Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên
MỤC LỤC
……………………………………… ………………..110
Lời Cảm Ơn
Sau hơn ba tháng nỗ lực thực hiện luận văn “Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
qua thực tiễn tại tỉnh Thái Nguyên” đã hoàn thành ngoài sự cố gắng hết mình của
bản thân, tôi còn nhận được sự động viên, giúp đỡ từ phái nhà trường, thầy cô, gia
đình, bạn bè, các cơ quan chức năng có liên quan của tỉnh Thái Nguyên.
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn tới bố mẹ, gia đình đã tạo điều kiện thuận
lợi,động viên để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô khoa Luật trường Đại Học Quốc Gia Hà
Nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập.Tôi
xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo khoa Luật – chuyên ngày quốc tế, đã tạo điều
kiện để tối được làm và trình bầy bài luận văn này. Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn
chân thành sâu sắc tới TS. Nguyễn Lan Nguyên người đã tận tình hưỡng dẫn tôi
trong suốt quá trình làm luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các ban, ngành, sở kế hoạch đầu tư, UBND, HĐND…
tỉnh Thái Nguyên, cơ quan đã giúp đỡ và cung cấp để tôi có được những số liệu cập
nhật và xắc thức nhất để bài luận văn của tôi được hoàn thành.
Cao Thị Thanh Huyền – K53 chuyên ngành quốc tế
1
Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên
Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên
Xuất phát từ nhận thức rõ vài trò quan trọng của pháp luật trong đầu tư nước
ngoài nói riêng, và trong đời sống kinh tế - xã hội nói chung, tôi đã nghiên cứu đề
tài của mình trong tổng quan các chính sách chung, kết hợp với những chính sách
linh hoạt, chủ động của tỉnh Thái Nguyên, nhằm đưa pháp luật trở nên phù hợp
hơn với tỉnh nhà. Từ đó đưa ra những số liệu, bình luận về tình hình của tỉnh Thái
Nguyên trong những năm gần đây, để thấy được sự đúng đắn trong đổi mới pháp
luật Việt Nam. Tôi còn có những đề xuất nhằm hoàn thiện hơn nữa khung pháp lý
hiện hành. Tuy nhiên, trong thời gian có hạn và nhận thức của một sinh viên năm
cuối tôi không thể không có những yếu kém trong nhận thức, trình bầy luận văn.
Tôi rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét của quý thầy, cô và các bạn để bài làm
của mình được hoàn thiện hơn.
Bảng từ viết tắt trong bài luận văn.
Chủ nghĩa xã hội
Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân
Giấy chứng nhận đầu tư
Khu công nghiệp
Giải phóng mặt bằng
CNXH
HĐND
UBND
GCNĐT
KCN
Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên
Thế giới đang đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu mà không một
quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết được nếu không có sự
hợp tác đa phương. Những nét mới ấy trong tình hình thế giới và
khu vực tác động mạnh mẽ đến tình hình phát triển kinh tế và xã
hội ở nước ta.
Thực hiện quan điểm đổi mới của Đại hội Đáng lần thứ
Vl(1986), nền kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển rõ rệt,
chúng tạ đang từng bước hội nhập vào nền kinh tê khu vực và thế
giới. Tham gia tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông nam Á
(ASEAN) năm 1995, với các chương trình hợp tác cụ thể như:
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA); tham gia Hiệp định
khung về khu vực đầu tư ASEAN(AIA)-một trong những bước đi
quan trọng nhất để hội nhập kinh tế vào ASEAN, Việt Nam đã và
đang thu được những thành tựu về kinh tế. Cùng với việc tham
gia Diễn đàn hợp tác Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm
1998; đã trở thành thành viên Tổ chức thương mại thế giới WTO,
Việt nam có những cơ hội lớn và cũng đầy thách thức lớn trước
mắt. Tận dụng những cơ hội, vượt qua những thách thức sẽ giúp
Việt Nam hòi nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và quốc tế,
rút ngắn khoáng cách về kinh tế giữa Việt Nam và các nước trong
khu vực cũng như trên thế giới.
