ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lớp Nghiệp Vụ Sư Phạm Giảng Viên
PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH
HỌC
Chủ đề 3: NHIỆM VỤ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH HỌC
Hướng dẫn: TS. Hồ Văn Liên
Thực hiện: Nhóm 3
1. Nguyễn Thị Huyền
6. Huỳnh Thị Kim Ngân
2. Trần Hoàng Ngâu
7. Nguyễn Thị Diễm Kiều
3. Nguyễn Mai Lan
8. Trần Thị Thu Hằng
4. Hà Nhật Huy
9. Nguyễn Minh Luân
5. Võ Văn Miết
10. Đinh Ngọc Long
TP. Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 05 năm 2014
1
Nguyễn Thị Huyền (Nhóm Trưởng)
Tích cực 1
2
Trần Hoàng Ngâu
Tích cực 2
3
Nguyễn Mai Lan (Nhóm phó)
Tích cực 1
4
Nguyễn Thị Diễm Kiều (Thư ký)
Tích cực 1
5
Huỳnh Thị Kim Ngân
Tích cực 1
2
MỤC LỤC
3
I. Giới thiệu
1. Giới hạn trình bày của tiểu luận
- Phần giới thiệu sẽ trình bày các khái niệm cơ bản về chương trình học, nhiệm vụ phát triển và
xây dựng chương trình học Chương trình học được nghiên cứu trong phạm vi chương trình giáo
dục bậc đại học.
- Nhiệm vụ xây dựng chương trình học tập trung vào phân tích các nhiệm vụ cần thực hiện để
xây dựng được một chương trình học phần ở cấp đại học.
- Đề cương chi tiết được xây dựng và trình bày cho một học phần ở cấp đại học.
2. Chương trình học là gì?
Là một trình tự dưới dạng văn bản của các kinh nghiệm học tập được tạo ra với mục đích phát
triển kiến thức cho các học viên. Việc thiết kế các chương trình giảng dạy là hướng trực tiếp đến
mục tiêu, qua đó, kinh nghiệm học tập có thể được hướng dẫn và kết quả học tập theo mong đợi
được đưa ra nhằm đảm bảo kiến thức của học viên được phát triển phù hợp với khóa học cụ thể
Theo từ điển Giáo dục học- NXB Từ điển bách khoa 2001, khái niệm chương trình đào tạo được
hiểu là : ‘Văn bản chính thức quy định mục đích, mục tiêu,yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ
năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa
các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ
sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo ‘
Theo Wentling ( 1993 ): “Chương trình đào tạo ( Program of Training) là một bản thiết kế
tổng thể cho một hoạt động đào tạo ( khoá đào tạo ) cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ
những gì có thể trông đợi ở ngưòi học sau khoá đào tạo, phác thảo ra quy trình cần thiết để thực
hiện nội dung đào tạo, các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra ,đánh giá kết quả học tập
dục đối với các môn học ở mỗi lớp , mỗi cấp học hay trình độ đào tạo”.
Tóm lại:
Chương trình môn học là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo. Bản thiết
kế đó cho ta biết mục tiêu, nội dung, phương pháp và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả
học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một tiến trình và thời gian biểu chặt chẽ.
Chương trình đào tạo thể hiện mục tiêu đào tạo của một ngành hoặc một vài ngành
(song ngành, ngành chính – phụ), quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội
dung, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi học
phần, ngành học, trình độ đào tạo người học sau khi học xong chương trình.
3. Xây dựng chương trình học cần thực hiện những nhiệm vụ nào?
Trước tiên chúng ta tìm hiểu về một khái niệm rộng hơn, là phát triển chương trình học và các
cách tiếp cận khi phát triển chương trình học, vì xây dựng chương trình học thực chất là một
phần được tách ra từ các nhiệm vụ phát triển chương trình học. Trong phần II, nhóm sẽ tập trung
đi sâu vào phân tích các nhiệm vụ để xây dựng chương trình học (tập trung ở bậc đại học) và xây
dựng một đề cương chi tiết cho một học phần cụ thể (ở bậc đại học).
a. Phát triển chương trình học:
Khái niệm phát triển: phát triển là quá trình biến đổi hoặc làm biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến
rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp.
