BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC
Mai Thị Hoài Thư
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC
TINH THẦN CHO BỆNH NHÂN SAU
TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO CỦA
MỘT SỐ CƠ SỞ Y TẾ TẠI TPHCM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Mai Thị Hoài Thư
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC
TINH THẦN CHO BỆNH NHÂN
SAU TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
CỦA MỘT SỐ CƠ SỞ Y TẾ TẠI TPHCM
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: K38.611.109
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HUỲNH MAI TRANG
Nước ngoài ............................................................................................ 1
1.1.2
Trong nước ............................................................................................ 8
1.2
Cơ sở lý luận ....................................................................................... 13
1.2.1
Các khái niệm cơ bản của đề tài ......................................................... 13
1.2.2
Một số vấn đề lý luận có liên quan đến chăm sóc bệnh nhân TBMMN
............................................................................................................. 19
1.2.3
Đặc điểm tâm lý của bệnh nhân TBMMN.......................................... 21
1.2.4
Một số phương pháp chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN ... 27
TIỂU KẾT CHƯƠNG I .................................................................................. 31
Chương 2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CHĂM SÓC
TINH THẦN CHO BỆNH NHÂN SAU TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO Ở
Thực trạng nhận thức của các nhóm khảo sát ..................................... 38
2.2.2
Thực trạng đánh giá của các đối tượng về chăm sóc tinh thần cho bệnh
nhân TBMMN: ................................................................................................ 51
2.2.3
Thực trạng hoạt động chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN .. 53
2.2.4
So sánh sự khác biệt theo các nhóm đối tượng khác nhau trong việc
chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN: ................................................. 58
2.3
Đề xuất biện pháp ............................................................................... 61
TIỂU KẾT CHƯƠNG II ................................................................................. 63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 66
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 71
Phụ lục 1 .......................................................................................................... 71
Phụ lục 2 .......................................................................................................... 83
Phụ lục 3: ......................................................................................................... 89
Phụ lục SPSS ................................................................................................. 100
Điểm trung bình
ĐTB
Độ lệch chuẩn
ĐLC
Thứ tự
TT
Điểm trung bình điều hòa thang đo
ĐTBĐHTĐ
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1.Đặc điểm mẫu nghiên cứu ............................................................... 32
Bảng 2.2Cách đánh giá điểm thang đo 5 mức độ ........................................... 37
Bảng 2.3 Cách đánh giá điểm thang đo 3 mức độ .......................................... 37
Bảng 2.4 Nhận định của nhóm y tế về việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân
TBMMN (N=13) ............................................................................................. 38
Bảng 2.5. Nhận định của BN&NCS về việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân
TBMMN (N=22) ............................................................................................. 40
Bảng 2.6. Nhận định của nhóm y tế về biểu hiện trao đổi, giao tiếp với bệnh
cho bệnh nhân TBMMN theo các nhóm khảo sát........................................... 55
Bảng 2.21. Đánh giá mức độ thường xuyên thực hiện việc chăm sóc tinh thần
và vật lý trị liệu theo các nhóm khảo sát ......................................................... 57
Bảng 2.22. Sự khác biệt về mức độ hài lòng theoBN&NCS việc chăm sóc tinh
thần cho bệnh nhân TBMMN ......................................................................... 59
Bảng 2.23. Sự khác biệt về mức độ cần thiết của nhóm y tế trong việc chăm
sóc tinh thần cho bệnh nhân TBMMN ............................................................ 60
vii
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới WHO tại Mỹ mỗi năm có
khoảng 795.000 người xảy ra đột quỵ, trong đó khoảng 610.000 là lần đầu
tiên. Đột quỵ là một trong 20 nguyên nhân gây ra tử vong hàng đầu tại Mỹ.
Đột quỵ do thiếu mãu não cục bộ là loại phổ biến nhất, trong đó chiếm
khoảng 87%.
Còn tại Việt Nam thì mỗi năm có hơn 200.000 người bị đột quỵ
(TBMMN), hơn 50% trong số đó tử vong và 90% số người sống sót sau đột
quỵ phải sống chung với các di chứng về thần kinh và vận động…Nghiêm
trọng hơn, độ tuổi bị TBMMN đang dần trẻ hóa, từ 40 - 45 tuổi so với trước
đây là 50 - 60 tuổi.
