Vận dụng phương pháp dạy học trực quan trong dạy học môn Công nghệ lớp 11 phổ thông - Pdf 37

MỤC LỤC


LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của khoa Sư phạm Kỹ thuật – Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội và được sự đồng ý của Thầy giáo hướng dẫn PGS – TS Nguyễn
Văn Khôi, tôi đã thực hiện đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học trực quan
trong dạy học môn Công nghệ lớp 11 phổ thông”.
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy cô giáo
đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn
luyện ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đối với PGS.TS.
Nguyễn Văn Khôi – người thầy đã hướng dẫn, chỉ đạo tận tình cho tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận này.
Xin gừi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên
và tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập và hoàn
thành khóa luận.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất,
song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học cũng như
những hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh được những
thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được. Tôi rất mong nhận được góp ý
của Thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2016
Tác giả
Đỗ Thị Cẩm Tú


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mục tiêu của giáo dục trong đó hoạt động cơ bản là dạy học, là hình thành

thành từ nhiều phân môn khác nhau, mỗi phân môn có những đặc thù riêng của
nó. Do đó vấn đề đặt ra là đòi hỏi người GV phải biết lựa chọn phương pháp dạy
học sao cho đạt hiệu quả cao nhất.
Phương pháp dạy học trực quan là một trong những phương pháp dạy học
được ứng dụng nhiều trong giảng dạy ở phổ thông. Xuất phát từ nhiệm vụ, nội
dung của môn học cũng như đặc điểm của phương pháp dạy học trực quan; em
nhận thấy phương pháp dạy học trực quan là phương pháp rất phù hợp với nội
dung và đặc điểm của chương trình công nghệ 11 phổ thông. Phương pháp dạy
học trực quan là phương pháp dạy học có khả năng nâng cao chất lượng dạy học
của bộ môn Công nghệ, giúp cho HS có cơ sở để phát triển tư duy logic, tư duy
trìu tượng và năng lực sáng tạo kỹ thuật.
Ngoài ra, trong các trường THPT hiện nay, vấn đề sử dụng trực quan trong
dạy học nói chung và trong dạy học môn Công nghệ nói riêng của GV đang tồn
tại mâu thuẫn.
Từ những lý do trên, em lựa chọn đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học
trực quan trong dạy học môn Công nghệ lớp 11 phổ thông”, mong rằng nội
dung này sẽ giúp thầy cô và các bạn thuận tiện hơn trong quá trình tìm kiếm
phương pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Công nghệ ở THPT.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu “Vận dụng phương pháp dạy học trực quan trong dạy học
môn Công nghệ lớp 11 phổ thông” nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của HS trong học tập, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Công nghệ ở
THPT.

4


3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc “Vận dụng phương pháp dạy
học trực quan trong dạy học môn Công nghệ lớp 11 phổ thông”

thông qua việc trao đổi và phỏng vấn trực tiếp, dự giờ để đánh giá chính xác việc
sử dụng các phương pháp dạy học và phương tiện dạy học trực quan vào giờ học.
Trên cơ sở đó xem xét nhưng điều kiện cần và đủ, những thuận lợi cũng như
những hạn chế của việc vận dụng phương pháp dạy học trực quan trong dạy học
– học lớp 11 phổ thông của GV và HS.
5.3 Phương pháp thống kê toán học:
Vận dụng lý thuyết xác suất và thông kê để phân tích, xử lý các kết quả thu
được sau khi thực nghiệm sư phạm nhằm xác định xu hướng phát triển của các
đối tượng và làm tăng tính khách quan cho kết quả nghiên cứu của đề tài.
5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Nhằm tiến hành kiểm nghiệm, kiểm chứng, điều tra, khảo sát lấy ý kiến,
đánh giá về tính khả thi thực tiễn của việc vận dụng phương pháp dạy học trực
quan.
Sử dụng phiếu điều tra để lấy thông tin nhanh về việc vận dụng phương
pháp dạy học trực quan trong dạy học.
Qua thực nghiệm rút ra những nhận xét cần thiết liên quan đến các giải
pháp đề xuất trong nội dung của đề tài. Kết quả thực nghiệm là cơ sơ để kiểm
chứng tính khả thi của đề tài.
5.5 Phương pháp chuyên gia:
Dùng phương pháp này để đóng vai trò là người vận dụng phương pháp dạy
học trực quan với đúng nguyên tắc, quy trình và nội dung chương trình, góp
phần phát triển năng lực của HS và nâng cao chất lượng dạy học trong nhà
trường phổ thông.
6