Phát triển chương trình đào tạo được dùng khi chương trình đào tạo được coi là quá trình liên
tục, hoàn thiện và phát triển. Theo Colin J.Monsh và George Willis (bản dịch tiếng Việt 2005,
trang 166), sự thay đổi chương trình dạy học là thuật ngữ bao gồm một tập hợp khái niệm như sự
đổi mới sự phát triển, có sự ứng dụng. Sự thay đổi đó bao gồm những nội dung nằm trong và
nằm ngoài kế hoạch. Nó có thể là (Theo Fullan 1991):
−
Sự cơ cấu lại chương trình dạy học.
−
Việc sử dụng giáo trình mới.
- Đánh giá (evaluation).
Hơn nữa, quá trình này cần phải được hiểu như là một quá trình liên tục và khép kín, do đó 5
bước nêu trên không phải được sắp xếp thẳng hàng mà phải được xếp theo một vòng tròn
6
7
Cách sắp xếp trên cho thấy rõ đây là một quá trình liên tục để hoàn thiện và không ngừng phát
triển chương trình giáo dục, khâu nọ ảnh hưởng trực tiếp đến khâu kia, không thể tách rời từng
khâu riêng rẽ hoặc không xem xét đến tác động hữu cơ của các khâu khác. Chẳng hạn, khi bắt
đầu thiết kế một chương trình giáo dục cho một khóa học nào đó người ta thường phải đánh giá
chương trình giáo dục hiện hành (khâu đánh giá chương trình giáo dục), sau đó kết hợp với việc
phân tích tình hình cụ thể - các điều kiện dạy và học trong và ngoài trường, nhu cầu đào tạo của
người học và của xã hội… (khâu phân tích tình hình) để đưa ra mục tiêu đào tạo của khóa học.
Tiếp đến trên cơ sở của mục tiêu đào tạo mới xác định nội dung đào tạo, lựa chọn các phương
pháp giảng dạy, phương tiện hỗ trợ giảng dạy, phương pháp kiểm tra, thi thích hợp để đánh giá
kết quả học tập. Tiếp đến cần tiến hành thử nghiệm chương trình giáo dục ở qui mô nhỏ xem nó
có thực sự đạt yêu cầu hay cần phải điều chỉnh gì thêm nữa.Toàn bộ công đoạn trên được coi như
giai đoạn thiết kế chương trình giáo dục. Kết quả của giai đoạn thiết kế chương trình giáo dục sẽ
là một bản chương trình giáo dục cụ thể, nó cho biết mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương
pháp đào tạo, các điều kiện và phương tiện hỗ trợ đào tạo, phương pháp kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập cũng như việc phân phối thời gian đào tạo.
Sau khi thiết kế xong CTĐT có thể đưa nó vào thực thi (implementation), tiếp đến là khâu đánh
giá (evaluation). Tuy nhiên, việc đánh giá CTĐT không phải chỉ chờ đến giai đoạn cuối cùng này
mà cần được thực hiện trong mọi khâu. Chẳng hạn, ngay trong khi thực thi có thể chương trình
sẽ tự bộc lộ những nhược điểm của nó, hay qua ý kiến đóng góp của người học, người dạy có thể
biết phải hoàn thiện nó như thế nào. Sau đó khi khoá đào tạo kết thúc (thực thi xong một chu kỳ
lĩnh hội, với mục tiêu truyền thụ kiến thức cho người học, chương trình đào tạo được
thịnh hành vào những thiên niên kỷ trước, điển hình là các chương trình đào tạo của Liên
Xô trước đây. Các chương trình đào tạo này thường rất nhiều môn học với khối lượng
kiến thức khổng lồ, đa dạng.
