Xác định tỷ lệ và yếu tố liên quan đến bệnh loãng xương, đánh giá hiệu quả công tác phòng chống loãng xương cho người trung niên tại thành phố hồ chí minh - Pdf 26

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH CỔ TRUYỀN QUÂN ĐỘI
*
TRẦN KHÁNH LINH
XÁC ĐỊNH TỶ LỆ VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH LOÃNG
XƯƠNG, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG
LOÃNG XƯƠNG CHO NGƯỜI TRUNG NIÊN TẠI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
Hướng dẫn khoa học
1. PGS.TS. LÊ VĂN CÁT
2. GS.TS. NGUYỄN NGỌC LONG
HÀ NỘI - 2015
3
MỤC LỤC
Mục lục i
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vii
Danh mục các biểu đồ x
Danh mục các hình, sơ đồ xi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1. TỔNG QUAN 3
1.1. Một số khái niệm về bệnh loãng xương 3
1.1.1. Định nghĩa loãng xương và giảm mật độ xương 3
1.1.2. Cấu trúc và chức năng của xương 3
1.1.3. Sinh lý xương và bệnh loãng xương 4
1.1.4. Nguyên nhân và phân loại loãng xương 5
1.1.5. Các dấu hiệu lâm sàng loãng xương nguyên phát và biến chứng 5
1.1.6. Các xét nghiệm thăm dò hình ảnh và chẩn đoán loãng xương 6
1.1.7. Điều trị và phòng bệnh loãng xương .8

2.6.3. Hạn chế sai số trong thu thập thông tin 57
2.7. Xử lý và phân tích số liệu 58
2.8. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 59
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60
3.1. Tỷ lệ loãng xương và một số yếu tố liên quan ở người dân từ
45 tuổi trở lên 60
3.1.1. Đặc điểm chung của người dân nghiên cứu trước can thiệp 60
3.1.2. Tỷ lệ loãng xương của người dân từ 45 tuổi trở lên 66
3.1.3. Một số yếu tố liên quan đến mật độ xương của người dân 67
3.1.4. So sánh một số đặc điểm của người dân nghiên cứu ở các
phường, xã nghiên cứu can thiệp và đối chứng 78
3.2. Xây dựng và đánh giá hiệu quảmột số biện pháp can thiệp cộng đồng
Phòng chống loãng xương 79
3.2.1. Kết quả xây dựng một số biện pháp can thiệp 79
3.2.2. Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp 83
Chương 4. BÀN LUẬN 93
4.1. Tỷ lệ loãng xương và một số yếu tố liên quan ở người từ 45 tuổi
trở lên tại thành phố Hồ Chí Minh trước can thiệp 93
7
4.1.1. Đặc điểm chung của người dân nghiên cứu trước can thiệp 93
4.1.2. Tỷ lệ loãng xương của người dân nghiên cứu trước can thiệp 94
4.1.3. Một số yếu tố liên quan đến mật độ xương 95
4.1.4. Yếu tố không liên quan đến loãng xương 107
4.2. Xây dựng và đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp 108
4.2.1. Kết quả xây dựng một số biện pháp can thiệp 108
4.2.2. Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp cộng đồng 114
4.2.3. Kết quả duy trì hoạt động mô hình can thiệp 123
4.2.4. Hạn chế của đề tài 124
KẾT LUẬN 125
KIẾN NGHỊ 127

: Bone Mineral Concent - Khối lượng khoáng xương
: Bone Mineral Density - Mật độ khoáng xương
: Body Mass Index - Chỉ số khối cơ thể
: Bình thường
: Cán bộ - Công chức viên chức
: Cán bộ y tế
: Cao đẳng-Đại học
: Confidence Interval – Khoảng tin cậy
: Câu lạc bộ
: Cộng sự
: Chỉ số hiệu quả
: Can thiệp
: Cộng tác viên
: Dual-Energy X-ray Absorptiometry-
Hấp thụ năng lượng kép X quang
: Huyện
: Hiệu quả can thiệp
: Hormon Replacement Therapy-
Liệu pháp hormon thay thế
: Kiến thức
: Không thường xuyên
: Loãng xương
: Mật độ xương
: Nhân viên y tế
: Parathyroid Hormone - Hormone tuyến cận giáp
: Phường
: Quận
: Odd Ratio- Tỷ suất chênh
9
RLHTÐR