Để làm được điều đó, trước hết Việt Nam phái tạo được một
môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn nhằm thu hút đầu tư nước
ngoài, trong đó môi trường pháp lý là quan trọng. Thông qua đầu
tư nước ngoài, chúng ta học hỏi được kinh nghiệm quản lý, tiếp
các hoạt động đầu tư cụ thể tại địa phương. Nhìn nhận từ góc độ
này, có thể thấy các vấn đề pháp lý trình bầy trong luận văn được
xem là những tiền đề cho hoạt động đầu tư của địa phương. Từ
đánh giá thực tiễn nhằm làm sang tỏ những vấn đề:
Thứ nhất: Minh chứng, so sánh, phân tích để làm rõ các yếu tố
chính trị-kinh tế, pháp lý mang tính tiền đề cho sự ra đời tồn tại,
phát triển các chế định cơ bản của pháp luật đầu tư. Thực trạng
pháp triển kinh tế của tỉnh Thái Nguyên một tỉnh kinh tế trọng
điểm của vùng Đông Bắc. Cả hai vấn đề này được đánh giá và
phân tích trong tương quan song hành và tương trợ lẫn nhau.
Thứ hai: Từ những kiến thức và thông tin có được về tình hình
phát triển kinh tế đất nước và kinh tế tỉnh Thái Nguyên để đi tới
nhứng phân tích, đánh giá về các chính sách, chiến lược việc áp
dụng pháp luật đầu tư trong cả nước nói chung và trong thực tiễn
của tỉnh Thái Nguyên nói riêng.
Thứ Ba: Trong phạm vi kiến thức của bản thân và những gì đã
được trang bị tại trường đại học, mong muốn có thể có những
phân tích, đánh giá, đề xuất, kiến nghị… Nhằm góp hoàn thiện
khung pháp luật đầu tư nói riêng, hệ thống pháp luật Việt Nam
nói chung.
Là một sinh viên sắp ra trường tôi mong muốn công trình
nghiên cứu này của mình sẽ có nhiều đóng góp cho quá trình hoàn
thiện pháp luật trên cơ sở phân tích được tính thực tiễn ĐTNN tại
tỉnh Thái Nguyên.
Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu.
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật đầu tư nước ngoài
tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập qua thực tiến tại tỉnh Thái
Nguyên nhằm làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiến về vấn đề
đầu tư nói chung và đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên nói riêng dựa
trên các nền tảng chính sách và pháp luật đã ban hành.
Luận văn được trình bày trên cơ sở nguyên tác và phương pháp
luân của Chủ nghĩa Mác - Lênin, sử dụng phượng pháp duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử để giải quyết các vấn đề luận văn đặt
ra.
Luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thế sau: Phương
pháp hệ thống, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh và
phân tích, sơ đồ hoá.
Cơ cấu của đề tài.
Ngoài phẩn mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham kháo,
luận văn gồm có ba chương sau:
Chương 1 Pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và tầm ảnh
hưởng thời kỳ hội nhập kinh tế.
Chương 2 Thực trạng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong
thời kì kinh tế mở cửa qua thực tiễn tại tỉnh Thái Nguyên.
Chương 3 Đánh giá và đề xuất nhằm hoàn thiện khung pháp
luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và cụ thể tại tỉnh Thái
Nguyên.
Cao Thị Thanh Huyền – K53 chuyên ngành quốc tế
7
Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên
CHƯƠNG 1
PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.
I.
những khoản chi tiêu này không dự định dùng cho tiêu dùng trung
gian. Các dự án đầu tư có thể có dạng bổ xung vào tài sản vật
chất và vốn nhân lực (tài sản con người) cũng như hàng hóa tồn
kho. [39,1] 1
Từ khái niệm đầu tư nêu trên cho thấy nội hàm của khải niệm
rất rộng, bao gồm cả đầu tư vào tài sản vật chất và nhân lực.
Từ phương diện kinh tế học vĩ mô, đầu tư chỉ việc gia tăng tư
bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai.