•
Cách tiếp cận mục tiêu (goal) của chương trình đào tạo được phát triển vào những năm
60 của thế kỷ XX, khi mà khoa học, kỹ thuật và công nghệ có những thành tựu nhảy vọt,
nền kinh tế - xã hội đòi hỏi nguồn nhân lực đa dạng, xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa
ngày càng tác động sâu rộng. Cách tiếp cận này xây dựng chương trình căn cứ trên các
mục tiêu (đầu ra), thay đổi nhân cách người học để xây dựng chương trình; chú trọng kết
quả đạt được về nhận thức, kĩ năng, thái độ của người học sau khi kết thúc khóa họcCác
chương trình đào tạo theo cách tiếp cận này luôn phải trả lời câu hỏi: người học tốt
nghiệp sẽ làm được gì, cần trang bị cho họ kiến thức cần thiết nào cho phù hợp, trang bị
kỹ năng gì để hành nghề… thậm chí ngay mỗi môn học, mỗi tín chỉ cũng phải có mục
tiêu và quán triệt mục tiêu này trong việc lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp, giới
hạn kiến thức cốt lõi cho phù hợp. Vì thế chương trình đào tạo đã tiệm cận với nhu cầu xã
hội hơn, thực tế hơn;
•
Cách tiếp cận phát triển (development) của chương trình đào tạo kế thừa những thành
tựu, kinh nghiệm của các cách tiếp cận truyền thống, kết hợp với xu thế phát triển của
thời đại. Trong cách tiếp cận phát triển thì người học là chủ đạo, chú trọng phát triển con
người với mục tiêu khơi dậy tiềm năng, tính chủ động, tự học của người học; giáo viên
chỉ đóng vai trò là người cố vấn, hướng dẫn. Khi xây dựng các chương trình đào tạo theo
cách tiếp cận CDIO đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học, chuyên gia giáo
dục, cán bộ giảng dạy giàu kinh nghiệm, cán bộ trẻ được đào tạo ở nước ngoài đang tham
gia giảng dạy trong và ngoài trường với các nhà doanh nghiệp, đại diện cơ quan tổ chức
II. Phân tích các nhiệm vụ xây dựng chương trình học
1. Phân tích tình hình
Phân tích tình hình là bước nền tảng quan trọng để xác định mục tiêu chương trình học. Trọng
tâm của phân tích tình hình trước hết là phân tích nhu cầu, đặc biệt là nhu cầu trong tương lai khi
người học hoàn thành chương trình. Bên cạnh đó, phân tích tình hình cũng cần xác định rõ các
thuận lợi và khó khăn từ môi trường bên ngoài; cũng như điểm mạnh, điểm yếu từ bản thân môi
trường bên trong.
1.1 Phân tích nhu cầu
Các yêu cầu đào tạo là nhằm xác định kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người học sau khi học
cần có. Để người học sau khi hoàn thành chương trình có thể áp dụng vào thực tế đồng thời được
xã hội chấp nhận, việc phân tích nhu cầu, đặc biệt là nhu cầu tương lai cần đặc biệt được coi
trọng.
Các hoạt động cần thực hiện là:
-
Thiết lập nhóm đánh giá yêu cầu đào tạo
-
Chuẩn bị các bộ câu hỏi liên quan
10
-
Chỉnh sửa bộ câu hỏi
-
Khảo sát
2. Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo
dục gia đình và giáo dục xã hội.
Người học: Là những nhân tố trung tâm của chương trình học, nhu cầu của cả những người học
hiện tại và tương lai đều cần được đặc biệt quan tâm.
Người dạy: Là những người trực tiếp tham gia giảng dạy, học tập, nghiên cứu và có nhiều kinh
nghiệm trong lĩnh vực. Ý kiến của những người dạy cần được chú trọng.
11
Các chuyên gia: Việc dự báo nhu cầu xã hội trong tương lai, đặc biệt trong dài hạn là một thách
thức lớn mà không phải bất cứ ai cũng có thể thực hiện, do đó, việc tham khảo ý kiến của các
chuyên gia trong lĩnh vực nên được thực hiện.
1.2 Phân tích thuận lợi và khó khăn từ môi trường bên ngoài
Ta cần phân tích các tình hình sau:
-
Các chính sách phát triển của nhà nước, chủ trương của chính phủ về chương trình giáo
dục sắp tới
-
Sự phát triển khoa học công nghệ
-
….
