
Đề tài: Sử dụng phương pháp dạy học trực quan nhằm nâng cao tính tích cực, chủ
động của học sinh trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Sông Ray
- Quá trình dạy học bài Giáo dục công dân phải là quá trình học sinh được cuốn
hút vào các hoạt động do giáo viên thiết kế, tổ chức và chỉ đạo, để thông qua đó,
học sinh có thể khám phá và chiếm lĩnh nội dung bài học. Học sinh phải hứng thú,
thông hiểu và ghi nhớ những gì học sinh đã nắm được thông qua hoạt động chủ
động, nỗ lực của chính mình.
- Trong quá trình dạy học, giáo viên phải huy động, khai thác tối đa kinh
nghiệm sống của học sinh; tạo cơ hội và động viên, khuyến khích học sinh bày tỏ
quan điểm, ý kiến cá nhân về vấn đề đang học. Giáo viên cần khuyến khích học
sinh nêu thắc mắc trong khi nghe giảng; đặt câu hỏi cho thầy, cho bạn; trao đổi,
tranh luận, tạo nên mối quan hệ hợp tác trong giao tiếp giữa thầy và trò; trò với trò
trong quá trình chiếm lĩnh nội dung học tập.
Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến cá nhân được bộc lộ, bác
bỏ hay khẳng định, sẽ giúp học sinh nâng cao được trình độ. Bài học cần vận dụng
GVTH: Lại Thị Ngọc Xuyến
Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang 5
Đề tài: Sử dụng phương pháp dạy học trực quan nhằm nâng cao tính tích cực, chủ
động của học sinh trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Sông Ray
được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi học sinh cũng như của cả lớp, không
nên dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của giáo viên.
Hợp tác trong học tập sẽ làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết
những vấn đề gay cấn, lúc cần phối hợp giữa các cá nhân để giải quyết những
nhiệm vụ chung. Trong hoạt động hợp tác theo nhóm nhỏ, tính cách, năng lực của
mỗi cá nhân được bộc lộ, uốn nắn. Tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ
được phát triển. Sự hợp tác trong học tập sẽ giúp học sinh quen dần với sự phân
công hợp tác trong lao động xã hội và hình thành năng lực hợp tác cho người công
dân sống trong một thế gới phát triển với những sự hợp tác song phương, đa
11: Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường. Giáo viên cho học sinh xem
những hình ảnh sau:
GVTH: Lại Thị Ngọc Xuyến
Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang 6
Đề tài: Sử dụng phương pháp dạy học trực quan nhằm nâng cao tính tích cực, chủ
động của học sinh trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Sông Ray
Ô nhiễm không khí
Chặt phá rừng bừa bãi.
- Sơ đồ, biểu đồ: Bằng số liệu, biểu đồ khoa học giáo viên giúp học sinh thấy
được lôgic khách quan của quá trình hoặc so sánh một cách hiệu quả, đầy sức
thuyết phục một vấn đề nào đó.
+ Sơ đồ: Trong chương trình Giáo dục công dân lớp 10 giáo viên có thể sử
dụng sơ đồ, biểu đồ để dạy một số bài như:
Bài 3: Sự vận động và phát triển của thế giới vật chất, có thể sử dụng sơ đồ
Quan hệ giữa các hình thức vận động để giảng phần 1c. Các hình thức vận động
của thế giới vật chất.
Bài 11: Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học, có thể sử dụng sơ đồ: Mối
quan hệ giữa nghĩa vụ, lương tâm, nhân phẩm, danh dự và hạnh phúc để củng cố
bài.
LƯƠNG TÂM
h n nh n
Vợ chồng b nh đ ng ới nhau
Trong quan hệ nh n th n
qu ền
Tr ng quan hệ t i sản
ngh a ụ ngang nhau
+ Biểu đồ dùng để chỉ sự phát triển có thể là đồ thị, biểu đồ cột.
+ Biểu đồ dùng để chỉ cấu trúc, tỉ lệ có thể là biểu đồ tròn.
- Một số loại bảng:
+ Bảng thống kê số liệu: có tác dụng rất lớn đối với việc chứng minh cho một
kết luận hay một luận điểm khoa học nào đó.