Quỹ nhi đồng Liên Hiệp quốc
: United State Dollars – Đô la Mỹ
: World Health Organization-
Tổ chức Y tế thế giới
: Xã
10
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Nội dung Trang
1.1. Những yếu tố nguy cơ gây ra bệnh loãng xương 17
2.1. Địa điểm nghiên cứu mô tả và can thiệp 36
2.2. Nội dung biện pháp can thiệp trên các nhóm đối tượng 43
2.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương theo mật độ xương 50
2.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán xẹp đốt sống theo phương pháp Genant 51
2.3. Phân loại BMI theo WHO năm 2000 khu vực Châu Á 52
3.1. Phân bố tỷ lệ người dân nghiên cứu theo giới và nhóm tuổi 60
3.2. Phân bố trung bình cân nặng, chiều cao, BMI theo giới 60
3.3. Phân bố tỷ lệ người dân nghiên cứu theo đặc điểm nhân trắc 61
3.4. Phân bố tỷ lệ người dân nghiên cứu theo tiền sử bệnh và chiều cao 62
3.5. Phân bố tỷ lệ người dân nghiên cứu theo lối sống 63
3.6. Phân bố tỷ lệ phụ nữ nghiên cứu theo kinh nguyệt và số con 63
3.7. Phân bố tỷ lệ người dân trả lời đúng về kiến thức bệnh loãng xương 64
3.8. Phân bố tỷ lệ người dân nhận thông tin về loãng xương và nguồn nhận 65
3.9. Phân bố tỷ lệ người dân thực hiện hành vi có lợi và có hại cho xương 65
3.10. Phân bố tỷ lệ kiến thức và thực hành của người dân nghiên cứu 66
3.11. Phân bố tỷ lệ loãng xương của người dân nghiên cứu theo giới tính 67
3.12. Phân bố tình trạng mật độ xương theo trung bình BMD và giới tính 67
3.13. Liên quan loãng xương với giới tính người dân nghiên cứu 67
3.14. Liên quan loãng xương với nhóm tuổi theo giới tính của người dân 68
3.15. Liên quan loãng xương với với BMI của người dân 69
3.16. Liên quan loãng xương với yếu tố địa dư 70

3.38. Hiệu quả can thiệp về nhận thông tin bệnh loãng xương ở người có mật độ
xương thấp 90
3.39. Hiệu quả can thiệp về nguồn thông tin nhận được ở người có mật độ xương
thấp 90
3.40. Hiệu quả can thiệp về kiến thức đúng ở người có mật độ xương thấp 91
3.41. Hiệu quả can thiệp về thực hành phòng chống loãng xương ở người có
12
mật độ xương thấp 91
3.42. So sánh trung vị BMD, điểm kiến thức, điểm thực hành ở người có mật
độ xương thấp trước và sau can thiệp 91
3.43. Hiệu quả can thiệp về mật độ xương ở người có mật độ xương thấp 92
3.44. Hiệu quả can thiệp về kiến thức, thực hành ở người mật độ xương thấp 92
13
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ Nội dung Trang
3.1. Phân bố tỷ lệ tiền sử gãy xương do chấn thương nhẹ của người dân
nghiên cứu 61
3.2. Phân bố tỷ lệ thói quen uống sữa theo giới của người dân nghiên cứu 62
3.3. Phân bố tỷ lệ loãng xương của người dân nghiên cứu 66
3.4. Tương quan giữa BMD với tuổi của nam giới nghiên cứu 69
3.5. Tương quan giữa BMD với tuổi của nữ giới nghiên cứu 69
3.6. Tương quan giữa BMD với cân nặng, chiều cao, BMI của người dân
nghiên cứu 70
3.7. Tương quan giữa BMD với kinh nguyệt và số con của phụ nữ
nghiên cứu 72
3.8. Phân bố vị trí, số lượng và độ xẹp đốt sống ở người loãng xương 74
3.9. Tương quan giữa BMD với điểm kiến thức và thực hành của người dân
nghiên cứu 75
3.10. Phân bố tỷ lệ người có mật độ xương thấp hoàn thành can thiệp bằng viên
Calci-D sau 2 năm 89