1.3 Phân tích điểm mạnh và yếu từ môi trường bên trong
a) Phân tích môn học:
V
II
IV Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức
“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người
III
khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”
=> Đây là mục tiêu chung mà bất cứ một bậc học, cấp học, ngành học, khóa học, môn học nào
cũng cần phải hướng tới khi phát triển một chương trình học. Ngoài ra, Điều 5 Luật Giáo dục
2005 cũng qui định về nội dung và phương pháp giáo dục như sau:
“1. Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống;
coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc
văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa
tuổi của người học.
2. Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của
người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập
và ý chí vươn lên.”
=> Đây là nội dung được phát triển cụ thể hơn từ mục tiêu giáo dục, là phương hướng cho các
cơ sở đào tạo xây dựng và phát triển các chương trình đào tạo của mình.
- Mục tiêu trung gian của dạy học là sự cụ thể hóa mục tiêu dạy học chung vào các lĩnh vực khác
nhau của dạy học trong những thời gian nhất định như mục tiêu đào tạo của bậc học, cấp học,
ngành học, khóa học, môn học…
Theo Điều 5 Luật Giáo dục Đại học 2012 thì mục tiêu của giáo dục bậc đại học như sau
“1. Mục tiêu chung:
a) Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công
ở các trình độ biết, hiểu, vận dụng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của người học như thế nào.
Việc xác định mục tiêu học tập chuyên biệt là vô cùng quan trọng. Các mục tiêu học tập được
xác định rõ ràng là tiêu chuẩn để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên, giúp sinh viên
hiểu rõ họ cần học những gì và họ sẽ được đánh giá kết quả học tập như thế nào.
Mục tiêu học tập cũng sẽ dẫn dắt giảng viên trong các chiến lược đánh giá và chiến lược giảng
dạy. Các mục tiêu học tập định hướng cho toàn bộ hoạt động dạy học bao gồm việc tổ chức hoạt
14
động dạy học, lựa chọn và vận dụng phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học, qui
định mối quan hệ tương tác giữa hoạt động dạy và học.
2.5 Cách xác định mục tiêu dạy học
Mục tiêu dạy học cần được xác định dựa trên cơ sở phân tích tình hình, đặc biệt là phân tích nhu
cầu. Trong thực tế giảng dạy, thường xuyên xuất hiện sự thiếu nhất quán giữa các mong muốn
được lập ra trong chương trình học và những gì người dạy thực sự chuyển tải tới người học.
Nguyên nhân chính do không chọn lọc mục đích và mục tiêu học tập, không cụ thể hóa những gì
người dạy làm với người học, hoặc không xác định những gì người học có thể làm được sau khi
được dạy.
Giải pháp: Một trong những giải pháp hiện nay là tiến hành phân loại và xây dựng mục tiêu
dạy học dựa trên 3 nhóm mục tiêu chính: Kiến thức (nhận thức), Kĩ năng và Thái độ (tình
cảm).
Một số nguyên tắc khi xây dựng mục tiêu dạy học:
- Mục tiêu dạy học phải được xác định hướng về người học, trở thành mục tiêu học tập của
người học
- Mục tiêu dạy học phải được xác định đầy đủ về tri thức, kĩ năng và thái độ
- Mục tiêu dạy học phải được xác định ngắn gọn, rõ ràng, cụ thể, khả thi, nhất quán, quan
sát và đo lường được
- Biết hoàn thành công việc nào đó với những tiêu chí cụ thể như lập kế hoạch, tổ chức,
phát hiện, tra cứu, xử lí số liệu hay tình huống, nêu và giải quyết vấn đề, đo lường, đánh
giá, phê phán, nhận xét...