Theo quan điểm cùa PGS.TS. Nguyễn Bạch Nguyệt thì “ Đầu tư
là quả trình sứ dụng cảc nguồn lực ở hiện tại để tìển hành các
hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được các mục
tiêu nhất định trong tương lai. [38,2] 2 Các nguồn lực được sử
dụng có thề là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và
trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật
chất, tài sàn tài chính hoặc tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có
đủ điều làm việc vởi năng suất cao hơn cho nền kỉnh tế và cho
toàn bộ xã hội”.
Dưới góc độ tài chính thì đầu tư là một chuỗi hoạt động chi
tiêu để chủ đầu tư nhận về một chuỗi các dòng thu.
Dưới góc độ tiêu dùng thì đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện
tại để thu được mức tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai.
Về phương diện pháp lý , nhà lập pháp coi các lợi ỉch kinh tế
mà hoạt động đầu tư hướng đến là đương nhiên, không cần phải
nhắc đến. Tuy nhiên việc đạt được các lợi ích đó không thể bằng
mọi cách mà phải được kiểm soát và thực hiện theo một trình tự
pháp lý nhất định. Khoản 1 - Điều 3 - Luật Đầu tư 2005 nhìn nhận
1 David W. Pearce (2001), Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB Chính trị quốc gia “các khái niệm cơ bản”
2 PGS.TS. Nguyễn Bạch Nguyệt (2008), Giáo trình Lập dự án đầu tư, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội
Cao Thị Thanh Huyền – K53 chuyên ngành quốc tế
kinh tế và đẩy mạnh đời sống xã hội. Song hoạt động đầu
tư cũng vô cùng phức tạp, cần tới những mô hình lập
pháp tiến bộ để điều phối và đưa họat động đầu tư vào
đúng quỹ đạo phát triển của nó.
Khái niệm pháp luật đầu tư.
Pháp luật đầu tư là một bộ phận quan trọng, không thể tách rời
của pháp luật kinh tế. Nó được hiểu là tổng hợp các quy phạm
pháp luật điều chỉnh các hoạt động đầu tư nhà đầu tư tại Việt
Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài (Trong luận văn chỉ đề cập
đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam).
Pháp luật về đầu tư không điều chỉnh các vấn đề thuộc phạm vi
điều chỉnh của mình thông qua một đạo luật duy nhất mà nó nằm
rải rác ở nhiều đạo luật khác nhau, tạo nên một cơ chế điều chỉnh
toàn diện. Các điều chỉnh pháp lý về đầu tư được thể hiện trong
một số văn bản quan trọng như: Hiến pháp 1992, Luật đầu tư
2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành, các luật chuyên ngành
(Luật chứng khoán sửa đổi 2010, Luật xây dựng 2003, Luật đất
đai 2001, Luật tài nguyên môi trường 2005, Luật đấu thầu
Cao Thị Thanh Huyền – K53 chuyên ngành quốc tế
10
Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên
2005...) [28.29.30.31.32,3] 3 . Việc điều chỉnh các hoạt động, hành
vi đầu tư về cơ bản được Luật đầu tư và các văn bản hướng dẫn
thi hành đảm nhận. Tuy nhiên khi các hoạt động đó có liên quan
hiện tự do hóa và thuận lợi hóa thương mai. đầu tư.
Trên thế giới có rất nhiều tài liệu viết về khái niệm hội nhập
kinh tế quốc tế. Nhiểu người cho rằng Hội nhập kinh tế quốc tế là
quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư.
Như vậy, có thể hiểu hội nhập kinh tế quốc tê là việc các nước
(có thể là một khu vực ví dụ: ASEAN, có thể là hai nước, có thế
là một nước với một nhóm các nước, ví dụ: Việt Nam – EU, hoặc
toàn thế giới) đi tìm kiếm một số điều kiện nào đó mà họ có thể
3 Các Luật liên quan tới vấn đề đầu tư: Luật chứng khoán sửa đổi 2010, Luật xây dựng 2003, Luật đất đai 2001, Luật tài
nguyên môi trường 2005, Luật đấu thầu 2005
Cao Thị Thanh Huyền – K53 chuyên ngành quốc tế
11
Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên
thống nhất được với nhau kể cả dành cho nhau những ưu đãi, tạo
ra những điều kiện công bằng, có đi có lại trong quan hệ hợp tác
với nhau nhằm khai thác trên cơ sở đổi bên cùng có lợi.