[67].
Năm 2006, theo ước tính nước ta có khoảng 2,5 triệu người bị loãng xương, trong
đó 1,9 triệu người là phụ nữ, số người bị gãy xương do loãng xương khoảng 152.000
(phụ nữ 92.000 người). Dự báo đến năm 2030,số người mắc bệnh loãng xương sẽ là 4,5
triệu, trong đó có 3,4 triệu người là phụ nữ, số ngườibị gãy xương do loãng xương
khoảng 262.650 (phụ nữ 162.650 người) [37]. Hiện nay, một số nước trên thế giới đã
xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược quốc gia phòng chống loãng xương và gãy
xương như Mỹ, Úc, Canada, Châu Âu Những nội dung của chiến lược bao gồm các
hoạt động tăng cường thông tin
16
truyền thông nhằm gia tăng nhận thức của người dân về bệnh loãng xương, nhất là
ở lứa tuổi học đường.Tích cực điều chỉnh lối sống của người dân theo chiều hướng
có tác dụng phòng ngừa nhằm tối ưu hóa mật độ xương và làm giảm bớt mức độ
mất xương liên quan với tuổi.
Ở nước ta, chưa có những nghiên cứu quy mô quốc gia để biết tình hình loãng
xương, nhưng với tỷ lệ người cao tuổi như hiện nay, thì thật sự loãng xương là một
vấn đề y tế công cộng quan trọng. Thành phố Hồ Chí Minh có dân số hơn bảy triệu
người, là thành phố phát triển và đô thị hóa với tốc độ nhanh, mật độ dân số cao và
đa dạng mô hình bệnh tật. Thống kê năm 2009 tại Bệnh viện Chấn thương chỉnh
hình thành phố Hồ Chí Minh đã có 1442 người bệnh gãy cổ xương đùi, trong đó độ
tuổi từ 50 trở lên ở nam giới tỷ lệ 83%, ở nữ giới 66% và đa số có liên quan đến
loãng xương [29]. Do đó, với thực trạng về bệnh loãng xương hiện nay, thì rất cần
thiết phải có biện pháp can thiệp phòng chống bệnh đối với quần thể những người
trung niên trở lên. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “ Xác định tỷ lệ và yếu tố liên
quan đến bệnh loãng xương, đánh giá hiệu quả công tác phòng chống loãng
xương cho người trung niêntại thành phố Hồ Chí Minh” với mục tiêu nghiên cứu
sau:
1. Xác định tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến loãng xương ở người 45
tuổi trở lên tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2011;
2. Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp cộng đồng phòng chống