+ Bảng tổng kết thường dùng để tóm tắt một chương hay một phần trong
chương trình. Giá trị của nó rất cô động súc tích. Học sinh có cách nhìn bao quát
cũng như nắm được kiến thức một cách thuận tiện.
Ví dụ: Bảng tổng kết về các thành phần kinh tế. Khi giảng xong mục 1, bài 7 –
GDCD 11: Thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần và tăng cường vai trò quản lí
kinh tế của nhà nước, giáo viên có thể dùng bảng này để tổng kết kiến thức cần
nắm cho học sinh.
GVTH: Lại Thị Ngọc Xuyến
Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang 8
Sở hữu hỗn hợp về vốn
Xí nghiệp liên doanh
100% vốn đầu tư nước
ngoài
Doanh nghiệp nước ngoài
+ Bảng so sánh nhằm làm nổi bật sự giống và khác nhau giữa các quá trình,
các sự vật hiện tượng trong cuộc sống.
Ví dụ: Khi giảng bài 2 – GDCD 12: Thực hiện pháp luật. Để giúp học sinh
hiểu rõ phân biệt được sự giống và khác nhau giữa các hình thức thực hiện pháp
luật, giáo viên có thể lập bảng so sánh sau:
ác điểm giống và khác nhau giữa các hình thức thực hiện pháp luật
Sử dụng PL
Cá nhân,
tổ chức
Thi hành PL Tuân thủ PL Ap dụng PL
Cá nhân,
Cá nhân,
Cơ quan, công chức
Chủ thể
tổ chức
tổ chức
nhà nước có thẩm
quyền
động Không làm Cơ quan nhà nước
Mức độ Chủ động thực Chủ
và rất sinh động.
Qua sa bàn giúp tái tạo lại trận đánh, giúp học sinh hiểu được truyền thống
hào hùng của dân tộc. Qua đó giáo dục lòng yêu nước cho học sinh. Sa bàn có thể
GVTH: Lại Thị Ngọc Xuyến
Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang 9
Đề tài: Sử dụng phương pháp dạy học trực quan nhằm nâng cao tính tích cực, chủ
động của học sinh trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Sông Ray
sử dụng khi dạy bài 14 – GDCD 10: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Sa bàn chiến dịch Điện Biên Phủ
- Phim ảnh:
+ Các phim khoa học thường rất gần gũi với các nguyên lý của chủ nghĩa duy
vật biện chừng.
+ Các phim tâm lý xã hội thường hay gần gũi với chủ nghĩa duy vật lịch sử, các
vấn đề đạo đức về quan hệ giữa người với người.
+ Những phim tư liệu có nội dung lịch sử là phương tiện có hiệu quả. Trước hết
chúng phong phú về nội dung, kết hợp chặt chẽ giữa lời nói với hình ảnh, âm
thanh. Nó tác động đến cơ quan cảm giác của học sinh, cung cấp một khối lượng
thông tin lớn, hấp dẫn khó có một kiến thức nào sánh kịp. Hình ảnh, màu sắc âm
thanh, giúp học sinh có một biểu tượng sinh động về quá khứ, hiện tại như đang
sống cùng sự kiện.
Ví dụ: khi dạy bài 14 GDCD 10: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, để giúp học sinh hiểu rõ hơn về truyền thống chống giặc ngoại xâm
của dân tộc Việt Nam, giáo viên có thể cho học sinh xem đoạn phim tư liệu về
chiến thắng điện biên phủ. Qua đó, giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, giúp học
việc sử dụng phần mềm dạy học này, giáo viên có thể dễ dàng đưa những thông
tin cập nhật được vào bài giảng thông qua những đường link, không phải in ra giấy
tốn kém. Bên cạnh đó, việc sử dụng giáo án điện tử vào trong giảng dạy giúp giáo
viên có thể lưu giữ thông tin lâu, có thể dễ dàng bổ sung, sửa chữa thông tin cho
phù hợp với từng thời điểm, từng đối tượng. Khảo sát hiệu quả tiếp thu từ phía học
sinh cho thấy: Nếu dùng phương pháp dạy học truyền thống với phấn trắng, bảng
đen thì hiệu quả mang lại chỉ 30%, trong khi hiệu quả của phương pháp
Multimedia ( nghe – nhìn ) lên đến 70%.