Hội nhập kinh tế quốc tế, tạo nên sự liên kết giữa các nền kinh
tế quốc tế, đẩy tới mức độ chuyên sâu của phân công lao động
quốc tế: từ phân công theo sản phẩm chuyển dần sang phân công
theo chi tiết của sản phẩm. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế làm
xuất hiện quá trình tự do di trú, tự do di chuyển sức lao động giữa
các quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc tế và đặc biệt là tự do
lưu chuyển tư bản.
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể diễn ra dưới những hình thức
như: các Hiệp định kinh tế, thương mại song phương (Hiệp định
pháp nói chung và xây dựng pháp luật về đầu tư nói riêng chịu
ảnh hưởng sâu sắc của các quan hệ kinh tế trong bối cảnh xây
dựng nền kinh tế thị trường. Các quan hệ thị trường được thể hiện
Cao Thị Thanh Huyền – K53 chuyên ngành quốc tế
12
Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên
một cách gián tiếp qua các nội dung điều chỉnh của pháp luật về
đầu tư manh nha là từ Điều lệ đầu tư nước ngoài ban hành kèm
theo Nghị định 115/CP ngày 18/4/1977, sau đó là Luật Đầu tư
nước ngoài 1988 (được sửa đổi, bổ sung và các năm 1990, 1993,
1996 và 2000) tiếp đến là Luật khuyến khích đầu tư trong nước
1994 (được sửa đổi vào năm 1998), và hiện này là Luật đầu tư
2005. Bên cạnh đó là hàng loạt các Luật chuyên ngành điều chỉnh
các nội dung liên qua đến đầu tư như đã trình bày ở phần trên.
Điều này cho thấy một cục diện của Việt Nam ngày nay, với
những ảnh hưởng sâu sắc về kinh tế trong thời kỳ hội nhập. Nhằm
bắt kịp với thời đại và đẩy mạnh kinh tế quốc gia, nước ta đã ban
hành hàng loạt các văn bản Luật, dưới Luật… vào điều tiết kinh
tế, tạo khung pháp lý vững chắc và thông thoáng cho hoạt động
đầu tư nói riêng và pháp triển kinh tế nói chung. Điều dễ nhận
thấy trong các quy phạm pháp luật này là đều đang tập trung
chứng minh rằng: Nền kinh tế của chúng ta đang rất mong đợi sự
chảy vào của các nguồn FDI, những bàn tay dựng xây của bà con
Việt kiều, đang ngóng trông sự trỗi dậy và phát triển của các
doanh nghiệp dân doanh thông qua việc đầu tư nhiều hơn, tập
Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên
bất cập trong khâu lập pháp, điều đáng nhìn nhận ở đây là những
thay đổi vượt bậc để đưa nền kinh tế thuần nông trước đây thành
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Song có lẽ kinh tế Việt
Nam sẽ cần hơn nữa sự bồi đắp hoàn thiện những khiếm khuyết,
hoàn thiện và tối ưu hóa, chuyên nghiệp hóa bộ máy công quyền
về quản lý đầu tư thông qua việc tập hợp, rà soát và phát điển hóa
các quy phạm pháp luật về đầu tư.
2.
Cơ sở chính trị - pháp lý của pháp luật đầu tư Việt Nam.
Pháp luật là sự phản ánh các quy luật kinh tế và thực trạng
kinh tế xã hội của chúng ta trong giai đoạn hiện nay với những
đặc điểm dễ có thể nhận ra. Tuy nhiên, nếu chỉ nói đến sự ảnh
hưởng đó không thôi thì thực sự là một thiếu sót vì ngoài việc bị
quy định bời các yếu tố kinh tế, pháp luật nói chung và pháp luật
đầu tư nói riêng còn mang trong mình những đặc trưng, những
khởi nguồn chính trị - pháp lý. Ảnh hưởng của yếu tố chính tri,
pháp lý được đề cập ở đây là sự ảnh hưởng của các văn kiện, chủ
trương, đường lối, chính sách mang tính “ tiên phong” của Đảng
làm tiền đề vật chất cho sự ra đời và đâm chồi vào đời sống kinh
tế - xã hội của các đạo luật, các học thuyết pháp lý, các tư tưởng
lập pháp, các đạo luật được du nhập. Việc xây dựng ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật có thể chịu ảnh hưởng ở những mức
độ khác nhau tùy vào bối cảnh “ khai sinh” của nó. Tuy nhiên, sự
ảnh hưởng đó là một thực tế rất khách quan, không thể phủ nhận.