khung xương dưới hình thức tinh thể hydroxyapatite); Thứ tư xương còn là kho
chứa chất nền protein (50% chất hữu cơ: 25% chất nền và 25% nước). Chất nền có
18
90% là collagen loại I và 10% các protein khác; Và cuối cùng là bộ xương còn tham
gia điều hòa nội tiết và chuyển hóa năng lượng qua cơ chế liên quan đến leptin và
osteocalcin [108].
1.1.3. Sinh lý xương và bệnh loãng xương
Xương liên tục sửa chữa và tự làm mới trong một quá trình được gọi là tái mô hình.
Quá trình này có chức năng duy trì mật độ xương ở mức tối ưu. Ngoài ra, quá trình
tái mô hình còn có chức năng sửa chữa những xương bị tổn hại, kể cả khi xương bị
“vi nứt” (microcrack) hay gãy xương. Xương bị suy giảm khi các tế bào hủy xương
tạo ra những lỗ phân hủy sâu hoặc khi các tế bào tạo xương không có khả năng lắp
vào những lỗ hổng do các tế bào hủy xương để lại. Trong cơ chế hoạt động xương
chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như nội tiết tốestrogen và testosterone, là hai hormone
đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn tạo xương. Tác động của estrogen đến xương
là qua thụ thể estrogen (estrogen receptor-ER). Ảnh hưởng của estrogen đến quá
trình tái mô hình là làm giảm số lượng và hoạt động của tế bào hủy xương. Estrogen
còn tác động đến sự phát sinh, hình thành các enzym và protein qua những cơ chế
phức tạp liên quan đến các hormone khác. Estrogen tác động đến các tế bào tạo
xương và tế bào hủy xương để ức chế sự phân hủy xương ở mọi giai đoạn trong quá
trình tái mô hình xương. Ngay thời điểm hay sau thời kỳ mãn kinh, estrogen bị suy
giảm và hệ quả là mật độ xương cũng suy giảm nhanh chóng, nhất là trong 5 năm
đầu sau mãn kinh. Testosterone kích thích sự tăng trưởng của cơ và tác động tích cực
đến quá trình tạo xương. Testosterone còn sản sinh ra estrogen trong quá trình tác
động đến cơ và xương. Các chức năng tạo xương, hủy xương và chuyển hóa xương
nói chung được điều phối bởi một số yếu tố toàn thân và yếu tố nội tại. Các yếu tố
toàn thân có vai trò trong việc duy trì quân bình can-xi. Những yếu tố này bao gồm
các yếu tố tại chỗ ảnh hưởng đến sự vận hành của tế bào (các cytokin và colony
stimulating factors) và các yếu tố tăng trưởng (growth factors) kích thích sản sinh các
tế bào tạo xương và biệt hóa tế bào.

liệu pháp, bệnh đa u tủy, bệnh lý kém hấp thu ở ruột, cắt 2 buồng trứng, bệnh suy gan
suy thận mãn tính, bất động lâu tại giường, sử dụng thuốc chống co giật [27],[46].
1.1.5. Các dấu hiệu lâm sàng loãng xương nguyên phát và hậu quả loãngxương
Loãng xươngsau tuổi mãn kinh (típ 1): Đa số phụ nữ sau mãn kinh đều có giảm khối
lượng xương, nhưng quá trình này diễn ra chậm trong nhiều năm, chỉ đến khi mức độ
giảm vượt quá 25% người ta mới thấy xuất hiện các triệu chứng. Lúc đầu là đau mỏi
lưng, đau mỏi trong các ống xương dài, lưng còng dần, chiều cao giảm rõ, vận động
cột sống khó và đau khiến người bệnh không ngửa lưng được, đau ngày càng tăng,
20
đôi khi đau lan tỏa theo đường đi của các rễ và dây thần kinh (do có chèn ép ở tủy
sống), rất dễ gãy xương nhất là gãy xương ở phần dưới cẳng tay (gãy Pouteau
Colles) sau một va chạm nhẹ hoặc chống tay.
Loãng xương nguyên phát ở người già (típ 2) thường xuất hiện sau 75 tuổi ở
cả hai giới, có thể sớm hơn với những người nghiện thuốc lá, lạm dụng rượu bia, ít
vận động, dinh dưỡng kém, dùng các thuốc corticosteroid kéo dài Người bệnh thấy
đau mỏi xương nhất là vùng cột sống và vùng chậu hông, khả năng vận động giảm
nhiều, đau mỏi tăng sau hoạt động và khi thay đổi thời tiết nhưng đặc biệt nhất là chỉ
cần ngã hoặc va chạm nhẹ đã có thể xảy ra gãy xương. Vị trí gãy ở cổ xương đùi
chiếm tuyệt đại đa số trường hợp[41].
Hậu quả của bệnh loãng xương là gãy xương xảy ra sau một chấn
thương nhẹ. Vị trí gãy xương thường ở những nơi chịu lực của cơ thể như cổ
xương đùi, cột sống thắt lưng hoặc nơi dễ va chạm như cổ tay, xương
sườn Gãy xương do loãng xương thường chậm lành, phải nằm điều trị dài
ngày từ đó dễ dẫn đến biến chứng bội nhiễm như viêm phổi, nhiễm trùng tiểu,
loét do tỳ đè và làm tăng tỷ lệ tử vong. Ngoài ra, hậu quả lâu dài của gãy
xương do loãng xương đó là tàn phế, đau đớn khi vận động, chất lượng cuộc
sống của người bệnh giảm trầm trọng và đặc biệt là chi phí điều trị cao làm
tăng gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội.
1.1.6. Các xét nghiệm,thăm dò hình ảnh và chẩn đoán loãng xương
Trước đây các thầy thuốc lâm sàng thường sử dụng những xét nghiệm