5.6 Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn, trò chuyện:
Trò chuyện, đàm thoại với HS nhằm tìm hiểu thực trạng dạy và học môn
Công nghệ.
5.7 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:

giác. Từ đó ông rút ra kết luận: “Lời nói không bao giờ đi trước được sự vật”
[7,tr12].
G.pestalossi, nhà giáo dục Thụy Sỹ cho rằng: Số cơ quan cảm giác tham gia
vào QTNT lớn thì kiến thức của chúng ta càng chính xác, là điểm tựa để biến
những biểu tượng chưa rõ ràng thành những biểu tượng rõ ràng, chính xác. Như
vậy tri giác cảm tính gắn liến với quá trình tư duy.
Mức độ cao hơn, Nhà giáo dục Nga K.Đ. Usinxki, tính trực quan đã được
ông nâng len một trình độ mới cao hơn dựa trên cơ sở những thành tựu của tâm
lý học và sinh lý học, ông đã đưa cách giải thích mới trong dạy học trực quan.
Khi phát triển nguyên tắc trực quan về mặt tâm lý học. Theo ông, “tính trực quan
phải là cơ sở quan trọng nhất của việc dạy học”, “trực quan là cái bắt đầu và là
8


nguồn gốc của mọi tri thức, cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ của
con người. Trực quan là cho quá trình lĩnh hội tri thức của hS trở nên dễ dàng, tự
giác, có ý thức và vững chắc hơn, tạo ra hứng thú học tập ở HS, kích thích tính
tích cực của HS, là phương tiện tốt nhất nhằm giúp GV gần gũi với HS và là
phương tiện quan trọng để phát triển tư duy HS” [11,tr7].
X.G.Sapovalenco cho rằng: “Chất lượng đồ dùng dạy học phải gắn chặt với
chất lượng sử dụng nó của thầy giáo để nó có thể đạt hiệu quả giảng dạy và giáo
dục cao”[21,tr2].
K.G.Nojko khẳng định “vấn đề không phải chỉ nằm ở chỗ sản xuất và cung
cấp cho nhà trường những đồ dùng dạy học mà chủ yếu là phải làm sao cho
những đồ dùng dạy học được giáo viên sử dụng với hiệu quả cao” và “đồ dùng
dạy học, các phương tiện kỹ thuật chỉ là những phương tiện hỗ trợ nằm trong tay
người thầy giáo”[22,tr52].
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu sử dụng PTTQ chưa nhiều. Một số tác giả
như: Nguyễn Cương, Trần Quốc Đắc, Võ Chấp, Đinh Quang Bảo, Vũ Trọng Rỹ,

kết quả trực quan trong giờ học luôn luôn là sự kích thích hoạt động tư duy tích
cực của HS”[23,tr10].
Tuy nhiên việc nghiên cứu vẫn còn mang tính chất lý luận, ít gắn với thực
tế dạy ở trường phổ thông. Vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn nữa.
1.2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC QUAN
1.2.1. Khái niệm
Phương pháp dạy học chính là con đường, cách thức dạy học nhằm đạt
được mục đích dạy học. PPDH gắn liền với quá trình dạy học. Đây là một quá
trình bao gồm hai mặt hoạt động: hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của
trò. Do đó PPDH phản ánh mối quan hệ qua lại giữa hoạt động dạy và hoạt động

10


học. Trong đó, hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo, hoạt động học giữ vai trò chủ
động tích cực.
Dựa vào phương tiện giao tiếp giữa thầy và trò, hoặc dựa vào nguồn cung
cấp tri thức cho học sinh, Perôpxki, Golant ,… đã chia PPDH thành ba nhóm
chính: các PPDH dùng ngôn ngữ, các PPDH dùng trực quan (PPDH trực quan)
và các PPDH thực hành. Trong đó PPDH trực quan có nhiều ưu điểm nổ bật và
đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đổi mới PPDH nhằm phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình nhận thức của học sinh trong giai
đoạn hiện nay.
Theo lý luận về PPDH, phương pháp dạy học trực quan chính là hệ thống
các phương pháp cụ thể mà giáo viên dùng khi sử dụng PTTQ nhằm xây dựng
cho học sinh những biểu tượng về sự vật, hiện tượng, hình thành khái niệm
thông qua sự tri giác trực tiếp bằng các giác quan của người học.[24]
1.2.2. Cơ sở khoa học của PPDH trực quan
1.2.2.1. Cơ sở triết học
Bản chất của quá trình dạy học là tổ chức hoạt động nhận thức cho HS