Nếu những năm 90, toàn cầu có khoảng 25% số ca đột quỵ ở người 20 –
64 tuổi thì những năm gần đây, con số này đã tăng lên 31%. Đáng lưu ý là
những người ở độ tuổi 20, thậm chí trẻ hơn cũng đang có nguy cơ bị đột quỵ.
Hiện con số thống kê cho nhóm đối tượng này khoảng 83.000 người/ năm.
Một người sau TBMMN bị ảnh hưởng như thế nào phụ thuộc vào cơn
đột quỵ của họ xảy ra ở đâu trên não và mức độ tổn thương của các tế bào não.
Ví dụ, một người bị 1 cơn đột quỵ nhỏ thì chỉ có thể chỉ bị yếu tạm thời của
bệnh nhân sau tai biến mạch máu não của một số cơ sở y tế tại Thành Phố
Hồ Chí Minh”.
ix
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng chăm sóc tinh thần bệnh nhân sau TBMMN ở một
số cơ sở y tế tại TP.HCM, rút ra kết luận.
Từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường việc chăm sóc tinh
thần cho bệnh nhân sau TBMMN.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu:
Bác sỹ, nhân viên y tế, người chăm sóc và bệnh nhân TBMMN tại một số cơ
sở y tế.
Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng chăm sóc tinh thần bệnh nhân sau tai biến mạch máu não
4. Giả thuyết nghiên cứu
Trong quá trình điều trị cho bệnh nhân sau TBMMN thì điều trị bằng các
phương pháp vật lý trị liệu được sử dụng nhiều hơn so với việc chăm sóc tinh
thần cho bệnh nhân.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích hệ, thống hóa cơ sở lý luận về chăm sóc tinh thần cho bệnh
nhân TBMMN.
Khảo sát thực trạng chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân sau TBMMN ở
một số cơ sở y tế tại TP.HCM, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp tăng cường
hơn nữa việc chăm sóc tinh thần bệnh nhân sau TBMMN.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1.
- Phương pháp phỏng vấn.
Phỏng vấn một số nhân viên y tế, bệnh nhân, người nhà về phương pháp
chăm sóc tinh thần bệnh nhân ở một số cơ sở y tế.
1
Chương 1.
1.1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nước ngoài
Việc chú ý tới sự ảnh hưởng của các yếu tố tinh thần trong điều trị bệnh
cho các bệnh nhân đã được quan tâm từ lâu. Bệnh nhân được chú ý chăm sóc
tinh thần đầu tiên là những bệnh nhân hấp hối “hospice”.
“Hospices” ban đầu là nơi yên nghỉ dành cho du khách trong thế kỷ thứ
4. Vào thế kỷ 19 một dòng tu đã thành lập “hospices” cho người sắp chết ở
Ireland và London. “Hospice” hiện đại là một khái niệm tương đối mới được
bắt nguồn và phát triển trong Vương quốc Anh sau khi “St. Christopher’s
hospice” được thành lập vào năm 1967. Nó được thành lập bởi Dame Cicely
Saunders, bà được coi là người sáng lập của hoạt động “hospice” hiện đại
[44].
Mô hình truyền thống của chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân ban đầu
chỉ là một mô hình thuần y tế, tập trung nghiên cứu tiền sử của bệnh, tìm hiểu
cơ sở sinh lý của các triệu chứng, đưa ra các biện pháp để chữa khỏi bệnh,
tiếp theo là đo lường kết quả. Qua nhiều thập kỷ, mô hình này bộc lộ nhiều
khuyết điểm.
với gia đình, cộng đồng và nơi làm việc của họ. Cách tiếp cận này được biết
đến như là một cách tiếp cận toàn diện dễ dàng kết hợp vào quan điểm hiện
đại về chăm sóc bệnh nhân làm trung tâm, và các bệnh nhân như các đối tác
trong việc chăm sóc của họ. Ngoài ra thì người mà trở nên không khỏe có
những nhu cầu về xã hội và tâm lý. Đáp ứng những nhu cầu này sẽ cải thiện
sức khỏe của họ và giúp hồi phục. Nhu cầu tâm lý và xã hội của bệnh nhân
cũng cần phải được xem xét và giải quyết như là một phần của chăm sóc sức
khỏe toàn diện [28]. Việc chăm sóc tinh cho bệnh nhân còn được nghiên cứu
ở các lĩnh vực tâm linh. Sự kết hợp của tôn giáo và tâm linh vào chăm sóc
tâm lý là phù hợp với khuôn khổ tâm sinh lý từ nhiều nhà tâm lý học hoạt
3
động. Các quan điểm tâm sinh lý liên quan đến việc nhận ra các vấn đề của
bệnh nhân rất đa dạng, có những khía cạnh sinh học, tâm lý và xã hội (Bakal,
1999).