T

=
iBMD − mBMD
SD
Trong đó, iBMD là mật độ xương đối tượng I, mBMD là mật độ xương trung
bình của quần thể trong độ tuổi 20-30 và SD là độ lệch chuẩn của mật độ xương
trung bình của quần thể trong độ tuổi 20-30 [40].
Tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương do WHO đề nghị 1994
* T-score> -1: Mật độ xương bình thường.
* -2,5 < T-score ≤ -1: Giảm mật độ xương.
* T-score ≤-2,5: Loãng xương
* Loãng xương + gãy xương trong thời gian gần đây: Loãng xương nặng.
22
Trong thực hành lâm sàng khi đo mật độ xương bằng phương pháp DXA được
phân chia thành hai khu vực: DXA trung tâm (vị trí đo ở cổ xương đùi, toàn xương
đùi, cột sống thắt lưng) và DXA ngoại biên (vị trí ở cẳng tay, ngón tay và xương gót
chân). Giá trị chẩn đoán thường dựa vào kết quả đo DXA ở trung tâm. Một nghiên
cứu tổng hợp có hệ thống (systematic review) với mục tiêu là sử dụng DXA ngoại
biên để đánh giá nguy cơ gãy xương, chẩn đoán, theo dõi và điều trị loãng xương đã
được thực hiện bởi Hiệp hội quốc tế đo mật độ xương lâm sàng vào năm 2007. Các
kết quả đo mật độ xương của nghiên cứu này được thực hiện từ thiết bị DXA ngoại
biên của các nhà sản xuất Cooper Surgical, Osteometer Meditech, Schick
Technologies, GE Medical Systems, Demetech, Osteosys và Aloka. Qua so sánh với
phương pháp DXA trung tâm, kết quả cho thấy đo mật độ xương bằng các thiết bị
DXA ngoại biên có thể được sử dụng để đánh giá nguy cơ gãy xương ở đốt sống và
toàn cơ thể ở phụ nữ sau mãn kinh, tuy nhiên khả năng dự báo gãy đốt sống yếu hơn
so với DXA trung tâm và siêu âm gót chân. Kết quả cũng cho biết phân loại chẩn
đoán loãng xương của WHO có thể chỉ áp dụng bởi đo DXA (trung tâm hay ngoại
biên) ở cổ xương đùi, toàn bộ xương đùi, xương đốt sống thắt lưng và 1/3 (33%)