Trước hết, chúng ta cần xem xét đến hệ thống các văn kiện của
chức và phương thức hoạt động của thương nghiệp, tài chính,
ngân hàng...
Tẩt cả những việc cải tiến này phải được tiến hành đồng bộ và
phải nhằm phục vụ sản xuất. Tiếp đó, văn kiện này cũng nhấn
mạnh: “Trong khi dựa vào sức mình là chính để phát huy tới mức
cao nhất năng lực sản xuất hiện có, chúng ta ra sức tăng cường
quan hệ kinh tế với các nước Xã hội chủ nghĩa anh em và với các
nước khác”. Như vậy có thể nhận thấy rằng mặc dù còn chưa thực
sự mạnh dạn trong việc khẳng định phải thúc đẩy đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn này như một sự cần thiết
khách quan của một nền kinh tế lạc hậu thuần nông muốn vươn
lên, như một “cú hích” từ ngoại lực bên ngoài để vực dậy nền
kinh tế vốn đã bị chiến tranh giày xéo làm cho ốm yếu, nhưng
tinh thần của bản “ Phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu
của kế hoach 5 năm 1976 - 1980 ” đã thể hiện sự cần thiết phải có
sự đổi thay từ bên trong thiết chế thông qua việc “ cải tiến chính
sách đầu tư” và tăng cường hơn nữa các quan hệ kinh tế với nước
ngoài để tăng cường đầu tư cho sản xuất hàng hóa, cung ứng các
dịch vụ công.
Mặc dù bản Điều lệ nói trên không phát huy được đáng kể giá
trị điều chỉnh của nó trong thực tế đời sổng kinh tế tại thời điểm
đó, tuy nhiên sự ra đời của nó là một bước ngoặt quan trọng làm
tiền đề cho sự pháp điển hóa hàng loạt các văn bản pháp luật về
đầu tư sau này.
Tiếp theo tinh thần của các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IV, Đại hội Đảng V tiếp tục khẳng định sự cần thiết phải
tạo ra một khung pháp lý về đầu tư, cụ thể là tại “ Phương hướng,
nhiệm vụ và những mục tiêu chủ yếu về kinh tế và xã hội trong 5
năm (1981 - 1985) và những năm 80 ”.
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại
Bước vào thập kỷ 1980, nước ta lâm vào tình trạng khủng
hoảng kinh tế trầm trọng, cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao
cấp đã cản trờ sự phát triển của nền kinh tế. Rất nhiều các đơn vị
kinh tế sản xuất cầm chừng, thậm chí đóng cửa hoặc giải thể, đổ
vỡ tín dụng liên tiếp xảy ra ở nhiều nơi gây ảnh hưởng rất xấu tới
tình hình kinh tế xã hội. Trong khi đó, hàng loạt các ngành có ưu
thế như: công nghiệp chế biến, công nghiệp tiêu dùng, gia công
lắp ráp... lại không được Nhà nước quan tâm đúng mức, cơ sở kỹ
thuật lạc hậu và tất cả đều ở trong tình trạng thiểu vốn trầm
trọng. Năm 1986 lạm phát lên tới trên 700%.
