Quan hệ thương mại ASEAN trung quốc giai đoạn 2001 2010 - Pdf 37

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN THỊ THANH NHÀN

QUAN HÖ TH¦¥NG M¹I ASEAN - TRUNG QUèC
GIAI §O¹N 2001 - 2010

Chuyên ngành
Mã số

: Kinh tế Quốc tế
:
62.31.01.06

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2016


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội.
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. PHẠM THÁI QUỐC
TS. TRẦN THỊ NHUNG

Phản biện 1: .............................................................................
Phản biện 2: .............................................................................
Phản biện 3: .............................................................................

dự trữ toàn cầu với tổng GDP gần 10.000 tỷ USD (2011). Với tầm quan trọng và ý
nghĩa của vấn đề tham gia và phát triển thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc, việc
nghiên cứu đánh giá tác động của việc phát triển mối quan hệ này đối với Việt Nam,
trên cơ sở đó để đề ra những biện pháp chính sách kinh tế - thương mại cũng như
phương án đàm phán, cam kết phù hợp là một vấn đề bức xúc đặt ra đối với cả các cơ
quan nghiên cứu cũng như các cơ quan hoạch định chính sách. Tuy nhiên, cho tới nay,
mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau đánh giá và xem xét mối
quan hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc, trong đó Văn phòng Uỷ
ban Quốc gia phối hợp với các Bộ, Ngành thành viên đã tiến hành trước đây đề tài về
“Đánh giá tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với Việt Nam”, nhưng
một nghiên cứu và đánh giá mang tính tổng quát về những tác động đối với Việt Nam
trong bối cảnh một khu vực thương mại tự do giữa ASEAN và Trung Quốc là một vấn
đề tương đối mới mẻ, chưa được nghiên cứu và giải quyết rõ.
Đối với các nước ASEAN, việc nghiên cứu về khu vực thương mại tự do này
hiện nay cũng còn nhiều hạn chế. Trong khuôn khổ hợp tác giữa các nước ASEAN,
một số nghiên cứu bước đầu về quan hệ kinh tế - thương mại ASEAN- Trung Quốc


2
cũng đã được bước đầu triển khai như nghiên cứu về “Hướng tới quan hệ kinh tế gần
gũi ASEAN- Trung Quốc trong thế kỷ 21” của Nhóm chuyên gia ASEAN- Trung
Quốc về hợp tác kinh tế. Tuy nhiên, một phần do tính mới mẻ của vấn đề, vẫn chưa
có kết quả nghiên cứu nào tiến hành đánh giá khu vực thương mại tự do này một cách
tổng thể, toàn diện. Thêm vào đó năm 2015, Hiệp định về Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN - Trung Quốc chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam. Chính vì vậy, tác giả
chọn đề tài “Quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc giai đoạn 2001 - 2010” làm
luận án tiến sĩ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Trong khuôn khổ một luận án, khi tiếp cận với đề tài này, tôi đặt ra các mục đích
và nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

đoạn 2001 - 2010 là nền tảng cho quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc trong
những giai đoạn tiếp theo và giai đoạn 2010 -2014 đã phản ánh một phần về sự phát
triển trong mối quan hệ này.
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Trung Quốc không bao gồm Hồng Kông,
Ma Cao, Đài Loan và một số vấn đề về Việt Nam.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
Trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài vận dụng các
phương pháp nghiên cứu khoa học như:
- Phương pháp thu thập thông tin: thông tin phục vụ nghiên cứu được thu thập
qua các sách giáo khoa, giáo trình, tạp chí chuyên ngành, sách báo, phương tiện
truyền thông đại chúng, Internet, các thư viện Quốc gia, thư viện một số trường đại
học…; từ kết quả nghiên cứu, công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, kết hợp
kết quả quan sát, tổng hợp và xử lý số liệu thứ cấp của tác giả.
- Phương pháp thống kê, so sánh: Từ thống kê số liệu, tác giả đưa ra sự so sánh
tương quan giữa hai thực thể ASEAN - Trung Quốc trong quan hệ thương mại.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp logic, lịch sử.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án liên kết các dữ liệu điều tra, các kết quả đánh giá của chuyên gia, nhà
khoa học liên quan tới quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc để từ đó chỉ ra được
xu hướng vận động của mối quan hệ này. Đây là cơ sở thực tiễn phục vụ cho cơ quan
quản lý nhà nước ngành kinh tế đối Ngoại trong hoạch định các chính sách Ngoại
thương của Việt Nam khi tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc.
Bên cạnh đó luận án phân tích ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến quan hệ
thương mại ASEAN-Trung Quốc và chỉ ra được yếu tố tác động tích cực, yếu tố tác
động tiêu cực để cơ quan nhà nước, các nhà hoạch định kinh tế, doanh nghiệp nắm
được và có cách thức áp dụng phù hợp khi tham gia vào hoạt động thương mại trong
nước, khu vực có đối tác một bên là bạn hàng Trung Quốc hoặc các nước ASEAN.
Ngoài ra, những nội dung đưa ra trong luận án còn có tính ứng dụng và có thể
triển khai trong quản lý. Cơ quan ngành Ngoại giao, và tổ chức kinh tế, doanh nghiệp