Muốn có nhận thức lý tính sâu sắc -> phải có nhận thức cảm tính đầy đủ ->
giai đoạn nhận thức cảm tính rất quan trọng. Sử dụng phương tiện trực quan
nhằm giúp làm tốt giai đoạn này.
Theo nghiên cứu tâm lý, mỗi giác quan của con người có khả năng tri giác
một lượng thông tin khác nhau trong cùng một thời gian. Năng lực dẫn thông là
khả năng tiếp nhận thông tin trong một đơn vị thời gian:
+ Thị giác: 3.106 bit/s
+ Khứu giác: 10 ->100 bit/s
+ Thính giác: 3.104 -> 5.104 bit/s
+ Xúc giác: 2 -> 10 bit/s
12


-> Năng lực dẫn thông của thị giác = 100 lần thính giác -> Ưu điểm của
phương pháp dùng trực quan so với dùng ngôn ngữ.
Người ta đã tổng kết về mối quan hệ phương tiện trực quan và tư duy con
người như sau:
Trừu tượng hoá
Cái cụ thể hiện thực

Cái trừu tượng lý thuyết
Phương tiện
trực quan
Cụ thể hoá

1.2.2.3. Cơ sở của bản thân môn Công nghệ
* Về nghiên cứu vật phẩm kỹ thuật: Bộ môn nghiên cứu những vật phẩm kỹ
thuật khác nhau được dùng trong đời sống -> bản thân bộ môn đã có tính chất cụ
thể, trực quan. Vì thế phải sử dụng cụ thể trực quan mới hình thành cho HS
những tri thức về chúng.

áp thì các em đã tự chiếm lĩnh kiến thức mới về cấu tạo của máy biến áp. Nếu sự
dạy chủ yếu dùng trực quan với mục đích minh họa cho bài giảng của mình thì
PPDH mang tính thụ động truyền thống. Ví dụ, sau khi giảng giải xong cáu tạo
máy biến áp, GV chỉ cho HS xem các bộ phận của máy. Hoạt động của HS ở đây
chỉ là nghe và xem không cần tư duy tích cực.
Một số cách sử dụng PPDH trực quan theo dạy học tích cực:
* Dùng khi đặt vấn đề bài dạy: tạo ra tình huống ngạc nhiên, trái với suy
nghĩ thông thường của HS và cho các em lý giải bằng kiến thức đã có của mình
-> bế tắc -> cần học kiến thức mới. Ví dụ: làm thí nghiệm cho HS dự đoán trước
kết quả xảy ra -> làm thí nghiệm -> quan sát thấy người với suy nghĩ (dự đoán)
của các em.
14


* Trình chiếu trực quan -> HS quan sát -> HS rút ra kết luận. Trong trường
hợp này GV chỉ giúp đỡ bằng gợi ý, sửa kết luận của HS cho chính xác. Đây là
phương án dễ làm và có thể làm thường xuyên.
* HS tự làm thí nghiệm -> quan sát -> rút ra kết luận mới.
* Ra bài tập cho HS quan sát các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên (liên
quan tới nội dung cần học) -> thảo luận ở lớp (HS phát biểu các quan sát được,
các nhận xét rút ra và cả lớp thảo luận, bình luận).
* Ưu điểm và hạn chế của nhóm PPDH trực quan
Các PPDH trực quan nếu được sử dụng khéo léo sẽ làm cho các các PTTQ,
phương tiện kỹ thuật dạy học tạo nên nguồn tri thức. Chức năng đó của chúng
chủ yếu gắn liền với sự khái quát những hiện tượng, sự kiện với phương pháp
nhận thức quy nạp. Chúng cũng là phương tiện minh họa để khẳng định những
kết luận có tính suy diễn và còn là phương tiện tạo nên những tình huống vấn đề
và giải quyết vấn đề. Vì vậy PPDH trực quan góp phần phát huy tính tích cực
nhận thức
- Với PPDH trực quan sẽ giúp HS huy động sự tham gia của nhiều giác

nên cất ngay đi để tránh làm mất sự tập trung chú ý của HS.
- Đảm bảo phát triển năng lực quan sát chính xác của HS.
- Đảm bảo phối hợp lời nói với việc trình bày các phương tiện trực quan và
phương tiện kỹ thuật dạy học. Có bốn hình thức phối hợp như sau:
+ Hình thức phối hợp thứ nhất: Dưới sự chỉ đạo bằng lời của GV, HS quan
sát trực tiếp các sự kiện, hiện tượng. Từ đó, chính họ rút ra những thuộc tính,
những mối quan hệ của chúng, những kết luận không caanfsuy lý.
+ Hình thức phối hợp thứ hai: Trên cơ sở quan sát và dựa trên các đối tượng
và dựa vào tri thức đã học của HS, GV dẫn dắt họ biện luận, nêu ra các mối liên
hệ giữa những hiện tượng bằng các biện pháp quy nạp, từ đó rút ra kết luận.