Có các nghiên cứu về tác động của tâm linh lên sức khỏe tinh thần theo
bài viết “Vị trí của tâm linh trong việc chăm sóc tinh thần cuối đời” (The
Place of Spirituality in Psychological End of Life Care) của 2 tác giả Erin L.
Moss và Keith Dobson. Các nhà nghiên cứu đã xác định tôn giáo như là một
biến quan trọng trong sức khỏe tinh thần (Koenig & Larson, 2001). Một đánh
giá toàn diện của Koenig, McCullough, & Larson (2001) chỉ ra rằng tôn giáo
có liên quan đến giảm tỷ lệ tự tử và thái độ tiêu cực hơn đối với hành vi tự tử.
Bài viết cũng đề cập đến các mối quan hệ giữa tâm linh và sức khỏe tâm
thần xuất hiện đặc biệt quan trọng trong trường hợp cần chăm sóc giảm
nhẹ. Ví dụ, Brady, Peterman, Fitchett, Mo và Cella (1999) đã nghiên cứu chất
lượng cuộc sống ở các cá nhân mắc bệnh ung thư hoặc HIV đã được chẩn
đoán là tính mạng bị đe dọa và thấy rằng có sự tỉ lệ thuận giữa mức độ của
tâm linh và khả năng chịu đựng đau đớn và mệt. Nghiên cứu này cũng chỉ ra
một căn bệnh [30].
Theo Học viện Bác sĩ gia đình Mỹ (American Academy of Family
Physicians) đánh giá tinh thần như bước đầu tiên để thực hiện việc kết hợp
xem xét về tinh thần của bệnh nhân vào y học. Các câu hỏi HOPE cung cấp
một công cụ chính thức có thể sẽ được sử dụng trong quá trình này. Các khái
niệm HOPE bao gồm:
H-nguồn gốc của niềm hy vọng, sức mạnh, thoải mái, ý nghĩa, hòa bình,
tình yêu và kết nối.
O-vai trò của các tổ chức tôn giáo đối với bệnh nhân.
P- vấn đề tâm linh cá nhân.
E- ảnh hưởng của việc chăm sóc y khoa và quyết định cuối đời.
[32]
5
Một nghiên cứu thăm dò được thức hiện bởi một nhóm các nhà khoa học
Timothy P. Daaleman, Barbara M. Usher, Sharon W. Williams, Jim Rawlings
và Laura C. Hanson của trường đại học Bắc Carolina, Mỹ (UNC) đã nghiên
cứu định tính bằng cách sử dụng các cuộc phỏng vấn và phân tích chỉnh sửa
với 12 bác sĩ và nhóm y tế khác, người mà được đề cử làm người chăm sóc
tinh thần bởi bệnh nhân sắp chết và người nhà của họ cho ra kết quả chăm sóc
tinh thần cho những bệnh nhân cuối đời có 3 quá trình: trao đổi, chia sẻ (being
present), mở rộng, thấu hiểu (opening eyes); tương tác (cocreating). Những
cuộc tiếp xúc, trao đổi, chia sẻ giữa người chăm sóc tinh thần và bệnh nhân là
vấn đề nổi bật, trong đó có góp mặt về sự gần gũi về thể chất là yếu tố quan
trọng có ảnh hưởng đến sự giao tiếp của người chăm sóc và bệnh nhân, giúp
cho người chăm sóc có thể chú ý tới họ một cách toàn diện hơn. “Openning
eyes” là quá trình mà người chăm sóc nhận ra và thấu hiểu những trải nghiệm
cá nhân của bệnh nhân bằng cách hiểu những quan điểm của bệnh nhân về
trong khi nhu cầu tôn giáo chỉ ra điểm số không quan tâm. Bệnh nhân ung thư
có điểm số cao hơn đáng kể so với bệnh nhân với bệnh đau mãn tính. Có một
sự liên kết yếu giữa sự cho đi tích cực và hài lòng cuộc sống và tỉ lệ nghịch
với các triệu chứng. Nhu cầu cho thanh thản có mối quan hệ không rõ ràng
với sự hài lòng về hiệu quả điều trị. Phân tích hồi quy cho thấy các bệnh tiềm
ẩn có liên quan vượt trội tới các nhu cầu tinh thần của bệnh nhân [27].