1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc
Về mặt lý thuyết, chinh sách, có một số công trình tiêu biểu như sau.
ThS. Phan Ngọc Mai Phương trong đề tài Cấp Bộ “Tác ộng t chiến lược một
tr c hai cánh” của Trung Quốc đối với phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam thời k
đến năm 2020 thực hiện năm 2010. Phan Ngọc Mai Phương đã chỉ rõ bối cảnh ra đời
của chính sách hướng Nam. Đề tài bước đầu chỉ ra mục tiêu của chiến lược, nội dung
của chiến lược cũng như diễn biến - tình hình triển khai chu n bị thực hiện ý tưởng
chiến lược này trong mấy năm gần đây.
TS. Lê Quốc Phương với đề tài “Đánh giá mức ộ bổ sung và cạnh tranh
giữa Việt Nam với các ối tác thương mại chính bằng phương pháp ịnh lượng”
(2010). TS. Lê Quốc Phương cho rằng Thương mại và đầu tư hiện là những hoạt
động quan trọng, rất có ý nghĩa đối với quá trình phát triển kinh tế và hội nhập
quốc tế của nước ta. Để có chiến lược phát triển hoạt động thương mại quốc tế
đúng đắn, chúng ta không thể xem xét, đánh giá các đối tác một cách khoa học, có


5
cơ sở, có căn cứ, tìm ra các đối tác có tiềm năng, có thể hợp tác lâu dài và đem lại
lợi ích cho chúng ta.
PGS. TS Nguyễn Văn Lịch trong đề tài “Định hướng chiến lược phát triển quan
hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc giai oạn tới 2015” (2007). PGS. TS Nguyễn
Văn Lịch đã chia 5 nhóm hàng (A,B,C,D,E) để phân tích khả năng cạnh tranh của hàng
hoá xuất nhập kh u của Việt Nam cũng như của các nước lân cận trong khuôn khổ
giữa ASEAN và Trung Quốc. Đã chỉ ra lợi thế của mỗi nước, nhóm nước và sự trùng
lặp lợi thế của các nước ở những nhóm hàng nào. Nguyễn Văn Lịch nêu quan điểm và
khẳng định nhiều lần trong đề tài là nếu không có những nỗ lực cải thiện cơ cấu xuất
kh u, Việt Nam có thể trở thành nước chuyên cung cấp tài nguyên và những sản ph m
có hàm lượng tài nguyên cao cho Trung Quốc”. Hiện nay cơ cấu kinh tế của nước ta,
đặc biệt là ở khu vực đồng bằng Nam bộ đang thay đổi rất nhanh, ngoài 14 mặt hàng
Việt nam có tiềm năng (được đề cập trong đề án đ y mạnh xuất kh u sang Trung Quốc