16


+ Hình thức phối hợp thứ ba: là các biện pháp minh họa đối với những hiện
tượng đơn giản. Bằng lời nói GV thông báo trước những hiện tượng, sự kiện, kết
luận rồi sau đó trình bày PTTQ nhằm minh họa điều đã trình bày. Hình thức này
ngược với trường hợp thứ nhất.
+ Hình thức thứ tư là hình thức có tính chất suy diễn. Với nội dung phải
nghiên cứu phức tạp thì GV bằng lời nói mô tả diễn biến của hiện tượng, kích
thích HS tái hiện những tri thức đã học có liên quan đến hiện tượng để giải thích
hiện tượng đó. Tiếp đó, GV trình bày PTTQ để minh họa nhằm khẳng định
những điều đã trình bày của mình. Hình thức phối hợp này ngược với hình thức
thứ hai. Hình thức phối hợp đầu đòi hỏi HS phải tiến hành hoạt động nhận thức
tích cực hơn hai hình thức phối hợp sau. Song phải căn cứ vào tính chất nội
dung, trình độ tri thức và trình độ phát triển của HS mà lựa chọn.
1.3 PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN
1.3.1 Một số khái niệm cơ bản
1.3.1.1. Phương tiện trực quan
Phương tiện là cái dùng để làm một vệc gì, để đạt một mục đích nào đó.

2. Máy ghi âm
3. Máy thu thanh
4. Máy thu hình
5. Máy chiếu phim
6. Phòng dạy tiếng
7. Máy tính
8. Các phương tiện ghi chép
b. Nhóm mang tin: là nhóm mà bản thân mỗi phương tiện đều chứa đựng
một khối lượng tin nhất định. Những tin này được bố trí trên những vật liệu khác
nhau và dưới các dạng riêng biệt.
Những phương tiện mang tin gồm có các loại như sau:
* Những phương tiện mang tin thính giác: là các phương tiện mang tin dưới
dạng tiếng gốm có:
+ Đĩa âm thanh
+ Băng âm thanh
+ Chương trình phát thanh
* Những phương tiện mang tin thị giác: là các phương tiện được trình bày
và lưu trữ tin dưới dạng hình ảnh gồm có:
+ Tranh tường, bản đồ, biểu bảng, đồ thị
+ Ảnh đen trắng và màu
18


+ Phim dương bản
+ Slide
+ Phim câm
+ Phim vòng
* Những phương tiện mang tin nghe nhìn: là nhóm hỗn hợp mang tin cả
tiếng lẫn hình gồm có:
+ Phim có tiếng

- Phương tiện hỗ trợ: Các loại bảng viết, các giá cố định và lưu động dùng
đặt các phương tiện trình diễn, thiết bị thay đổi cường độ ánh sáng trong lớp.
- Phương tiện ghi chép: Các phương tiện giúp cho việc chuẩn bị bài giảng,
lưu trữ số liệu và kiểm tra kết quả học tập của người học được nhanh chóng và
dễ dàng.
* Phân loại theo nguồn gốc
- Dựa vào nguồn gốc, người ta chia PTTQ thành hai nhóm cơ bản: nhóm
PTTQ nhân tạo và nhóm PTTQ tự nhiên.
- Nhóm phương tiện trực quan nhân tạo: Nhóm này gồm có mô hình, hình
vẽ, sơ đồ nguyên lý, đồ thị, sơ đồ khối, sơ đồ lắp ráp. Những phương tiện trực
quan này dùng để phác họa bản chất, cấu tạo chính của vật phẩm kỹ thuật hay
một quá trình sản xuất công nghiệp. Nó dùng để phản ánh những mối liên hệ
giữa các hiện tượng vật lý, kỹ thuật và các thao tác thực hành kỹ thuật.
- Nhóm phương tiện trực quan tự nhiên: Nhóm này bao gồm vật thật, sản
phẩm kỹ thuật. Loại phương tiện này có tác dụng giới thiệu cấu tạo, quá trình
hoạt động của các thiết bị, máy móc.
Ngoài ra các thao tác (hành động mẫu) của GV cũng là phương tiện trực
quan sinh động trong việc giới thiệu các hành động, thao tác kỹ thuật.
* Phân loại theo mức độ chế tạo phức tạp
Các loại phương tiện cũng được chia làm hai nhóm:
20