Đứng trước bối cảnh đất nước như vậy, Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI đã đề ra những chính sách hết sức đúng đắn, đánh dấu
bước chuyển biến quan trọng, đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi
khủng hoảng, mở ra công cuộc " đổi mới" toàn diện trên mọi mặt
của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế. Cụ
thể hoá đường lối chỉ đạo của Đảng là mở rộng giao lưu quốc tế
để thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm phát triển kinh tế đất
nước. Do vậy, thực hiện Nghị quyết số 19 của Bộ Chính ữị ngày
17/7/1984 và Nghị quyết Hội Nghị Ban Chấp hành Trung ương
lần thứ 7 (khoá V) ngày 20/12/1984 về việc bổ sung và hoàn thiện
Điều lệ đầu tư đã ban hành năm 1977, tiến tới xây dựng một bộ
Luật Đầu tư hoàn chỉnh, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá 8 đã
thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (Sau đây gọi là
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1988). Có thể nói sự ra đời của Luật
Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1988 xuất phát từ những yêu
cầu khách quan của sự vận động xã hội, nó đã tạo ra được một
môi trường pháp lý cao hơn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam.
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1988 được soạn thảo dựa trên nội
dung cơ bản của Điều lệ đầu tư năm 1977, xuất phát từ thực tiễn
(được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1988 và 2000). Kể từ thời
điểm này các hoạt động đầu tư trong nước được khoác lên mình
một chiếc áo pháp lý mới để có thể đứng cạnh các hoạt động đầu
tư nước ngoài vốn đã nhận được nhiều ưu ái về điều chỉnh pháp
lý. Cho đến thời điểm này, pháp luật đầu tư điều chỉnh hai lĩnh
vực song song là đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước. Trong
“Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010 ”, Đảng ta cũng
đã thừa nhận yêu kém đó là: môi trường đầu tư, kinh doanh còn
nhiều vướng mắc, chưa tạo điều kiện và hỗ trợ tốt cho các thành
phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh.
Đảng và nhà nước ta đã nhận thức rõ về nhu cầu khách quan
hiện nay là việc cần hình thành một cơ chế đầu tư mới bình đẳng
và công bằng hơn khuyến khích đầu tư, nhằm phát triển kinh tế
trong nước vốn đang rất cần vốn. Đây chính là yếu tố chính trị
quan trọng khiến Đảng ta đi tới việc hợp nhất luật đầu tư nước
ngoài và luật khuyến khích đầu tư trong nước thành một bộ luật
thống nhất Luật đầu tư 2005. Kể từ thời gian này các vấn đề về
đầu tư mới được điều chỉnh bằng một bộ luật chung và thống
nhất. Bằng bước phát triển này, thì môi trường đầu tư cũng được
mở rộng hơn, các vấn đề về đầu tư được cụ thể hóa, bình đẳng
trong mặt chính sách, tạo cơ hội cho nhà đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam.
Cơ sở kinh tế hay cơ sở pháp lý trên đây đều cho thấy sự ảnh
Cao Thị Thanh Huyền – K53 chuyên ngành quốc tế
17
Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên
khác biệt so với hiện nay. Văn bản có tính pháp quy đầu tiên về
đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đã được ban hành. Đó là " Điều
lệ đầu tư nước ngoài ở nước CHXHCNVN " được ban hành kèm
theo Nghị định số I 15/HĐCP ngày 18/04/1977 của Hội đổng
chính phủ. Mặc dù được ban hành nhưng thực tế trong khoáng
thời gian gần 10 năm, bán Điều lệ này đã bị " lãng quên" do tính
bất câp cá về mặt chủ quan và khách quan của nó.
Ở thời điểm đó, nền kinh tế nước ta vần đang áp đụng cơ chế
quản lý ở dạng tập trung, quan liêu, bao cấp và cơ cấu nền kinh tế
chí dựa trên hai hình thức sở hữu chính là sở hữu Nhà nước và sở
hữu tập thể. Do vậy không thể tồn tại một môi trường kinh doanh,
môi trường pháp ]ý, thị trường vốn... cho các hoạt động của nền
kinh tế thị trường. Bên cạnh đó về phương diện chính trị, nước ta
lúc đó đang nằm trong khối xã hội chủ nghĩa bị Mỹ tiến hành bao
vây cấm vận, chúng ta chưa có mối quan hệ tốt đẹp với các nước
ASEAN và các nước ngoài khối XHCN khác.