- Tham quan
Tham quan thực tế là cách khảo sát tình huống thông qua hiện trường để người
học rút ra được những bài học thực tế và những giả định, những hướng phát triển
trong tương lai.
Trong môn Giáo dục công dân để phục vụ đắc lực cho giảng dạy, thực hiện
nguyên lý gắn liền với thực tế theo phương châm “ tai nghe không bằng mắt thấy”
giáo viên có thể tổ chức cho học sinh tham quan các di tích lịch sử, các viện bảo
tàng, các điển hình tiên tiến, ...Trong điều kiện trường có rất nhiều khó khăn để
mua sắm, để phục vụ dạy học cho bộ môn thì việc tổ chức cho học sinh đi thăm
quan là rất cần thiết. Nó có tác dụng củng cố tri thức, phát triển óc suy luận, giáo
dục ý thức chính trị, truyền thống cách mạng, giáo dục đạo đức và thẩm mỹ cho
học sinh là rất cần thiết và có thể làm được. Để tham quan đạt kết quả tốt, giáo
viên cần vạch ra kế hoạch cụ thể, rõ ràng về thời gian và địa điểm, mục đích và
yêu cầu về nội dung. Sau khi tham quan nên tổ chức thảo luận hoặc viết thu hoạch
để đánh giá kết quả.
Ví dụ: Khi dạy bài: Thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và tăng
cường vai trò quản lí kinh tế của nhà nước – GDCD 11, giáo viên có thể tổ chức
cho học sinh đi tham quan một số nơi điển hình sản xuất tiên tiến để giúp học sinh
hiểu rõ hơn về các thành phần kinh tế.
Hay khi dạy bài: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc –
GDCD 10, để học sinh hiểu rõ hơn về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân
tộc ta, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh đi tham quan các viện bảo tàng, các
khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành, làm dễ dàng hóa quá trình nhận thức của
học sinh, chuyển đối tượng mang tính chất trừu tượng sang cụ thể.
Phát triển kĩ năng thực hành: Phương tiện trực quan trong dạy học sử dụng để
kích thích hứng thú học tập của học sinh, giúp học sinh lĩnh hội kiến thức đầy đủ
và chính xác, đồng thời khắc sâu, mở rộng, củng cố và nâng cao những tri thức
được lĩnh hội, góp phần rèn luyện tri thức, rèn luyện những kĩ năng, kĩ xảo cần
thiết, phát triển năng lực độc lập nghiên cứu, tư duy tìm tòi sáng tạo của học sinh.
Phát triển trí tuệ: Khi sử dụng các phương tiện trực quan đúng lúc, đúng chỗ
của các phương tiện trực quan với những phương pháp và lời dẫn dắt thích hợp sẽ
giúp học sinh phát triển óc quan sát, khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh.
Giáo dục nhân cách học sinh: Thông qua việc sử dụng các phương tiện trực
quan sẽ góp phần hình thành ở học sinh các khái niệm, quy luật, chuẩn mực đạo
đức và nhận thức về thế giới xung quanh. Trên cơ sở đó giải thích một cách khoa
GVTH: Lại Thị Ngọc Xuyến
Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang 12
Đề tài: Sử dụng phương pháp dạy học trực quan nhằm nâng cao tính tích cực, chủ
động của học sinh trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Sông Ray
học các sự vật, hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và xã hội. Điều đó giúp củng cố
niềm tin của học sinh vào hiện thực khách quan, vào khoa học và có tác động
hướng dẫn hoạt động.
Các băng hình, phần mềm mô phỏng, giáo án điện tử có cấu trúc phần hình
động...có thể sử dụng trong giờ giảng, giúp bài giảng trở nên sinh động hơn, ấn
tượng về bài giảng tốt hơn, học sinh dễ hiểu và khắc sâu những khái niệm, phạm
trù, quy luật, những vấn đề khó lẽ ra phải được tư duy trừu tượng lại được minh
họa rõ ràng.
Mặt khác, phương tiện trực quan còn có khả năng giúp giáo viên tiết kiệm
đúng chỗ, phù hợp với nội dung bài học từ đó giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn bản
chất của các sự vật, hiện tượng, các khái niệm, phạm trù, quy luật.