Để dễ dàng hơn trong việc phát triển mục tiêu dạy học, một số mô hình đã được nghiên cứu và
ứng dụng trên thế giới, cũng như ở VN. Các mô hình này giúp giáo viên xác định được mục tiêu
giảng dạy dễ dàng hơn cũng như sử dụng từ ngữ chính xác hơn. Phần tiếp theo, nhóm sẽ trình
bày một vài mô hình tiêu biểu hiện đang được sử dụng để xây dựng mục tiêu dạy học.
a. Mục tiêu về kiến thức:
Giáo viên có thể sử dụng mô hình Benjamin S.Bloom (1956) dưới đây để xây dựng các mục tiêu
về kiến thức
Loại hoạt
Định nghĩa
Các vị từ
động nhận
thức
Đánh giá
Phán đoán về giá trị của tư liệu hay
Chấp nhận, xác định phẩm chất, đánh giá,
phương pháp có thể áp dụng trong một
phân xử, quyết định, lựa chọn, kết luận,
hoàn cảnh cụ thể; phán đoán bằng cách
Phân loại, so sánh, đối chiếu, làm biểu đồ,
có thể tập trung vào việc làm rõ từng
phân biệt, mổ xẻ, làm nổi bật, minh họa,
bộ phận hay phân tích quan hệ giữa các
suy luận, phác thảo, chỉ ra, chọn lọc, chia
bộ phận, hay nhận thức về quy tắc tổ
cắt, sắp xếp
chức giữa các bộ phận
Ứng dụng
Thông hiểu
Dùng những khái niệm chung để giải
Vận dụng, tập hợp, xây dựng, chứng minh,
quyết vấn đề trong một hoàn cảnh nhất
khám phá, ví dụ minh họa, phỏng vấn, tận
định, dùng những tư liệu đã biết trong
Đối với các cấp học phổ thông, mục tiêu học tập chủ yếu gồm 3 cấp độ: nhận biết, thông hiểu và
ứng dụng. Các cấp độ còn lại (phân tích, tổng hợp, đánh giá) sẽ được áp dụng ở các cấp học cao
hơn như đại học, cao học. Vì lúc này mục tiêu giảng dạy bao gồm việc giúp phát triển tư duy phê
phán của người học đến cấp độ cao hơn (suy nghĩ độc lập, có khả năng tranh biện và bảo vệ quan
điểm…)
b. Mục tiêu về kĩ năng
Mô hình của Bloom cũng có thể sử dụng để xác lập các mục tiêu kĩ năng, đặc biệt khi kĩ năng
thực hành không sử dụng nhiều tới các vận động thể chất, ví dụ như kĩ năng lên kế hoạch, viết
báo cáo phân tích tổng hợp, thiết kế mô hình bảng biểu … thay vì thực hành vận động trực tiếp
như múa hát bơi lội đóng kịch xây dựng.
Trong trường hợp việc đào tạo yêu cầu nhiều về kĩ năng thực hành, việc sử dụng mô hình của
Anita J.Harrow (1972) có thể giúp xác định các mục tiêu liên quan và đo lường mức độ đạt mục
tiêu kĩ năng của người học
17
Các hoạt động phản Các hoạt động Các khả năng về Các khả năng Hoạt động kỹ
Hoạt động
xạ (1)
cơ bản (2)
giác quan (3)
Hoạt động không có Bắt đầu biết phối Biết tự điều
về thể chất (4) năng (5)
Phối hợp các Phối hợp tất cả
Thao tác (hoàn thành một kỹ năng nào đó theo chỉ dẫn
Chất lượng
không còn bắt chước máy móc).
Mức độ 3
Chuẩn hóa (lặp lại kỹ năng nào đó một cách chính
Chất lượng khá
xác, nhịp nhàng, đúng đắn, thường thực hiện một cách
độc lập, không phải hướng dẫn).
Mức độ 4
Phối hợp (kết hợp được nhiều kỹ năng theo thứ tự xác
Chất lượng cao
định một cách nhịp nhàng và ổn định).
Mức độ 5
Tự động hóa (hoàn thành một hay nhiều kỹ năng một
Chất lượng rất cao
cách dễ dàng và trở thành tự nhiên, không đòi hỏi sự
gắng sức về trí lực và thể lực).
các mối quan hệ thành một triết lý tổng thể của
phát triển sự cam quanh bài học và cuộc sống hoặc thế giới quan.
kết.
lớp học.