qua được những rào cản về chính trị và trở thành mối quan hệ thương mại chiến lược
của cả hai bên.
1.3. Khoảng trống nghiên cứu
Như vậy, từ các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế có thể nói mối quan hệ
thương mại ASEAN - Trung Quốc là đề tài hay, được đông đảo giới khoa học cũng như
những người làm chính sách và giới doanh nhân quan tâm. Tuy nhiên, các nghiên cứu đề
cập ở trên chỉ phân tích mối quan hệ này ở các góc độ khác nhau. Nhiều nghiên cứu phân
tích sâu về các thời cơ và thách thức cho mỗi bên cũng như cho Việt Nam khi ACFTA hình
thành. Cũng có khá nhiều nghiên cứu đề cập quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc.
Tuy nhiên, việc tổng kết, đánh giá về quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc trong thập
niên đầu thế kỷ 21, đặc biệt cố xem xem khi Trung Quốc trở thành nước lớn thì họ có thay
đổi cách ứng xử với các nước láng giềng ASEAN không, thay đổi như thế nào thông qua
các quan hệ thương mại thì chưa có nghiên cứu nào đề cập.
Chương 2
CƠ SỞ CHO SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI ASEAN - TRUNG QUỐC
2.1. Cơ sở lý luận cho sự phát triển quan hệ thƣơng mại ASEAN - Trung Quốc
2.1.1. Khái quát về quan hệ thương mại Quốc tế
Khái niệm về thương mại quốc tế: Theo UNCITRAN (United Nations
Commission of International Trade Law) thì thương mại quốc tế theo nghĩa rất rộng, bao
gồm mọi hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế, tức là bao gồm mọi hoạt động
thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, trừ mua bán hàng hóa hữu hình đến các dịch vụ như
bảo hiểm, tài chính, tín dụng, chuyển giao công nghệ, thông tin, vận tải, du lịch.
Chính sách thương mại Quốc tế: Chính sách thương mại quốc tế là hệ thống
các công cụ và biện pháp mà nhà nước sử dụng để điều tiết các hoạt động thương mại
quốc tế của các quốc gia, nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra trong chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của quốc gia đó.
2.1.2. Các lý thuyết về quan hệ thương mại Quốc tế
Lý thuyết thương mại quốc tế của Chủ nghĩa trọng thương.
Adam Smith và lợi thế tuyệt ối.
Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo.

phát triển sớm muộn, nhanh chậm khác nhau nên điều kiện sản xuất trong nước sẽ
khác nhau. Quan hệ hợp tác ASEAN - Trung Quốc cũng phát triển theo xu hướng đó.
Với đặc điểm vị trí địa lý sát kề, cùng nằm trong khu vực Đông Á và đồng thời đều là
những nền kinh tế nóng đang phát triển mạnh mẽ ở châu Á, sự liên kết kinh tế giữa
hai vùng lãnh thổ này cũng là một hệ quả tất yếu, phù hợp với nhu cầu hai bên và với
xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế hiện nay.
Môi trường quốc tế khu vực tương đối ổn định nền kinh tế tri thức và công nghệ
đang tạo cơ hội cho mọi quốc gia ASEAN thực hiện chủ trương đa phương hóa quan
hệ quốc tế trong đó có đa phương hóa quan hệ ASEAN và Trung Quốc. Thị trường nội
tại của các bên với sức mua lớn là tiềm năng và thế mạnh khách quan cho quan hệ hợp
tác ASEAN và Trung Quốc phát triển. Tiền đề xây dựng quan hệ thương mại ASEAN
và Trung Quốc được đảm bảo và ghi nhận bởi hàng loạt những cam kết có tính pháp lý
thông qua các điều ước quốc tế và các Hiệp định song phương ASEAN - Trung Quốc.


8
Hiệp ịnh khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN-Trung Quốc”, “Tuyên bố
Kuala Lumpur 2005. Sức mạnh kinh tế mới của Trung Quốc, đặc biệt từ khi nước này
trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng là một trong
những cơ sở cho phát triển quan hệ thương mại ASEAN và Trung Quốc. ASEAN
đang có bước chuyển mình mạnh mẽ và ngày càng có vị thế trong nền kinh tế thế giới
Chương 3
THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƢƠNG MẠI ASEAN - TRUNG QUỐC
GIAI ĐOẠN 2001 - 2014
3.1. Quan hệ thƣơng mại ASEAN - Trung Quốc trƣớc năm 2001
3.1.1. Giai đoạn từ năm 1991 đến Khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997
Giai đoạn 1991-1997, thương mại hai bên trong thời k này phần lớn là thương
mại hàng hoá. Xuất kh u của ASEAN sang Trung Quốc đã có sự tăng trưởng từ năm
1993 đến năm 1997, đặc biệt từ năm 1996 có sự phát triển vượt bậc trong tổng kim
ngạch thương mại hai bên (16.691,7 triệu USD năm 1996 và 22.650,8 triệu USD năm

1999

2000

2001

2002

Năm

Biểu đồ 3.1. Giá trị kim ngạch thương mại hai chiều giữa Trung Quốc và ASEAN
giai đoạn 1998-2002
Nguồn: Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế


9
ASEAN xuất sang Trung Quốc chủ yếu là nguyên, nhiên liệu và hàng công nghiệp
chế biến, trong đó xăng dầu, gỗ, dầu thực vật, máy tính, thiết bị điện là những mặt hàng
xuất kh u chính. Năm 2002, nhóm hàng này chiếm 83,7% tổng kim ngạch xuất kh u
ASEAN sang Trung Quốc. Trong số 10 mặt hàng xuất kh u chủ yếu của ASEAN sang
Trung Quốc, máy móc công cụ và linh kiện chiếm tỷ trọng cao nhất 23,6%, tiếp đến là
máy móc văn phòng và xử lý số liệu 18,5%, xăng dầu và chế ph m 12,5%, nhựa nguyên
liệu 6,7%, hoá chất hữu cơ 6,4%, dầu thực vật 5,1%, cao su thô 3,6%, thiết bị âm thanh và
viễn thông 3,0%, máy công nghiệp và phụ kiện 2,5% và gỗ 1,9%.
Bảng 3.1. Cán cân thƣơng mại ASEAN và Trung Quốc
giai đoạn 1993-2002
Đơn vị: Nghìn USD
Năm

Xuất khẩu


26.472.37,0

19.47 997,9

+7.064.379,4

20 1

31.52.091,2

23.833.075,1

+7.719.016,1

2002

19.547.232,1

23.212.221,4

-3.665.010,7

Ghi chú: Giá trị US $ 1000. (nghìn USD)
Source: ASEAN Trade Database
- Quan hệ ầu tư. Đầu tư ASEAN vào Trung Quốc: Nếu như năm 1991 đầu tư
ASEAN vào Trung Quốc chỉ đạt 0,9 tỉ USD thì năm 1992 con số này đã tăng lên tăng
lên 2,7 tỉ USD gấp 3 lần, năm 1997 con số này vượt trên 34,2 tỉ USD gấp 38 lần năm
1991 và gấp 1,86 lần năm 1994. Tổng mức đầu tư ASEAN vào Trung Quốc đạt mốc
kỷ lục vào năm 1998 với giá trị đầu tư 42,2 tỉ USD. Từ năm 1991 đến 2000, đầu tư

USD

20
0
20 0
01
20
0
20 2
0
20 3
04
20
0
20 5
0
20 6
07
20
0
20 8
09
20
1
20 0
11

400
350
300

phát triển vượt bậc của kim ngạch thương mại giữa hai nền kinh tế từ 2002 - 2010, đặc
biệt từ khi Hiệp định khung về hợp tác kinh tế được thực hiện Kim ngạch thương mại
ASEAN - Trung Quốc năm 2003 đã tăng gấp hơn 1,5 lần so với năm 2002 (từ 42,75 tỉ
USD lên 59,64 tỉ USD), và con số này đến năm 2007 đã tăng gấp 4,3 lần (171,118 tỉ
USD), đỉnh điểm năm 2008 tổng giá trị kim ngạch thương mại 2 chiều ASEAN và
Trung Quốc tăng lên 192,67 tỉ USD. Đến năm 2011, thương mại ASEAN - Trung Quốc
tiếp tục phát triển, đạt mức 362,9 tỉ USD tăng gần 9 lần so với năm 2002. Tỷ lệ tăng
trưởng thương mại của Trung Quốc với ASEAN hàng năm vào khoảng 21,9%, trong khi
tỷ lệ tăng trưởng thương mại của Trung Quốc hàng năm chỉ đạt 18,8%
[www.nciec.gov.vn].
Bảng 3.10. Thƣơng mại Trung Quốc - ASEAN giai đoạn 2002-2010
Đơn vị: tỉ USD
ASEAN XK sang
ASEAN NK từ
Cân bằng của
Năm Tổng TM
Trung Quốc
Trung Quốc
ASEAN
2002
42,759
19,547
23,212
- 3,959
2003
59,636
29,059
30,577
- 1,228
2004

Nguồn: ASEAN Secretariat (2005); ASEAN Trade Statistics
Database; ASEAN Trade Statistics Database (Data as of July 2009)
Phân tích bằng phương pháp đồ thị có thể thấy, nhìn một cách tổng thể giai đoạn
2002-2011 cán cân thương mại lại có xu hướng nghiêng về phía Trung Quốc, ASEAN trở
thành khu vực nhập siêu. Nếu năm 2001, cán cân thương mại của ASEAN với Trung
Quốc là +8,257 tỉ USD (ASEAN là khu vực xuất siêu vào Trung Quốc) thì chỉ số này đến
năm 2002 là -3,959 tỉ USD, năm 2005 là -8,878 tỉ USD, năm 2007 con số này đã giảm
xuống mức -15,228 tỉ USD đỉnh điểm năm 2008 con số này giảm xuống mức -21,556 tỉ