a. Loại chế tạo không phức tạp:
Loại này có các tính chất sau:
- Do thầy giáo tự nghiên cứu, phát triển
- Cần ít thời gian chế tạo
- Sản phẩm của mỗi thầy giáo làm ra chỉ thích hợp riêng với thầy giáo đó
khi dạy học
- Giá thành chế tạo không quá cao

thức phức tạp làm cho HS phát triển khả năng nhận thức.
- Nội dung, cấu tạo của PTTQ phải đma bảo các đặc trưng của dạy lý thuyết
và thực hành.
- PTTQ phải phù hợp với nhiệm vụ sư phạm và PPDH.
- PTTQ hợp thành một số bộ phận có liên hệ chặt chẽ với nội dung và hình
thức dạy học.
- PTTQ phải thúc đẩy việc sử dụng các PPDH hiện đại, các hình thức dạy
học tiến tiến.
b. PTTQ:
Đảm bảo cả lớp quan sát được, phù hợp với tâm lý HS, màu sắc phù hợp
với vật thật.
c. Tính thẩm mỹ:
PTTQ đảm bảo tính thẩm mỹ để GV thích dùng, kích thích, nâng cao sự
cảm thụ chân, thiện, mĩ.
d. Tính khoa học kỹ thuật:
- Chất liệu chế tạo PTTQ đảm bảo tuổi thọ cao, vững chắc.
- PTTQ phản ánh chính xác tri thức, không sai lệch với bản chất sự vật hiện
tượng, áp dụng những tiến bộ KHKT tiên tiến.
- PTTQ phải có kết cấu thuận lợi cho việc chuyên chở và bảo quản.
22


e. Tính kinh tế:
Số lượng ít nhưng hiệu quả, tuổi thọ cao, chi phí bảo quản thấp.
1.3.3.2 Những yêu cầu khi sử dụng PTTQ
a. Biểu diễn đúng lúc, đúng chỗ, dùng đến đâu đưa ra đến đó.
b. Sử dụng số lượng vừa phải, nên kết hợp với các PPDH
c. Phải xác định rõ nhiệm vụ của bị trên bài học
d. Định hướng nhiệm vụ của thiết bị. (nhằm tạo ra mâu thuẫn, kích thích,
hứng thú của HS, minh họa những vấn đề phức tạp, củng cố, vận dụng kiến thức,

Như vậy phần lớn GV môn Công nghệ là GV kiêm nhiệm nên chất lượng
không đồng đều, hiệu quả dạy còn hạn chế.
- Phương pháp giảng dạy, hầu hết các GV vẫn sử dụng các phương pháp
giảng dạy nặng về thuyết trình, giảng giải, ít sử dụng phương tiện trực quan, ít
liên hệ kiến thức với thực tế,…
Trong thực tế, khoa học và công nghệ đang thay đổi từng ngày từng giờ,
các hiện tượng thực tế HS phải tiếp xúc vô cùng phong phú. Nhưng việc đào tạo
lại bồi dưỡng thêm cho GV không được chú ý đúng mức, vì thế trong giảng dạy,
nhiều GV được đào tạo đúng chuyên ngành vẫn tỏ ra lúng túng chứ chưa nói đến
những GV trái môn. Do vậy, nhiều khi GV dạy không đúng kiến thức cho HS,
dẫn tới tình trạng HS học mà đôi khi không hiểu được bản chất của vấn đề.
Nói tóm lại, đội ngũ GV môn Công nghệ hiện nay chưa đáp ứng được yêu
cầu môn Công nghệ ở các trường phổ thông.
Môn Công nghệ là một môn mang tính ứng dụng cao. Hầu hết các nội dung
môn học đều gắn với những ứng dụng trong thực tiễn. Vì vậy, dạy học môn
Công nghệ có hiệu quả đòi hỏi phải có đầy đủ trang thiết bị cần thiết: Mô hình,
vật thật, nhà xưởng,… Môn Công nghệ là phân môn có khá nhiều nội dung trìu
tượng, nhiều khi giải thích HS cũng không hiểu được nhưng nếu được quan sát

24


bằng phương tiện trực quan kết hợp với lời giảng của GV thì HS có thể hiểu và
nắm bài rất nhanh.
1.3.2 Thực trạng các phương tiện trực quan hiện có dùng cho dạy học môn
công nghệ
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổng danh mục thiết bị dạy học
tối thiểu cấp THPT là 648 mục dành cho 18 môn học. Cụ thể đối với môn Vật lý
có 161 thiết bị bao gồm cả thiết bị dùng chung cho nhiều lớp và thiết bị dùng
chung cho các phân môn; Toán có 8 bộ thiết bị; Tin học và môn tiếng Trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status