Cao Thị Thanh Huyền – K53 chuyên ngành quốc tế
18
Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên
Thuế, thuế suất lợi tức đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài được quy định từ 30-50%. Nghị định số I 15/CP tuy
chưa phải là văn bản có hiệu lực cao nhất trong hệ thống pháp
luật Việt Nam nhưng nó đã thể hiện phần nào thái độ của Nhà
nước Việt Nam mong muốn có sự đầu tư của các nhà đầu tư nước
ngoài và là một văn bán chứa đựng nhưng quy định mang tính thử
nghiệm táo bạo ở thời điểm đó. Mặc dù Nghị định số 115/CP
Qui định ba hình thức đẩu tư: 1 Hợp đồng hợp tác kinh
doanh.
Lập xí nghiệp Liên doanh , Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Nhà nước cam kết báo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư
nước ngoài.
Quy định các biện pháp khuyến khích đầu tư như:
+ Áp dụng mức thuế lợi tức ưu đãi với các dự án đầu tư.
+ Miễn, giảm thuế đối với các dự án đặc biệt khuyến khích đầu
Cao Thị Thanh Huyền – K53 chuyên ngành quốc tế
19
Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên
tư nước ngoài.
- Hoàn trà thuế lợi tức đối với phần lợi nhuận tái đầu tư.
+ Miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị…
+ Miễn thuê nhập khâu đối với băng phát minh, sáng chế. Bí
quyết kỹ thuật, qui trình công nghệ do bên nước ngoài góp vốn.
Luật đầu tư nước ngoài ở nước ngoài Việt Nam năm 1987 đã
thể hiện được tính khách quan của thời kì mới đổi mới, tạo điều
kiện mới cho hoạt động đầu tư. Sau đó luật đầu tư nước ngoài
1987 còn được bổ sung sau hai năm thực hiện thêm nhiều điểm
tích cực mới như:
Cho phép tổ chức kinh tế tư nhân Việt Nam được trực tiếp
hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài;
Mở ra hình thức hơp tác kinh doanh nhiều bên và liên
doanh nhiều bên;
Quy định vốn liên doanh mới.
Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên
ngoài tại Việt Nam hoàn chỉnh hơn.
Ngày 12/11/1996 [25,4] 4 Quốc Hội đã thông qua Luật đầu
nước ngoài tại Việt Nam, thay thế cho Luật Đầu tư nước ngoài
Việt Nam năm 1987 và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật đầu tư ở nước ngoài tại Việt Nam được ban hành vào các
năm 1990, 1992 [25,5] 5 .
Luật đầu tư nước ngoài tại viêt Nam năm 1996 bao gồm 6
chương, 68 điểu, bao gồm nhiều qui định bao trùm liên quan và
chi phối hoạt động đầu tư tiếp nước ngoài tại Viêt Nam, cụ thể:
Những vấn đề định hướng, quan điếm và chính sách thu hút
vốn đầu tư nước ngoài.
Những vấn đề về hình thức đầu tư.
Những vấn đề quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài, cúa nhà đấu tư nước ngoài.
Những vấn đề về tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp có vốn
đâu trực tiếp nước ngoài.
Những vấn đề vể quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
So với Luật đầu tư 1987 và các Luật sửa đổi, bổ sung năm
1990. 1992 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 trước
hết đã kế thừa, thống nhất toàn bộ ba luật trên, tạo ra một khung
pháp lý hoàn chỉnh hơn theo hướng tăng cường hơn nữa các biện
pháp ưu đãi và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm
hoàn thiện hành lang pháp lý. Cải thiện môi trường đầu tư để thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với số lượng và chất lượng
cao hơn. Luật đầu từ năm 1996 là bước phát triển tiếp theo của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Về cân đối ngoại tệ và mở tài khoản (Điều 33,35)
Về việc thế chấp quyền sử dụng đất và đền bù, giải
bằng (Điều 46)
Về nguyên tắc không hồi tố (Điều 21)
Về cam kết bảo đảm, bảo lãnh của Chính phủ và áp
nước ngoài ( Điều 66)
khó khăn,
doanh của
phóng mặt
dụng Luật
Nhóm vấn đề thứ hai : Mở rộng quyền tự chủ trong tổ chức quản
lý, kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; xoá
bỏ sự can thiệp không cần thiết của cơ quan Nhà nước vào hoạt
động bình thường của doanh nghiệp.