12
USD [78]. ASEAN liên tục nhập xiêu trong quan hệ thương mại với Trung Quốc đây là
một sự chuyển hướng khá lớn. Đây cũng chính là những khó khăn chính ASEAN gặp
phải khi thực hiện hợp tác kinh tế toàn diện với Trung Quốc. Tuy nhiên, đến năm 2010,
theo số liệu từ phía của Trung Quốc cung cấp thì giá trị kim ngạch ASEAN trong quan hệ
thương mại với Trung Quốc thặng dư ở mức 16,4 tỷ USD.
Cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu giữa hai bên ASEAN - Trung Quốc. Trung
Quốc và ASEAN đều thuộc khu vực Đông Á, có nhiều đặc điểm giống nhau trong xu
hướng phát triển kinh tế. Bởi vậy, cơ cấu mặt hàng xuất nhập kh u của hai bên giai
đoạn này có nhiều điểm tương đồng, thể hiện qua tốp đầu những hàng hoá trao đổi
thương mại giữa hai bên.
Sản ph m có giá trị thương mại lớn nhất của hai bên là máy móc công cụ và
linh kiện, chiếm 29,1% giá trị hàng hoá xuất kh u từ ASEAN và 31,3% giá trị hàng
hoá xuất kh u từ Trung Quốc [80]. Thứ hai là mặt hàng máy móc văn phòng và xử lý
số liệu, xăng dầu và chế ph m. Cả hai cùng có sức cạnh tranh vượt trội trong các mặt
hàng này do đều có lợi thế trong nhân công giá rẻ dẫn tới giảm giá thành sản ph m
đáng kể so với các thị trường khác. Dù có những thế mạnh thương mại hàng hoá khá
giống nhau nhưng hai bên vẫn có thể phát triển trao đổi thương mại trong những lĩnh
vực đó, do đây đều là hai thị trường lớn nên nhu cầu rất lớn về cả số lượng, chủng
loại và chất lượng khác nhau. Đồng thời bởi có những điểm tương đồng nên hai bên

chiều, phát triển lưu vực sông Mê Kông, giao thông, năng lượng, văn hoá, du lịch và y tế
cộng đồng. Ngoài ra còn ký một số Bản ghi nhớ (MOU).
- Trong lĩnh vực giao thông vận tải: Hợp tác sâu rộng trong lĩnh vực giao
thông giữa ASEAN và Trung Quốc được đánh dấu bởi Biên bản ghi nhớ về hợp tác
trong giao thông vận tải tháng 11 năm 2004 tại Viêng Chăn. Qua biên bản ghi nhớ
này, hai bên sẽ hỗ trợ hợp tác trung hạn và dài hạn trong các lĩnh vực sau: i) xây dựng
cơ sở hạ tầng cho giao thông; ii) hỗ trợ giao thông; iii) an ninh và an toàn hàng hải;
iv) giao thông đường hàng không; v) phát triển nguồn nhân lực; và vi) trao đổi thông
tin. Thỏa thuận về vận tải biển giữa ASEAN và Trung Quốc (ACMTA) được ký
tháng 11 năm 2007 tại Singapore. Hội nghị giữa các bộ trưởng giao thông vận tải của
ASEAN và Trung Quốc lần thứ 7 được tổ chức vào tháng 11 năm 2008 đã thống nhất
về nguyên tắc với Kế hoạch chiến lược hợp tác Giao thông vận tải ASEAN-Trung
Quốc, trong đó nêu ra 90 dự án cơ sở hạ tầng giao thông vận tải nhằm tăng cường và
tạo điều kiện cho giao thông quốc tế và xuyên biên giới.
- Du lịch là một trong những lĩnh vực hợp tác tiềm năng của ASEAN và
Trung Quốc. Quan hệ hợp tác trong lĩnh vực du lịch giữa ASEAN và Trung Quốc
đã được tăng cường và số lượng du khách luôn tăng ổn định. ASEAN và Trung
Quốc tin tưởng rằng số lượng khách du lịch sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh sau 2010
cùng với mối quan hệ được mở rộng trong tương lai.
Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của thương mại dịch vụ song phương giữa
hai bên. ASEAN và Trung Quốc đều có bước tiến vượt bậc trong phát triển kinh tế và
mức sống của người dân. Những biến đổi mới này làm xuất hiện những hình thức
kinh doanh mới, và nảy sinh ra nhiều nhu cầu mới, cụ thể trong các lĩnh vực như phát
triển giáo dục, tư vấn giáo dục, dịch vụ mua sắm và tư vấn chăm sóc sức khoẻ, dịch
vụ lao động trực tiếp và gián tiếp,… Lĩnh vực dịch vụ phát triển nhất trong quan hệ
song phương vẫn là du lịch. Gần đây du lịch các nước ASEAN luôn là lựa chọn hàng
đầu của du khách Trung Quốc. Năm 2005, lượng khách du lịch Trung Quốc đến
ASEAN là 3,07 triệu người, đến năm 2007 con số này là 3,47 triệu người. Du khách