Thể hiện ở việc người học nắm
bắt được giá trị kiến thức và
biết áp dụng vào cuộc sống
Sau khi xác định được các mục tiêu môn học, giảng viên tiến hành thiết kế chương trình học.
3. Thiết kế chương trình
Chương trình học được thực hiện theo các môn học, phần học hoặc các mô đun với quỹ thời gian
và quy trình xác định toàn khoá nên cần lập kế hoạch dạy học trong đó xác định rõ các môn học,
phần học hoặc các hoạt động trong khuôn khổ của chương trình, trình tự các môn học và phân
phối thời gian chi tiết cho từng giai đoạn (lớp, học kỳ, năm học..)
Trong chương trình học cần nêu ra các yêu cầu về đối tượng, phạm vi thực hiện, các điều kiện tổ
chức triển khai thực hiện, phương pháp dạy học các nguồn lực bảo đảm về cơ sở vật chất, tài liệu
dạy-học, phương tiện, đội ngũ giáo viên. Đặc biệt hướng dẫn thực hiện chương trình cần nêu rõ
các yêu cầu về tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của ngưòi học trong toàn bộ quá trình
dạy-học và kết thúc quá trình dạy học (thi hoặc xét tốt nghiệp..)
Quy trình thiết kế một chương trình học thông thường sẽ đi theo các bước sau:
- Các trưởng bộ môn quản lý bộ môn, nghiên cứu kỹ hướng dẫn và các tài liệu liên quan,
thành lập các nhóm soạn thảo Chương trình cho từng bộ môn;
- Các nhóm tiến hành soạn thảo Chương trình học cho từng bộ môn;
- Với các bộ môn có nhiều ngành cùng học, cần hoàn chỉnh lại nội dung mô tả tóm tắt học
- Mục đích: để hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của bài học; xác định những KT,
KN, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở SV; xác định trình tự logic của bài học.
- Thực ra khâu khó nhất trong đọc giáo trình và các tư liệu là đúc kết được phạm vi, mức
độ KT, KN của từng bài học sao cho phù hợp với năng lực của SV và điều kiện dạy học.
Trong thực tế dạy học, nhiều khi chúng ta thường đi chưa tới hoặc đi quá những yêu cầu
cần đạt về KT, KN. Nếu nắm vững nội dung bài học, GVsẽ phác họa những nội dung và
trình tự nội dung của bài giảng phù hợp, thậm chí có thể cải tiến cách trình bày các mạch
KT, KN của GT, xây dựng một hệ thống câu hỏi, bài tập giúp SV nhận thức, khám phá,
vận dụng các KT, KN trong bài một cách thích hợp.
Bước 3: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của SV
- Bao gồm: xác định những KT, KN mà SV đã có và cần có; dự kiến những khó khăn,
những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết.
- Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới PPDH, GV không
những phải nắm vững nội dung bài học mà còn phải hiểu SV để lựa chọn PPDH, phương
tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học và đánh giá cho phù hợp. Như vậy, trước khi
soạn giáo án cho giờ học mới, GV phải lường trước các tình huống, các cách giải quyết
20
nhiệm vụ học tập của SV. Nói cách khác, tính khả thi của giáo án phụ thuộc vào trình độ,
năng lực học tập của SV, được xuất phát từ : những KT, KN mà SV đã có một cách chắc
chắn, vững bền; những KT, KN mà SV chưa có hoặc có thể quên; những khó khăn có thể
nảy sinh trong quá trình học tập của SV. Bước này chỉ là sự dự kiến; nhưng trong thực
tiễn, có nhiều giờ học do không dự kiến trước, GV đã lúng túng trước những ý kiến
không đồng nhất của SV với những biểu hiện rất đa dạng. Do vậy, dù mất công nhưng
mỗi GV nên dành thời gian để xem qua bài soạn của SV trước giờ học kết hợp với kiểm
- Phương tiện dạy học: liệt kê các thiết bị dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật, hoá chất...), các
phương tiện dạy học (máy chiếu, TV, đầu video, máy tính, máy projector...) và tài liệu dạy học
cần thiết sử dụng trong bài học. Hướng dẫn SV chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị
tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết).