Nguyên tắc nhất trí (Điều 14)
Về việc chuyển đổi hình thức đầu tư và tổ chức lại doanh
nghiệp (Điều 19a).
cách linh hoạt theo những nguyên tắc của Luật doanh nghiệp
hiện hành và thông lệ quốc tế.
Quyền chuyển nhượng vốn (Điều 34).
Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài và Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Điều 52).
Thanh lý, phá sản doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(Điều 53).
Quy định về thành lập các quỹ của doanh nghiệp (Điều 41).
vướng mắc về thuế GTGT; đưa ra các nguyên tắc không hồi tố, áp
dụng pháp luật nước ngoài, bảo đảm, bảo lãnh đầu tư..., Luật Đầu
tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 cũng đã tạo điều kiện xích gần
hơn giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài và tạo thế chủ
động trong tiến trình hội nhập và đảm bảo các cam kết quốc tế.
•
Luật đầu tư năm 2005
Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp
lý, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư, tạo " một
sân chơi" bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư;
đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và
sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt
động đầu tư. Năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư và có
hiệu lực từ 1/7/2006, Luật Đầu tư 2005 thay thế Luật Đầu tư nước
ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Tiếp đó, Chính
phủ đã ban hành NĐ 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định
chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Đầu tư (Nghị định
108).
Khác cơ bản với Luật Đầu tư nước ngoài trước đây, Luật Đầu
tư năm 2005 được thiết kế theo hướng chỉ quy định các nội dung
liên quan đến hoạt động đầu tư, còn các nội dung liên quan đến
cơ cấu tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp thì chuyển sang
Luật Doanh nghiệp điều chỉnh, các mức ưu đãi về thuế chuyển
sang quy định tại các văn bản pháp luật về thuế và các nội dung
mang tính chất đặc thù thì dẫn chiếu sang pháp luật chuyên
nghành điều chỉnh.
Về giải thích từ ngữ: Nghị định 108 đã bổ sung các thuật ngữ
“dự án đầu tư mới”, “dự án đầu tư mở rộng ” để nhà đầu tư biết rõ
trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư của mình mà có liên
quan đến ưu đãi đầu tư [11,6] 6 .
•
Về hình thức đầu tư:
So với Luật Đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư
trong nước trước đây thì pháp luật đầu tư 2005 quy định rõ hơn
về những hình thức đầu tư như: Thành lập tổ chức kinh tế 100%
vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư
nước ngoài;
Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong
nước và nhà đầu tư nước ngoài; Đầu tư theo hình thức hợp đồng
BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT; Đầu tư phát
triển kinh doanh; Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý
hoạt động đầu tư; và Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại
doanh nghiệp. Nhà đầu tư được đầu tư để thành lập tổ chức kinh
tế bằng 100% vốn của mình, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước
ngoài đã thành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau và/hoặc
6 Nghị định 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ “V/v quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư”
Cao Thị Thanh Huyền – K53 chuyên ngành quốc tế
24
Luận Văn Tốt Nghiệp
Đề Tài: Pháp Luật Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Qua Thực Tiễn Tỉnh Thái Nguyên
nhà đầu tư, Nghị định có quy định về chuyển đổi hình thức đầu tư
của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo đó, nhà đầu tư
nước ngoài trong quá trình hoạt động của mình được tự do chuyển
đổi giữa các hình thức đầu tư để phù hợp với tình hình sản xuất
kinh doanh mà không bị cấm hoặc hạn chế.
•
Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư:
Pháp luật đầu tư 2005 đã cụ thể hóa những nội dung về quyền
và nghĩa vụ của nhà đầu tư, theo đó nhà đầu tư có quyền tự chủ
đầu tư kinh doanh, quyền tiếp cận các nguồn lực đầu tư, sử dụng
nguồn vốn tín dụng, đất đai và tài nguyên, quyền sử dụng lao
động, quyền mở tài khoản và mua ngoại tệ, quyền xuất khẩu, nhập
khẩu, quảng cáo, gia công, gia công lại,...
Cao Thị Thanh Huyền – K53 chuyên ngành quốc tế
25