án triết suất tài nguyên hơn là ODA - theo định nghĩa của OECD. Trong số 12,6 tỷ
USD trợ giúp kinh tế của Trung Quốc cho ASEAN giai đoạn 2002-2007 thì có 59%
là cho xây dựng cơ sở hạ tầng; 38% là đưa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, chỉ
có 3% là dưa vào trợ giúp nhân đạo, hỗ trợ quân sự, văn hóa và thể thao.
Trung Quốc cũng có kế hoạch cấp khoản tín dụng 15 tỷ USD cho ASEAN
trong 3 đến 5 năm (2013-2015), trong đó có cho vay ưu đãi 1,7 tỷ USD cho các dự án
hợp tác. Bên cạnh đó, Trung Quốc tuyên bố sẽ cấp 39,7 triệu USD trợ giúp đặc biệt
cho Campuchia, lào và Mianma để đáp ứng các nhu cầu cấp thiết, đóng góp 5 triệu
1

Foreign direct investment in South East Asia Global Business June 22, 2011,
/>

15
USD vào Quỹ Hợp tác ASEAN - Trung Quốc và cho khoảng 1 triệu USD vào quỹ
hợp tác tác chung ASEAN, Nhật Bản Hàn Quốc và Trung Quốc. Trung Quốc còn hứa
sẽ cung cấp 300.000 tấn gạo cho quỹ dự trữ gạo kh n cấp ở Đông Á để cải thiện an
ninh trong khu vực. Lãnh đạo Trung Quốc cũng cam kết cấp 2000 học bổng cho đào
tạo sinh viên quản lý hành chính ASEAN trong vòng 5 năm.
3.3. Quan hệ thƣơng mại ASEAN - Trung Quốc giai đoạn 2011 - 2014
3.3.1. Quan hệ thương mại hàng hóa
Kinh tế ASEAN những năm gần đây có bước phát triển và tiến bộ đáng kể, một
nguyên nhân chủ yếu là do 10 nước ASEAN kiên trì thúc đ y phát triển kinh tế khu
vực lấy cơ chế hợp tác 10+3 làm chủ thể trên cơ sở hợp tác 10+1 với Trung Quốc,
Nhật Bản và Hàn Quốc. Cơ chế hợp tác 10+1 và 10+3 lấy hợp tác kinh tế làm trọng
tâm, từng bước mở rộng sang các lĩnh vực chính trị, an ninh và văn hoá, đã hình thành
bố cục hợp tác tốt đ p đa cấp độ, lĩnh vực rộng, đa phương hoá và đa dạng hoá. Trong
đó, Khu vực Mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN là mẫu mực trong hợp tác song
phương. Số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan Trung Quốc cho thấy, từ
tháng 1 đến tháng 10 năm 2011, tổng kim ngạch xuất nhập kh u giữa Trung Quốc và

ASEAN NK
từ Trung
Quốc
192,8
203,6
211,7
49

ASEAN XK
sang Trung
Quốc
170,1
197,6
206,6
56

Cân bằng của
ASEAN

2011
362,9
22,7
2012
401,2
- 6,4
2013
418,3
-5,1
Quý I-2014**
105

lực để lấy lại lòng tin về sự "trỗi dậy hoà bình" của Trung Quốc. Tuy nhiên, quan hệ