-Chất điều hòa thụ thể chọn lọc estrogen (Selective Estrogen Receptor
Modulators- SERM): là một nhóm thuốc liên kết với các thụ thể estrogen và kích
hoạt trên một số mô liên quan. Raloxifen là một thuốc trong nhóm SERM được chấp
thuận trong dự phòng và điều trị loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh [28].
- Calcitonin được sản sinh từ tuyến giáp có chức năng ức chế các tế bào hủy
xương, kích thích ruột hấp thu can-xi và phốt-pho, đóng vai trò quan trọng trong việc
duy trì sự phát triển của xương và kiểm soát nồng độ can-xi.
- Bisphosphonat có tác dụng ức chế hoạt động hủy xương và gián tiếp kích
hoạt các tế bào tạo xương và đại thực bào. Hiện nay, bisphosphonat là thuốc điều trị
hàng đầu của loãng xương, nó có thể làm giảm ≥ 50% nguy cơ gãy xương và tăng từ
3-8% mật độ xương [36].
- Strontium ranelate: Thuốc đã được chấp thuận cho điều trị loãng xương ở
một số nước Châu Âu. Thuốc thường được dùng thay thế bisphosphonat khi có
chống chỉ định hoặc dùng sau khi kết thúc đợt điều trị bằng bisphosphonat. Cơ chế
tác dụng chưa rõ, nhưng được cho là có tác dụng kép, vừa kích thích tạo xương vừa
ức chế hủy xương [28].
24
1.2. TỶ LỆ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN LOÃNG XƯƠNG
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1. Tỷ lệ loãng xương trên thế giới
1.2.1.1. Tỷ lệ loãng xương ở Châu Âu
Châu Âu là một lục địa già hóa dân số sớm nhất, cứ mỗi 30 giây có một
người gãy xương do loãng xương. Vào năm 2000, những người 50 tuổi trở lên ở
Châu Âu ước tính có 620.000 người mới bị gãy xương hông, 574.000 người gãy
xương cẳng tay, 620.000 người xẹp đốt sống, số trường hợp gãy xương chiếm 34,8%
trên thế giới [77]. Gãy xương hông là hậu quả nặng nề nhất của loãng xương, là căn
nguyên gây tàn phế nghiêm trọng và dễ dẫn đến tử vong. Hầu hết gãy xương hông
xảy ra sau té ngã, 80% là phụ nữ và 90% ở người trên 50 tuổi [106]. Quy mô dân số
ở Châu Âu dự kiến sẽ tăng26%ở phụ nữ và36%ở nam giớitừ năm 2000 đến 2050, do
đó tỷ lệ loãng xương sẽ tăng gấp đôi trong 50 năm tới do bởi sự già hóa dân số và

mãn kinhcó nguy cơloãng xương vàgiảm mật độ xương là 7triệungười (28%tổng
sốphụ nữ).Riêng ở Rumani, nước nằm ở phía Đông Nam Châu Âu, theo thống kê thì
tỷ lệloãng xương khá thấp, ở phụ nữ sau mãn kinhước tính là 11,5%bị loãng xương
vàmột trong baphụ nữRumanibị loãng xươnghoặc giảm mật độ xương sau tuổi 55
[72].
1.2.1.2. Tỷ lệ loãng xương ở Châu Á
Trên thế giới, tình trạng gãy xương do loãng xương đã trở thành gánh nặng
chi phí cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà nó chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều bệnh khác
như bệnh tim, đột quỵ và ung thư vú [69]. Tại Hồng Kông, tỷ lệ mắc mới loãng xương
là 1% ở người từ 70 tuổi trở lên, tỷ lệ lưu hành loãng xương ở Malaysia là 24,1% vào
năm 2005. Mức độ lưu hành loãng xương ở người dân Châu Á cao hơn những nước
phương Tây do bởi chỉ số khối cơ thể và chiều cao thấp hơn [87]. Báo cáo về tỷ lệ gãy
xương hông từ nhiều quốc gia Châu Á cho thấy rằng tỷ lệ gãy xương thay đổi đáng kể
trong các quần thể khác nhau như Đài Loan,Singaporevà Hồng Kông, nó tăngtừ 4đến
5lần trong khoảng thời gian30 nămở Singapore và Hồng Kông gấp1,5 lần trong
khoảng thời gian15 nămtại Nhật Bản [83].
Ở Châu Á, rất nhiều trường hợp loãng xương chưa được chẩn đoán và điều
trị, ngay cả ở những người bệnh có nguy cơ cao nhất và đã thật sự bị gãy xương,
26
đặc biệt là người bệnh ở khu vực nông thôn. Trung Quốc là nước đông dân nhất trên
thế giới và sự gia tăng đáng kể dân số trong những thập niên gần đây đã dẫn đến một
số lượng lớn những người cao tuổi.Do đó, bệnh loãng xương ngày càng trở nên phổ
biến và sẽ tiếp tục tăng trên toàn Trung Quốc. Thống kê hiện nay cho thấy, tỷ lệ
chung của bệnh loãng xương ở Trung Quốc là gần 7% ở người trưởng thành, nếu từ
50 tuổi trở lên thì loãng xương ở nam là 22,5% và ở nữ là 40,1%, khu vực thành thị
chiếm từ 10-20%. Loãng xương đã ảnh hưởng gần 70 triệu người Trung Quốc trên
50 tuổi và đã gây ra 687.000 trường hợp gãy xương mỗi năm [70].
Ở Đài Loan, kết quả một nghiên cứu từ năm 2005-2008 cho thấy tỷ lệ loãng
xương ở người trên 50 tuổi nam giới là 23,9%, nữ giới 38,9%. Theo dữ liệu của Bảo
hiểm y tế quốc gia Đài Loan, trong thời gian từ năm 1996-2002, tỷ lệ gãy xương