Ví dụ: Khi giảng bài: Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học – GDCD 10,
để giúp cho học sinh hiểu được khái niệm “ nghĩa vụ” là nét đặc trưng của xã họi
loài người, khác với loài vật chỉ mang tính bản năng, giáo viên có thể cho học sinh
GVTH: Lại Thị Ngọc Xuyến
Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang 13
Đề tài: Sử dụng phương pháp dạy học trực quan nhằm nâng cao tính tích cực, chủ
động của học sinh trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Sông Ray
xem hai hình ảnh về hoạt động nuôi con của sói mẹ và hoạt động nuôi con của bố
mẹ, sau đó đặt câu hỏi gợi mở: “ các em quan sát hai hình ảnh trên và bằng hiểu
biết thực tế, hãy phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động nuôi con của sói mẹ và
hoạt động nuôi con của bố mẹ” từ đó đi đến khái niệm nghĩa vụ là gì?
Sói mẹ nuôi con
Bố mẹ nuôi con
Sói mẹ nuôi con
Cùng với việc hình thành khái niệm và tạo biểu tượng, phương pháp trực
quan còn giúp phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng tư duy và khả năng
ngôn ngữ của học sinh trong học tập bộ môn nói riêng và trong học tập nói chung.
Ví dụ: Khi dạy bài “ Quy luật giá trị trong lưu thông hàng hóa” – GDCD 11,
để phát triển khả năng quan sát và óc tư duy của học sinh, khi tìm hiểu tác động
của quy luật giá trị về sự phân hóa giàu nghèo trong nền sản xuất hàng hóa, giáo
viên có thể cho học sinh xem hình ảnh về đối nghịch giữa giàu có, sa hoa và sự
- Phương tiện trực quan có những ưu điểm là huy động các giác quan tham gia
vào quá trình nhận thức, tao điều kiện cho học sinh
- Dễ hiểu, nhớ lâu, tạo ra sự thoải mái, phát huy sự tư duy, sáng tạo, liên hệ giữa
lí thuyết và thực tế.
- Nhưng phương tiện trực quan có những hạn chế nhất định, vì vậy trong khi sử
dụng phương pháp này giáo viên cần phải chú ý:
Phải đầu tư suy nghĩ, lựa chọn một cách công phu các phương tiện và phương
pháp trực quan phục vụ cho nội dung bài giảng. Việc lựa chọn các phương tiện
trực quan phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nội dung của hoạt động nhận thưc, hiệu
quả của mỗi loại phương tiện, đối tượng học sinh, trình độ giáo viên, cơ sở vật
chất của nhà trường....Trong đó, nội dung của các hoạt động nhận thức và hiệu quả
của mỗi loại phương tiện là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn và sử
sụng các phương tiện trong dạy học bộ môn.
Tài liệu phải điển hình, đưa ra đúng lúc, phù hợp với từng vấn đề trong bài
giảng, cần bảo đảm tính chính xác, chân thực, rõ ràng. Khi đưa ra các tài liệu trự
quan, giáo viên cần phải phân tích kỹ, kết luận đúng. Chỉ như vậy các tài liệu đưa
ra mới có sức thuyết phục. Giáo viên cũng có thể hướng dẫn học sinh phân tích,
tổng hợp, khái quát thành những vấn đề lý luận nhằm phát triển học thức cho học
sinh.
Khi đưa ra các phương tiện trực quan thì phải xác định độ dài sử dụng phương
tiện dạy học, suy nghĩ cẩn thận những biện pháp, cách thức chuẩn bị cho học sinh
tri giác tài liệu học tập cũng như việc nghiên cứu tài liệu sau khi quan sát tài liệu
đầy đủ ( xác định mục đích, nhiệm vụ quan sát, hướng dẫn quan sát, cách ghi chép
và rút ra kết luận đúng đắn, khái quát và biểu đạt dưới dạng văn nói hay văn viết
một cách rõ ràng, chính xác...)
Xây dựng kế hoạch tiết học có phối hợp sử dụng phương tiện nhằm phát huy
tính tích cực của học sinh trong việc lĩnh hội kiến thức.