17
giữa Trung Quốc với các quốc gia láng giềng vẫn có lúc trong tình trạng căng thẳng.
Năm 2011 là năm kỷ niệm 20 năm quan hệ đối thoại Trung Quốc - ASEAN,
hai bên đã cùng nhau tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm. Thủ tướng Trung Quốc Ôn
Gia Bảo đã tham dự Triển lãm quốc tế Trung Quốc - ASEAN lần thứ 8 tại Nam Ninh
(Trung Quốc), đề xuất một loạt kiến nghị và biện pháp nhằm đi sâu hợp tác song
phương trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, xã hội, nhân văn..., đồng thời ra tuyên
bố chung, hoạch định phát triển quan hệ trong tương lai.
Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN từ năm 2010 được vận hành thuận
lợi. Từ tháng 1 đến tháng 11- 2011, tổng kim ngạch thương mại Trung Quốc ASEAN là 328,96 tỷ USD, tăng 25,1% so với năm 2010. ASEAN trở thành đối tác
thương mại lớn thứ 3 của Trung Quốc.
3.3.4. Quan hệ đầu tư
Trong năm 2010 và 2011, Trung Quốc đã cung cấp các khoản vay cho ASEAN
với tổng số vốn đạt 25 tỷ USD, trong đó hơn 10 tỷ USD là các khoản vay ưu đãi.
Tính luỹ kế tới hết tháng 10/2012, tổng giá trị đầu tư Trung Quốc - ASEAN đạt 100
tỷ USD, trong đó 10 tháng đầu năm 2012 Trung Quốc đầu tư phi tài chính sang
ASEAN đạt 3,6 tỷ USD tăng 31,2% [4]. Các lĩnh vực Trung Quốc đầu tư sang
ASEAN chủ yếu là xây dựng, dịch vụ khách sạn, điện khí, khoáng sản và vận tải, các
hình thức đầu tư từ FDI đến đầu tư công nghệ kỹ thuật, BOT,... Trung Quốc đã đầu tư
xây dựng 5 Khu hợp tác kinh tế thương mại ở Campuchia, Thái Lan, Việt Nam và
Indonesia, số lượng doanh nghiệp vào các Khu hợp tác kinh tế này cũng như giá trị
sản xuất tại đây cũng tăng trưởng rõ rệt. Cùng với đó ASEAN đầu tư vào Trung Quốc
cũng có quy mô mở rộng. Tính 10 tháng đầu năm 2012, ASEAN đầu tư vào Trung
Quốc 6,1 tỷ USD tăng 15,9%. Nếu tính lũy kế đến hết tháng 10/2012, ASEAN đã đầu
tư vào Trung Quốc 76,1 tỷ USD chiếm 6% tổng giá trị FDI tại Trung Quốc (vượt qua
FDI của Mỹ đầu tư tại Trung Quốc)[4].
Năm 2014, về đầu tư, các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư trực tiếp và phi tài chính

trường, thuế và thương quyền; các chính sách và thủ tục đăng ký của chính quyền


20
Trung ương và địa phương thường xuyên thay đổi và đôi khi tồn tại sự mâu thuẫn
giữa các chính sách đó gây khó khăn cho các nước ASEAN trong việc trao đổi
thương mại hàng hóa.
- Sự yếu thế trong lợi thế so sánh ang ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế các nước
ASEAN khi tham gia quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc trên nhiều phương diện.
Sự yếu thế cạnh tranh và mất cân bằng cán cân thương mại của ASEAN trong
quan hệ thương mại với Trung Quốc tác động tới sản xuất, việc làm của các quốc gia
trong khu vực ASEAN. Trên thực tế, một số nước ASEAN nhận thấy, khác với tình
hình những năm 2000 về trước, khả năng cạnh tranh của Trung Quốc càng ngày càng
lớn mạnh hơn và cạnh tranh với ASEAN càng gay gắt hơn. Chính Bộ trưởng thương
mại Singapore đã nhận định rằng các nền kinh tế Đông Bắc Á chiếm tới 80-90% tổng
lực kinh tế châu Á, vì thế Trung Quốc sớm muộn sẽ thống trị quá trình tiến triển của
ACFTA [22].
- Quan hệ thương mại ASEAN Trung Quốc ảnh hưởng trực tiếp tới nền nông
nghiệp các nước ASEAN khi các quốc gia này không lường trước ược khó khăn t
chương trình thu hoạch sớm
- Cạnh tranh hàng hóa và ầu tư thương mại trên thị trường ở ASEAN trở lên
gay gắt hơn bao giờ hết
- Hàng lậu t Trung Quốc có cơ hội ược hợp pháp hóa ể chuyển vào
ASEAN, nguy cơ nhiều nước ASEAN trở thành thị trường tiêu th của Trung Quốc:
- Sự chi phối t những toan tính về chính trị, để có khách hàng tiềm năng
nguồn vốn đầu tư lớn và nguồn nhân lực kĩ thuật cao, nhiều nước ASEAN đã chấp
nhận đánh đổi nhiều điều kiện bất lợi cho họ và bị Trung Quốc chi phối. Thực tế để
thu hút vốn và khách hàng tiềm năng nhiều quốc gia trong khối đang bị Trung Quốc
tìm cách áp đặt các điều kiện liên quan đến chính trị, kinh tế, văn hóa theo hướng phù
hợp với các giá trị của mình và có lợi cho mình.