viện và 14.000 tử vong do bệnh loãng xương từ năm 2003 đến năm 2007 [95].
1.2.1.4. Tỷ lệ loãng xương ở Mỹ La-tinh
Thống kê từ 14 quốc gia trong khu vực Mỹ La-tinh, dân số từ 50 tuổi trở lên
chiếm từ 13% đến 29% (Cục điều tra dân số Mỹ). Vào năm 2050, ước tính dân số
khu vực này tăng từ 28% đến 49%.Hiện nay, dữ liệu về tỷ lệ bệnh loãng xương ở
Mỹ La- tinh rất ít. Theo thống kê của 5 nước trong khu vực là Argentina, Brazil,
Colombia, Mexico và Puerto Rico, tỷ lệ xẹp xương đốt sống chiếm 14% dân số và
trong đó tỷ lệ xẹp xương đốt sống cao nhấtở phụ nữ 80 tuổi trở lên (38%). Dự
đoán vào năm 2050, số lượng gãy xương hông ở phụ nữ và nam giới tuổi từ 50-64
tại Mỹ La-tinh sẽ tăng 400% và đối với nhóm tuổi trên 65 sẽ tăng 700% [76].
Nghiên cứu về mật độ xương ở Mỹ La-Tinh đã cho kết quả 50-70% người dân từ
50 tuổi trở lên có mật độ xương thấp, 12-18% phụ nữ loãng xương ở cột sống, 8-
22% loãng xương ở cổ xương đùi [79]. Nghiên cứu mật độ khoáng xương tại
Argentina cho thấyhai trong bốnphụ nữ sau mãn kinh bịgiảm mật độ và một bị
loãng xương. Đến năm 2025, hơn ba triệu phụ nữdự kiến sẽ bị giảm mật độ xương
và sẽ tăng lên hơn năm triệutrong năm 2050.Tại Brazil có 33% phụ nữ sau mãn
kinh và 15,4% nam giới độ tuổi từ 65 tuổi trở lên bị loãng xương.Tỷ lệ xẹpxương
đốt sống ở phụ nữ 50 tuổi trở lên được ước tính là 14,2% và trong 21 triệu người ở
nhóm tuổi này thì có 2,9 triệu người đã và đang
28
sống với tình trạng xẹp đốt sống. Theo tính toán, ở Colombia có 2.609.858 người
giảm mật độ xương và 1.423.559người loãng xương ở phụ nữ 50 tuổi trở lên. Số
trường hợp gãy xương hông ở phụ nữ ước tính từ 8.000 đến 10.000 người mỗi
năm.Một nghiên cứu củaLAVOS(The Latin American Vertebral Osteoporosis
Study) ở phụ nữvànam giới Mexico về tỷ lệxẹp xương đốt sống,kết quả tạicột sống
thắt lưngloãng xương9% ở namgiới và 17% ở phụ nữ,giảm mật độ xương30%
namgiới và 43% ở phụ nữ.Nguy cơgãy xương hông trong suốt cuộc đời còn lại ở
người từ 50tuổitrở lên là 8,5%ở phụ nữvà3,8%ở nam giới. Riêng về xẹp đốt sống ở
phụ nữ Mexico tuổi từ 50-59 là 8,3% và nếu trên80 tuổi tỷ lệ này là 37,9% [76].
1.2.1.5. Tỷ lệ loãng xương ở Trung Đông và Châu Phi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status