Khi sử dụng tranh, ảnh cần lựa chọn. Đối với tranh ảnh châm biếm, giáo viên
cần nắm chắc chủ đề tư tưởng, tránh nhầm lẫn, nhất là đối với tranh có nhiều tư
tưởng, tránh nhầm lẫn, nhất là đối với tranh có nhiều biểu tượng.
góp phần nâng cao chất lượng dạy – học bộ môn Giáo dục công dân ở trong
trường trung học phổ thông. Trong tình hình phát triển của khoa học như hiện nay,
dạy học nói chung và dạy học môn Giáo dục công dân nói riêng có điều kiện rất
lớn trong việc sử dụng các tài liệu trực quan, giáo viên không thể dạy chay như
trước đây. Trong một ý nghĩa nào đó, dạy học trực quan đang phát triển đến một
trình độ cao, tạo ra khả năng to lớn, đáp ứng một cách hiệu quả cho việc đổi mới
phương pháp dạy học, gây ấn tượng mạnh, có thể “tái tạo” lại hiện thực một cách
sinh động, gây hứng thú cho học sinh.
Phương tiện dạy học chính là phương tiện vật chất cần thiết giúp cho giáo viên
và học sinh tổ chức quá trình dạy học thực hiện mục tiêu giáo dục, giáo dưỡng.
Trong điều kiện đổi mới phương pháp dạy học như hiện nay, nó là một trong
những điều kiện cơ bản, không thể thiếu được để thực hiện mục tiêu dạy học.
2.6. Phối hợp lời nói và việc làm.
Lời nói của giáo viên đóng vai trò chủ đạo, hướng dẫn sự quan sát và chỉ đạo
suy nghĩ của học sinh để đi tới kết luận đúng đắn.
Khi đối tượng quan sát quá đơn giản, học sinh có thể rút ra những kết luận nhỏ
từ sự quan sát mà không cần suy lý, lời nói của giáo viên hướng dẫn sự quan sát.
Khi đối tương phức tạp, đòi hỏi phải tái hiện kiến thức cũ, biện luận mới giải
thích được nó, sự quan sát trực tiếp không giúp học sinh rút ra kết luận, muốn giải
thích được hiện tượng phải tìm ra những quan hệ tiềm ẩn. Trong trường hợp này
lời nói của giáo viên có ba chức năng:
+ Hướng dẫn sự quan sát
+ Gợi ý cho học sinh tái hiện kiến thức cũ
+ Hỗ trợ cho học sinh giải thích được cơ chế của hiện tượng và đi tới kết luận
Với những hiện tượng đơn giản, giáo viên có thể thông báo kết luận trước rồi
sau đó mới biểu diễn phương tiện trực quan, lúc này lời nói của giáo viên là nguồn
thông tin chính còn những phương tiện dạy học là những nguồn thông tin minh
họa, hỗ trợ cho bài giảng.
Nếu nội dung nghiên cứu phức tạp, khi đó giáo viên mô tả diễn biến của hiện
tượng, rút ra kết luận, còn phương tiện trực quan dung để xác nhận hay minh họa
tập.
- Sử dụng thiết bị dạy học phải đủ cường độ: phương pháp dạy học phải được
thiết kế sao cho phù hợp với đặc điểm nhận thức của người học, tâm lý lứa tuổi
của học sinh.
Mức độ sử dụng các phương tiện trong giờ giảng là khác nhau, không nên kéo
dài một loại phương tiện hoặc sử dụng trùng lặp phương tiện, như vậy sẽ gây giảm
sút hiệu quả của phương tiện.
Không nên sử dụng quá nhiều phương tiện trong một giờ giảng. Nếu sử dụng
quá thường xuyên các phương tiện nghe nhìn trên lớp sẽ dẫn đến quá tải thông tin
cho người học, ảnh hưởng xầu đến quá trình dạy học.