- Tóm tắt nội dung học phần: tóm tắt lại các nội dung chính sẽ trình bày trong học phần.
- Mục tiêu học phần: nêu rõ yêu cầu SV cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ. Các mục tiêu
được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hoá được.
- Nội dung chi tiết trong học phần
- Kế hoạch giảng dạy: phân theo ngày học, tuần học hoặc theo chương. Ghi rõ số tiết dự kiến, tài
liệu cần thiết và cách tổ chức hoạt động dạy học
Trong phần trình bày cách tổ chức các hoạt động dạy học thì cần trình bày rõ cách thức triển khai
các hoạt động dạy- học cụ thể. Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ: tên hoạt động, mục tiêu của hoạt
động, cách tiến hành hoạt động, thời lượng để thực hiện hoạt động, kết luận của GV về: những
KT, KN, thái độ SV cần có sau hoạt động; những tình huống thực tiễn có thể vận dụng KT, KN,
thái độ đã học để giải quyết; những sai sót thường gặp; những hậu quả có thể xảy ra nếu không
có cách giải quyết phù hợp…
- Tài liệu tham khảo: giáo trình môn học, tài liệu tham khảo bên ngoài
- Đánh giá kết quả học tập: tùy môn học, thời gian cụ thể mà quyết định các hình thức đánh giá
kết quả. Một số hình thức phổ biến: đánh giá quá trình (trắc nghiệm kiến thức, kĩ năng vận
dụng), đánh giá chuyên cần, bài tập cá nhân, thảo luận nhóm, thi kết thúc học phần (bài trắc
nghiệm, bài viết luận, vấn đáp, đồ án…). Riêng về nội dung của “Thái độ” có thể không cần cho
mức độ đánh giá.
- Thông tin về giảng viên xây dựng đề cương: họ tên, học hàm học vị, đơn vị giảng dạy, các
thông tin liên lạc
- Phê duyệt: Đề ngày tháng năm soạn thảo. Đề cương một môn học phải có ít nhất 2 người soạn,
trình trưởng bộ môn và trưởng khoa ký duyệt.
•
Tùy theo cách thức tiếp cận xây dựng chương trình thì hình thức trình bày có thể khác
nhau, và nội dung yêu cầu trong bản thiết kế chương trình dạy học có thể nhiều hơn,
Nhìn chung, tuy công việc không cần trang bị quá nhiều kiến thức chuyên sâu về kinh tế kĩ thuật
nhưng lại cần phải nắm vững nhiều kĩ năng về sắp xếp quản lý công việc. Do đó, các nhân lực
quản trị văn phòng được đào tạo bài bản đang được các doanh nghiệp chào đón, nhất là đối với
doanh nghiệp nước ngoài, nơi công việc quản trị văn phòng được đánh giá cao về tính khoa học
và chuyên nghiệp.
1.1 Phân tích nhu cầu
Nhu cầu của người sử dụng lao động:
Ngành Quản trị văn phòng nằm trong top 100 các vị trí việc làm tốt nhất theo xếp hạng của tổ
chức U.S News Rankings (Hoa Kỳ, số liệu năm 2014). Tại Việt Nam, theo kết quả khảo sát của
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN), năm 2013, hơn 95% sinh viên tốt
nghiệp ngành Quản trị văn phòng đã có việc làm trong vòng 3 tháng sau khi tốt nghiệp. Đó là
minh chứng cho nhu cầu xã hội đối với nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh vực văn phòng trên
thế giới và ở Việt Nam.
23
PGS.TS Vũ Thị Phụng (Chủ nhiệm Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng, Trường
ĐHKHXH&NV) từng chia sẻ về nhu cầu của xã hội đối với ngành học còn mới mẻ này. Hiện
nay, nhu cầu nhân lực về ngành, nghề QTVP trên thị trường lao động ngày càng tăng cao vì
Văn phòng là khu vực hoặc bộ phận hiện hữu trong tất cả các cơ quan, doanh nghiệp, trong đó
khoảng 500 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động và thường xuyên có nhu cầu tuyển dụng nhân
lực về QTVP, bên cạnh đó còn nhiều văn phòng của cơ quan tổ chức xã hội, tổ chức phi chính
phủ.