Đặc biệt đối với bệnh nhân bị TBMMN thì cũng đã có các nghiên cứu
về sự thay đổi của tâm lý, các vấn đề của sức khỏe tinh thần sau khi bị
TMMN.
Học viện Joanna Briggs đã nghiên cứu các kinh nghiệm tâm lý xã hội,
tinh thần của các đối tượng là là người già, chủ yếu ở độ tuổi từ 65 có ít nhất
1 lần bị đột quỵ cho thấy rằng giai đoạn đầu sau một cơn đột quỵ là một kinh
nghiệm mơ hồ và đáng sợ, nó làm thay đổi cuộc sống đối với hầu hết các cá
nhân. Các giai đoạn phục hồi liên quan đáng kể đến các yếu tố tâm lý, vật lý
7
để xây dựng lại cuộc sống của họ. Kết nối với những người khác và tinh thần
rất quan trọng trong quá trình phục hồi [26].
Theo bài viết của “Trầm cảm và các dấu hiệu khác liên quan đến sức
khỏe tâm thần tăng nguy cơ tử vong sau đột quỵ thiếu máu cục bộ”
(Depression and Other Mental Health Diagnoses Increase Mortality Risk
After Ischemic Stroke)của các tác giả Linda S. Williams, Sushmita Shoma
Ghose, Ralph W. Swindle được in trên tạp chí Tâm thần học Mỹ (The
American Journal of Psychiatry) tháng 6, 2004 đã đưa ra trong số 51.119
bệnh nhân nhập viện sau một cơn đột quỵ thiếu máu cục bộ và sống sót vượt
quá 30 ngày sau đó, trong đó có 2.405 (4,7%) nhận được chẩn đoán là trầm
cảm (ICD-9) và 2257 (4,4%) được chuẩn đoán là có rối loạn thần hoặc lạm
dụng khác trong vòng 3 năm. So với những người không có chuẩn đoán bệnh
đổi [33].
1.1.2 Trong nước
Các công trình trong nước nghiên cứu về sức khỏe tinh thần có thể kể đến tác
giả Phạm Minh Hạc. Ông đã đưa ra một số lý luận cơ bản về sức khỏe tinh
thần một cách khái quát trong bài đăng trên Tạp chí Tâm lý học số 1, 2008.
Theo giáo sư – viện sĩ Phạm Minh Hạc, nên phân tích cặp phạm trù “Thể chất
– Tinh thần” để hiểu sâu sắc hơn về sức khỏe tinh thần, theo ông: “phải xem
xét con người ở mức độ nào con người – cá thể, con người - cá nhân, con
người – nhân cách.” [4].
Nhóm nghiên cứu tâm lý học lâm sàng do PGS.TS Đặng Hoàng Minh
làm trưởng nhóm đã công bố các công trình nghiên cứu của nhóm mình có
liên quan đến thực trạng chăm sóc tinh thần tại Việt Nam hiện nay như:
- Nghiên cứu “Sức khỏe tinh thần của trẻ em Việt Nam: Thực trạng và các yếu
tố nguy cơ” hợp tác cùng PGS.TS Bahr Weiss - Trường ĐH Vanderbilt và
ThS. Nguyễn Cao Minh - Phòng Tâm lý học lâm sàng, Viện Tâm lý học được
thực hiện ở 60 địa điểm thuộc 10 tỉnh đại diện của Việt Nam, bao gồm 1314
9
cha mẹ của trẻ từ 6-16 tuổi và 591 vị thành niên từ 12-16 tuổi đã đưa ra kết
quả ngiên cứu gợi ý rằng có từ 12-13% trẻ em Việt Nam (trong độ tuổi 6-16)
gặp phải những vấn đề SKTT một các rõ rệt.
- Bài viết “Giáo dục và đào tạo sức khỏe tinh thần ở Việt Nam” (Mental Health
Education and Training in Vietnam) được in trong quyển sách “Giáo dục sức
khỏe trong bối cảnh: Một triển vọng quốc tế của sự phát triển giáo dục sức
khỏe trong trường học và cộng đồng địa phương” (Health Education in
Context: An International Perspective of the Development of Health
Education in Schools and Local Communities) xuất bản bởi nhà xuất bản
Sense năm 2012.
khỏe tinh thần và phương thức chăm sóc sức khỏe tinh thần có hiệu quả [12].
Bài báo cáo của 2 tác giả ThS. Trần Thành Nam và ThS. Nguyễn Ngọc
Diệp khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã đưa
ra các các nguyên tắc làm việc với trẻ có vấn đề về sức khỏe tinh thần [8].