- Sử dụng phương tiện trực quan đủ chi tiết. Xây dựng phương tiện dạy học cho
một giờ giảng, giáo viên cũng cần chú ý đến yếu tố này. Đủ chi tiết có nghĩa là
phương tiện phải hoàn chỉnh, phù hợp với nội dung bài học khi dạy; trái lại, nếu
không đủ hoặc phương tiện không phù hợp sẽ gây nên nhận thức thiếu hụt, không
đồng bộ, không đồng nhất, dẫn đến chất lượng dạy học giảm sút.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
1. Nhận xét đánh giá của hoc sinh
Để khẳng định vị trí của phương pháp dạy học trực quan, tôi đã khảo sát lấy ý
kiến của học sinh các lớp trực tiếp giảng dạy trong năm học 2012 – 2013, về mức
độ yêu thích của các em khi giáo viên sử dụng phương pháp này trong dạy học bộ
môn, kết quả thu được như sau:
GVTH: Lại Thị Ngọc Xuyến
Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang 17
Đề tài: Sử dụng phương pháp dạy học trực quan nhằm nâng cao tính tích cực, chủ
động của học sinh trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Sông Ray
Quan trọng
Bình thường
PTTQ
trọng
trọng
Theo
%
Tần
%
Tần
%
Tần
%
Tần
em, các
số
số
số
số
phương Sa bàn,
tiện
phim
34.5
58
43.45
73
17.85
30
4.2
7
12.5
21
trò:
số liệu
Tham
40.48 68
28.57
48
20.83
35
10.12
17
quan
Ý kiến học sinh về tác dụng của phương pháp trực quan đối với bộ môn
GDCD.
%
Câu hỏi
Tác dụng
TS
Theo
em, Giúp học sinh hiểu bài sâu, nhớ lâu.
62.5
105
nếu giáo viên Làm giảm đi tính trừu tượng của kiến thức.
65.48
110
sử dụng các Giúp học sinh cảm thấy hứng thú trong học
70.24
118
phương tiện tập bộ môn hơn.
Do đó, khi sử dụng các phương tiện trực quan vào trong dạy học giúp làm giảm đi
tính trừu tượng của kiến thức (65.48%), các em hiểu bài nhanh và nhớ bài sâu hơn.
Rèn luyện cho các em óc quan sát và giải thích hiện tượng (48.21%).
Khác với các phương pháp dạy học truyền thống, sử dụng phương pháp này
các em phát huy được vai trò tích cực của minh một cách chủ động, kich thích
hứng thú của các em đối với học tập. Nó giúp môn Giáo dục công dân đỡ khô
khan, nhàm chán hơn. Chính vì vậy, khi sử dụng phương pháp trực quan trong dạy
học có ảnh hưởng nhiều đến kết quả học tập của các em.
Như vậy, qua điều tra, khảo sát cho thấy học sinh đều yêu thích và mong muốn
giáo viên của mình sử dụng phương pháp trực quan vào trong giáo dục bộ môn.
Các em đánh giá cao vai trò của các phương tiện trực quan vào trong giảng dạy,
tăng sự chú ý, hứng thú, giúp các em nắm kiến thức một cách dễ dàng và sâu sắc.
Bên cạnh đó, các em không muốn bị động học tập, tiếp thu tri thức “ thầy giảng,
trò nghe” như trước đây mà mong muốn được làm chủ tri thức, học tập chủ động,
sáng tạo, lòng ham hiểu biết của các em về kiến thức thực tế, về cuộc sống xung
quanh ngày càng cao. Dạy học đã phát huy được tính tích cực, chủ động của các
em trong học tập,...nhiệt tình đóng góp ý kiến nhằm góp phần nâng cao hiệu quả,
chất lượng dạy và học bộ môn. Qua đó cũng cho chúng ta thấy rằng công cuộc đổi
mới giáo dục từ dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy học sinh
làm trung tâm đã đạt được những chuyển biến tích cực. Các phương pháp dạy học
tích cực nói chung và phương pháp dạy học trực quan nói riêng đã góp phần
không nhỏ cho sự chuyển biến tích cực này.
2. Những thành tựu và hạn chế.
a. Thành tựu
Qua khảo sát cho thấy việc sử dụng phương pháp trực quan vào trong giảng
dạy bộ môn đã gây được sự tích cực, hứng thú của học sinh, giúp các em hiểu bài
nhanh, tiếp thu bài tại lớp, phát triển khả năng quan sát của các em,...Khi giáo viên
sử dụng các phương tiện trực quan trong giảng dạy bộ môn, giáo viên có hình thức
khuyến khích các em tích cực trong học tập, tạo không khí sôi nổi, nhẹ nhàng
thoải mái trong lớp. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho học sinh yêu
còn một số khó khăn nhất định sau:
- Cơ sở vật chất của nhà trường còn hạn chế, chất lượng các phương tiện không
đảm bảo, thiếu đồng bộ, đa số giáo viên dạy nhiều lớp, các tiết lại sát giờ nhau nên
rất khó di chuyển các phương tiện cồng kềnh như sơ đồ, bảng biểu, bảng số
liệu...Ngại chuẩn bị và mất thời gian, ngại di chuyển từ lớp này sang lớp khác, từ
khối này sang khối khác, nhất là khi các dãy phòng học ở cách xa nhau.