Nhu cầu và cơ hội việc làm của ngành học này đã và sẽ tiếp tục tăng cao trong thời gian tới vì
đối với các cơ quan, doanh nghiệp nước ngoài, từ lâu QTVP đã được coi là một ngành khoa học
mang tính liên ngành và được đặc biệt coi trọng, áp dụng phổ biến trong lĩnh vực quản lý hành
chính, quản trị kinh doanh.
Mặc dù được triển khai đào tạo từ lâu, nhưng đến nay QTVP vẫn còn là một ngành học ít đư
được triển ởt đư được, nên số lượng sinh viên nhnên số hàng năm còn ít ỏi, số lượng ra trường va
sinh viên, đặc biệt là sinh viên nữ.
Hiện nay, với tình hình tìm việc dễ dàng so với các ngành khác, công việc và lương thưởng ổn
định thì số lượng người muốn theo học ngành này ngày càng cao. Sinh viên muốn có việc làm
trong lĩnh vực này sẽ mong đợi học được các kĩ năng cần thiết để phục vụ công việc hàng ngày,
giải quyết các tình huống phát sinh trong thực tế, cũng như thăng tiến trong ngành.
Ý kiến của người dạy về các nhu cầu đối với ngành học:
Giảng viên Ngô Chinh Đức, ĐHDL Phương Đông cho biết: "Có những việc máy móc làm được
nhưng để thay thế một cái đầu linh hoạt của một nhân viên quản trị văn phòng thì không thể. Tôi
tin chắc rằng, nghề này khó bị bão hòa".
Theo cô Liên Hương, Phó Chủ nhiệm khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng - ĐH Khoa học
xã hội và nhân văn Hà Nội thì: “Nhiều người nghĩ công việc đó hoàn toàn nghiêm túc quá so với
lứa tuổi. Những công văn, giấy tờ quan trọng… người ta dè dặt khi giao cho một người chưa
kinh nghiệm. Chính vì vậy, trường phải đứng ra trung gian, làm công tác bảo đảm. Dẫu vậy,
những công việc phức tạp, sinh viên vẫn thường chỉ được kiến tập”.
Từ ý kiến của các giảng viên và chuyên gia trong ngành, sinh viên khi ra trường nên được trang
bị đầy đủ các khối kiến thức sau để có thể hoàn thành tốt công việc:
Thứ nhất là khối kiến thức có tính lý luận nhằm trang bị cho người học những hiểu biết cơ bản về
Văn phòng và Quản trị văn phòng; về tổ chức và hoạt động của văn phòng trong các cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội và doanh nghiệp; về khoa học tổ chức, quản lý, điều hành; về năng lực,
phẩm chất của nhà quản trị và quản trị văn phòng; về tư duy và phương pháp thực thi các biện
pháp để giúp các cơ quan, doanh nghiệp trong việc: Quản trị hệ thống thông tin; Quản trị nhân
sự, cơ sở vật chất và tài chính trong văn phòng; Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu
chuẩn ISO...
Thứ hai là khối kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, nhằm giúp người học nắm vững và có khả
năng thực hiện đúng các quy trình, nghiệp vụ công việc trong văn phòng như: Nghiệp vụ hành
chính văn phòng; Nghiệp vụ tổ chức công việc văn phòng; Nghiệp vụ tham mưu, tổng hợp;
Nghiệp vụ văn thư - lưu trữ; Nghiệp vụ thư ký, lễ tân văn phòng; Quản lý cơ sở vật chất; Xây
dựng văn hóa công sở, văn hóa doanh nghiệp...Nếu nắm chắc khối kiến thức này, người học sẽ
có đủ năng lực để đảm nhận nhiều vị trí trong văn phòng các cơ quan, tổ chức, và doanh nghiệp.