Cũng trong hội thảo, hai tác giả trên cũng đưa ra mô hình can thiệp sức khỏe
tinh thần học đường đang được bước đầu thử nghiệm tại trường THPT Đinh
Tiên Hoàng, Hà Nội.
Nghiên cứu của tác giả Hoàng Cẩm Tú và cộng sự trên hơn 1500 trẻ tại
hai phường Kim Liên và Trung Tự (2000) cho thấy có tới 1,9% - 3% các em
có biểu hiện lo âu, trầm cảm.
Trong đề tài nghiên cứu “Xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe tinh thần
cho học sinh trung học phổ thông Đồng Nai” do Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ và
cộng sự thực hiện (1998- 2000) đã đưa ra mô hình mạng lưới chăm sóc sức
khỏe tinh thần – tâm thần học đường. Mô hình bao gồm sự phối hợp giải
quyết vấn đề từ 3 bên tham gia: trung tâm tham vấn, nhà trường, gia đình-xã
hội. Chức năng nhiệm vụ của từng bên trong mạng lưới được quy định cụ thể
11
rõ ràng, giúp cho việc vận hành mạng lưới được đạt được nhiều kết quả khả
quan trong việc giải quyết các vấn đề tâm lý của học sinh [18].
Trong bài viết đăng trên tạp chí Tâm lý học, số 6/2009 “Một số nguyên
nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh THPT chuyên Quảng Bình”, tác giả
Nguyễn Thị Hằng Phương đã nghiên cứu đối tượng học sinh chuyên Quảng
Bình và chỉ ra rằng có khoảng 21,66% học sinh có vấn đề về rối loạn lo âu
[13].
Ngoài các công trình nghiên cứu về sức khỏe tinh thần cho trẻ em thì còn
có các dự án chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ em như:
Dự án “Chăm sóc sức khoẻ tâm thần học sinh trường học thành phố Hà
trực tiếp quan các cơ quan quản lý hoặc thông qua kênh nóng nhận thông tin
trực tiếp; công đoàn, đoàn thanh niên tại từng cơ sở tổ chức các hoạt động
nhằm mang lại cho người lao động các cơ hội vui chơi hoạt động ngoài giờ
làm việc.
- Ghi nhận và bù đắp thỏa đáng với những giá trị lao động của nhân viên:
thang lương của Vinamilk đang xây dựng theo hệ thống Merce. Năm 2013, tỷ
lệ tăng lương bình quân là 22.7%, vượt trội so với tỷ lệ các năm trước (2012:
18.5%; 2011: 10%).
- Đào tạo và phát triển nhân viên: năm 2013 Vinamilk đã chi ra hơn 6,5
tỷ đồng để thực hiện các khóa đào tạo, phát triển kỹ năng của nhân viên [49].
Ngày 5/4/2015, tại TP.HCM đã diễn ra Hội thảo khoa học với chủ đề
"Mâu thuẫn trong doanh nghiệp và vấn đề chăm sóc tinh thần cho người lao
động". Đây là hoạt động do Hội khoa học - Tâm lý giáo dục và Liên đoàn Lao
động thành phố tổ chức nhằm tổng hợp những mâu thuẫn đang diễn ra trong
các doanh nghiệp và đề xuất những giải pháp phù hợp hữu ích nhất, góp phần
chăm sóc tốt hơn đời sống tinh thần cho người lao động. Trong buổi hội thảo,
các bên đã đi sâu phân tích và đưa ra kết luận nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn
trong doanh nghiêp chủ yếu là do: nhu cầu chăm sóc tinh thần chưa được đáp
13
ứng; vai trò thực tế của công đoàn và những khó khăn trong việc chăm sóc
đời sống tinh thần cho người lao động; các vấn đề về tiền công, tiền lương,
điều kiện ăn, ở, làm việc của người lao động… [50].
Thông qua những nghiên cứu, bài viết, thực tế nêu trên ta có thể thấy,
việc chăm sóc tinh thần ở Việt Nam còn rất hạn chế. Đặc biệt là chăm sóc tinh
thần cho bệnh nhân, việc chăm sóc tinh thần chỉ tập trung vào các bệnh nhân
sắp chết mà chưa thực sự quan tâm đến những bệnh nhân khác; và chủ yếu sử
dụng thuốc trong quá trình chăm sóc; đội ngũ nhân viên chuyên đảm nhận