- Ngoài ra, còn do nhà trường chưa có quy định, bắt buộc về việc sử dụng các
phương tiện trực quan, chưa có chế độ ưu đãi nhưng việc chuẩn bị lại mất rất
nhiều thời gian, do đó đã vô tình làm giảm hứng thú, nhiệt tình của giáo viên, nếu
làm hay không làm cũng không được ai khen chê, khuyến khích.
- Như trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng thực trạng số lượng và chất lượng các
phương tiện trực quan chưa đảm bảo, thiếu đồng bộ cũng là một trong các nguyên
nhân khiến cho việc sử dụng các phương tiện trực quan vào trong dạy học còn hạn
chế khi ở trường có nhiều môn học, môn nào cũng có nhu cầu sử dụng, trong khi
đó số lượng lại ít, giáo viên muốn sử dụng phòng máy lại phải đăng kí trước một
tuần. Đăng kí được, đến khi sử dụng máy lại gặp trục trặc do chất lượng, công tác
bảo quản trang thiết bị chưa được tốt. Điều này có ảnh hưởng lớn đến tâm lí ngại
sử dụng của giáo viên trong giảng dạy bộ môn.
Như vậy, Trong giai đoạn hiện nay, với chủ trương đổi mới phương pháp dạy
và học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; chống lại
thói quen học tập thụ động theo kiểu cũ. Do đó, mỗi giáo viên phải tìm tòi, nghiên
cứu để tìm ra những phương pháp thích hợp cho từng bài giảng nhằm đạt kết quả
cao nhất.
Để có được tiết dạy hay, bổ ích và thực tiễn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
nội dung bài học là yếu tố cốt lõi để có được bài giảng thành công. Nhưng nếu chỉ
chăm chú đến yếu tố của nội dung bài học thôi chưa đủ, học sinh của ngày hôm
nay không chỉ muốn nghe và tiếp nhận kiến thức một chiều từ giáo viên, mà còn
muốn được tham gia vào bài học, muốn được bày tỏ quan điểm, chia sẻ những
vướng mắc cần tháo gỡ. Dù muốn hay không, nguyện vọng, mong muốn của học
GVTH: Lại Thị Ngọc Xuyến
giúp giáo viên hướng dẫn hoạt động nhận thức của học sinh, phát huy tính tích cực,
chủ động sáng tạo của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức. Bên cạnh đó nó còn
là nguồn phương tiện giúp học sinh nắm vững các khái niệm, quy luật, hiện tượng,
các vấn đề về kinh tê – xã hội, rèn luyện cho học sinh kĩ năng, thái độ đúng đắn,
hình thành cho học sinh nhân sinh quan tích cực, tiến bộ.
Tóm lại: Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân rất phong phú, đa
dạng, bao gồm cả phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại. Mỗi
phương pháp đều có mặt mạnh và hạn chế riêng, phù hợp với từng loại bài riêng
và từng tiết dạy. Vì vậy, giáo viên không nên quá lạm dụng hoặc phủ định hoàn
toàn một phương pháp dạy học nào. Điều quan trọng là cần phải lựa chọn và sử
dụng kết hợp các phương pháp một cách hợp lý.
Song việc xác định phương pháp dạy học trong mỗi bài cần căn cứ vào năng
lực của giáo viên, đặc điểm đối tượng học sinh, tình hình cụ thể của từng lớp,
dung lượng kiến thức và thời lượng mỗi bài mà giáo viên có thể áp dụng các
phương pháp dạy học tích cực thích hợp, tránh hiện tượng cứng nhắc, máy móc để
giờ lên lớp có được những hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, để phát huy tính tích cực
học tập của học sinh, giáo viên nên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực phù
hợp với bộ môn.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
1. Giải pháp phát huy tính tích cực của giáo viên trong sử dụng phương
pháp giảng dạy trực quan.