ASEAN và Trung Quốc sẽ làm giảm chi phí kinh doanh trong sản xuất cũng như
thương mại, từ đó tăng hiệu quả kinh tế và khuyến khích gia tăng thương mại giữa
các nước trong khu vực.
Cơ hội tạo ra môi trường hoà bình, ổn ịnh và hợp tác. Khu vực mậu dịch tự
do ASEAN - Trung Quốc góp phần làm phồn vinh khu vực châu Á. Trong sự phồn
vinh chung ấy, vị thế của ASEAN và Trung Quốc nhất định sẽ được nâng cao hơn
nữa giai đoạn 2016-2020.
4.1.2. Những thách thức đặt ra trong phát triển thương mại giữa ASEAN - Trung
Quốc đến năm 2020
- Tình trạng phân cực về kinh tế giữa các quốc gia trong khu vực ASEAN
- Sức cạnh tranh về kinh tế giữa ASEAN - Trung Quốc: cạnh tranh về mậu dịch,
cạnh tranh trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và cạnh tranh tại thị trường thứ ba
- Những thách thức về chính trị: Vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông
4.1.3. Triển vọng quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc đến năm 2020
- Với Trung Quốc: 1/ Thâm nhập mạnh mẽ vào thị trường ASEAN với hàng
hoá vốn đã có sức cạnh tranh lớn của mình. 2/ Thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư
nước ngoài, đồng thời thu được nhiều lợi từ việc tăng cường đầu tư vào các nước
ASEAN. 3/ Tận dụng cơ hội hợp tác khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phong
phú của các nước ASEAN. - Góp phần thực hiện thành công chiến lược đại khai phá
miền tây Trung Quốc, phát triển kinh tế các tỉnh miền Tây Nam lạc hậu.
- Với các nước ASEAN: 1/ Quan hệ ASEAN thông qua khu vực mậu dịch tự
do giảm bớt sự phụ thuộc vào những thị trường bên ngoài. 2/ Mở ra điều kiện thuận
lợi đ y mạnh xuất kh u hàng hoá vào thị trường khổng lồ hơn 1,3 tỉ người tiêu dùng
của Trung Quốc. 3/ Thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp Trung
Quốc và cả các công ty nước ngoài. 4/ Giúp các nước ASEAN phát triển hơn nữa một
số ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và khai thác tài nguyên


22
Như vậy, mối quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc hậu 2015 sẽ đem lại

trọng trong chính sách đối ngoại của các đối tác.
4.2.2. Lợi ích của Việt Nam khi mối quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc
phát triển
- Mối quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc có tác động rất lớn đối với sự
phát triển của Việt Nam. Từ mối quan hệ thương mại Việt Nam có nhiều điều kiện và
cơ hội để nâng cao vị thế và tiếng nói của mình.
- Từ mối quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc đã giúp cho nước ta tranh
thủ được những lợi ích thiết thực, góp phần mở rộng mối quan hệ của ta với các nước


23
khu vực trên nhiều lĩnh vực, hỗ trợ đắc lực cho những nỗ lực hội nhập khu vực và
quốc tế của ta, mở rộng quan hệ kinh tế, tiếp cận được thông tin và các tiến bộ khoa
học - công nghệ hiện đại, học tập và chia sẻ kinh nghiệm phát triển và quản lý với các
quốc gia thành viên ASEAN, Trung Quốc vốn được coi là những nền kinh tế đầy
năng động.
4.2.3. Một số giải pháp giúp Việt Nam phát triển từ mối quan hệ thương mại
ASEAN - Trung Quốc
Thứ nhất, Việt Nam cần nâng cao cấp độ liên kết kinh tế với các nước ASEAN
Thứ hai, Việt Nam tích cực hợp tác nội khối để đi đến nhất thể hoá thị trường
khu vực ASEAN.
Để thực hiện thành công việc xây dựng một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất
của ASEAN tạo thuận lợi cho tự do hàng hóa và các yếu tố sản xuất các quốc gia
ASEAN, Việt Nam cùng với các nước ASEAN phải tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:
- Thực hiện tối đa các hoạt động tự do hóa thương mại hàng hóa, tự do hóa
thuế quan, các biện pháp phi thuế quan, thiết lập quy tắc xuất xứ, thuận lợi hóa
thương mại, hợp tác hải quan, hài hòa hóa và nhất thể hóa hàng rào tiêu chu n và kỹ
thuật trong thương mại.
- Tiếp tục tự do hóa thương mại dịch vụ, xóa bỏ các hạn chế đối với thương
mại dịch vụ, xây dựng các thỏa thuận công nhận lẫn nhau, tăng cường phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status