GVTH: Lại Thị Ngọc Xuyến
Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang 21
Đề tài: Sử dụng phương pháp dạy học trực quan nhằm nâng cao tính tích cực, chủ
động của học sinh trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Sông Ray
Để phát huy tính tích cực của giáo viên trong sử dụng phương pháp trực quan
phương tiện trực quan vào trong giảng dạy thì sẽ hình thành thói quen, tâm lí lười
sử dụng, chỉ thích dạy chay.
Nhà nước cần quan tâm chú ý đến vấn đề lương bổng của giáo viên, để giáo viên
an tâm, đầu tư thời gian thích hợp vào việc giảng dạy. Thực tế, do đời sống của
giáo viên còn khó khăn, nhiều giáo viên phải làm thêm hoặc dạy thêm để tăng thu
nhập.
2. Giải pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong sử dụng phương
pháp giảng dạy trực quan.
Trước hết, giáo viên cần quan niệm các phát triển dạy học vừa là nguồn tri
thức, vừa là phương tiện truyền tải thông tin – yếu tố quan trọng của quá trình dạy
học. Vì vậy, việc sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học không thể chỉ
dừng ở mức độ biểu diễn, minh họa lời giảng của giáo viên mà phải sử dụng như
là phương tiện nhận thức, là nguồn tri thức giúp học sinh tự khám phá, tìm tòi,
GVTH: Lại Thị Ngọc Xuyến
Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang 22
Đề tài: Sử dụng phương pháp dạy học trực quan nhằm nâng cao tính tích cực, chủ
động của học sinh trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Sông Ray
phát triển những kiến thức và rèn luyện kĩ năng học tập bộ môn, tạo điều kiện cho
các em “ học tập trọng hoạt động”.
Sau khi nhận dạy một lớp nào đó, giáo viên phải cố gắng tìm hiểu và nắm rõ
về đặc điểm tâm sinh lí và tình hình học tập của học sinh, từ đó giáo viên có
phương pháp dạy học phù hợp, lựa chọn các loại phương tiện phù hợp với trình độ
của học sinh, có như vậy hiệu quả giáo dục bộ môn sẽ được tốt hơn.
Hệ thống các phương tiện dạy học được khai thác sử dụng phải nhằm tích cực
hóa, hoạt động hóa hoạt động học tập của học sinh trong các bước của giờ lên lớp,
từ kiểm tra bài cũ đến dạy bài mới cũng như tổng kết, ôn tập, luyện tập. Để cho
bài học. Khi học sinh tích cực, chủ động trong học tập, giáo viên nên có hình thức
khuyến khích, động viên phù hợp để phát huy hơn nữa tính tích cực của học sinh
trong học tập bộ môn.
GVTH: Lại Thị Ngọc Xuyến
Đơn vị: Trường THPT Sông Ray
Trang 23
Đề tài: Sử dụng phương pháp dạy học trực quan nhằm nâng cao tính tích cực, chủ
động của học sinh trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Sông Ray
Trên đây là một số khuyến nghị, đề xuất với mong muốn phương pháp trực
quan sẽ được sử dụng thường xuyên và hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy –
học môn Giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông.
Với những kinh nghiệm và những ý kiến đóng góp nhỏ mà bản thân tôi đã
đúc kết được trong quá trình giảng dạy môn Giáo dục công dân với mong muốn
quý thầy cô có thể sử dụng phương pháp dạy học trực quan một cách dễ dàng, hiệu
quả, chất lượng hơn và học sinh có thể tiếp thu bài học tốt hơn, có khả năng tự rèn
luyện và hoàn thiện bản thân qua các kiến thức đã học được.
Để hoàn thành tốt một đề tài và mang tính hiệu quả cao không phải là một
việc dễ dàng. Chính vì vậy, có thể sẽ còn những thiếu sót, tôi rất mong nhận được
những ý kiến trao đổi, góp ý, bổ sung của quý thầy cô để tôi có thêm những kinh
nghiệm quý báu và hoàn thiện hơn về phương pháp giảng dạy của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Cẩm Mỹ, Ngày 20 tháng 05 năm 2012
Giáo viên thực hiện
Lại Thị Ngọc Xuyến
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO