BÀI TIỂU LUẬN MÔN 18
Chủ đề : Chăm sóc tinh thần cho phụ nữ sau đẻ . Những bất thường hay gặp và lập
kế hoạch chăm sóc
Loạn thần ở phụ nữ sau đê
I . Đặt vấn đề
Sinh đẻ là thời kỳ xảy ra nhiều thay đổi về sinh lý và tâm lý xã hội trong đời sống
của người phụ nữ. Những yếu tố này luôn đặt các bà mẹ mới sinh con vào nguy cơ
dễ mắc các bệnh tâm thần mà người bệnh, gia đình, các thầy thuốc sản khoa, nhi
khoa và tâm thần cần nhận biết sớm để có những can thiệp kịp thời .Mang thai và
sinh con là một giai đoạn có tính chất đột biến. Giai đoạn này đòi hỏi người phụ nữ
có sự tổ chức lại và thích nghi cả về mặt cơ thể và tâm thần. Do đó các vấn đề về
cảm xúc và tâm thần thường xuất hiện ở giai đoạn này, trong đó có loạn thần sau
đẻ. Thực tế lâm sàng cho thấy, loạn thần sau sinh là một nhóm bệnh khá phổ biến
và đây cũng là một hình thái nặng nề nhất trong số các bệnh tâm thần sau sinh. Tỉ
lệ cao nhất gặp trong 2- 3 tuần sau đẻ.
Loạn thần sau khi sinh (postpartum depression) là hiện tượng trầm uất, buồn chán
thường gặp ở phụ nữ sau khi sinh do họ không vượt qua được những thay đổi của
cơ thể và sinh hoạt. Loạn thần sau khi sinh cũng tương tự như trầm cảm hậu sinh
(baby blues) nhưng cảm giác buồn, trầm cảm kéo dài từ hơn 2 tuần trở lên và trầm
trọng hơn. Biểu hiện của bệnh thường kịch tính với sự khởi phát các triệu chứng
loạn thần ngay 48 đến 72 giờ đầu sau sinh. Đa số trường hợp có đầy đủ các triệu
chứng trong 2 đến 4 tuần đầu sau sinh.
II . Nội dung
1. Triệu chứng :
Sau khi sinh, nhiều phụ nữ không may bị loạn thần. Hầu hết trường hợp, ngay
chính bệnh nhân và người nhà đều không biết để được chữa trị kịp thời.
- hội chứng mất ngủ, dậy sớm vào buổi sáng .
- buồn chán và đau khổ.
- dễ bức xúc, cáu gắt với người thân, đặc biệt là chồng và mẹ chồng.
- thiếu năng lượng, kiệt sức kéo dài.
- tăng hoặc giảm cảm giác ngon miệng .
hưởng tới tâm thần.Bất cứ hành vi xâm phạm nào như xâm phạm tình dục, bạo lực
gia đình đều dẫn đến tổn thương tâm lý, tinh thần của họ. Trong thời kỳ mang thai
và sinh đẻ, do có nhiều biến đổi về sinh lý, sinh hoá phức tạp rất dễ xuất hiện bệnh
lý biểu hiện tâm thần ở các mức độ khác nhau.
- thiếu vitamin B12
- viêm tuyến giáp
- Bệnh gangliosid GM2 ở người lớn
- Dùng thuốc như Metronidazole (thuốc kháng sinh thường dùng trong sản khoa và
phụ khoa) liều cao, thuốc đồng vận dopamine hoặc thuốc ảnh hưởng chế độ ăn (để
giảm cân nhanh sau đẻ).
- Nhiều bệnh nhân không có sang chấn tâm lý, tức là mọi chuyện đều bình thường,
vẫn mắc bệnh. Người bị loạn thần sau sinh thường có thần kinh yếu, hay được
chiều chuộng, ít va vấp trong cuộc sống.
* Những nguyên nhân thông thường do Cơ quan Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa
Kỳ đưa ra :
- Thiếu ngủ sau khi sinh dẫn đến mệt mỏi, stress và trầm cảm.
- Cảm thấy có quá nhiều áp lực do từ các việc mới phải làm cũng như những thay
đổi khác trong cuộc sống. Họ thậm chí có thể cảm thấy không chắc chắn về các kỹ
năng làm mẹ của mình.
- Do tự đặt ra những kì vọng không thực tế cho chính bản thân
- Có ít thời gian dành cho bản thân, chồng và cho các việc muốn làm.
3. Thông tin và số liệu thống kê được :
Bác sĩ Lâm Xuân Điền, Giám đốc Trung tâm Sức khỏe tâm thần TP HCM, cho
biết, sau khi sinh, sản phụ thường có hội chứng sa sút tinh thần thoáng qua với biểu
hiện buồn, mất hứng thú, không chăm sóc cho đứa con. Hội chứng này chỉ kéo dài
tối đa bảy ngày. Sau thời gian này, nếu các biểu hiện đó vẫn tiếp diễn, hoặc người
mẹ có hành vi bất thường (nói lảm nhảm, kích động, sợ con mình chết ) thì phải
nghĩ ngay đến chứng loạn thần sau sinh (thường xuất hiện từ ngày thứ 5 đến ngày
thứ 25 sau sinh).
Khi đó, nếu không lập tức cách ly người mẹ khỏi đứa con và đưa đến bác sĩ ngay,
nữ sẽ tự tin hơn và tránh rơi vào tâm lý hoảng loạn, hoang mang khi phải bắt đầu
vai trò làm mẹ.Vấn đề quan hệ mẹ con cũng rất quan trọng. Không nên cách ly trẻ
khỏi người mẹ. Ở các nước tiên tiến, trong đơn vị điều trị bệnh nhân loạn thần sau
đẻ cũng có cả bộ phận chăm sóc trẻ mới sinh hoặc trẻ nhỏ nhằm tạo điều kiện cho
người mẹ vừa được điều trị vừa được tiếp tục phát triển mối quan hệ mẹ con.
Ngoài ra, người thân trong gia đình cũng nên quan tâm, chăm sóc và phát hiện sớm
các triệu chứng bất thường để điều trị. Việc phát hiện và điều trị sớm loạn thần sau
đẻ có ý nghĩa rất quan trọng. Các thành viên trong gia đình, nhất là người chồng
cần quan tâm đến những thay đổi tâm lý của phụ nữ sau khi sinh, giúp họ tránh
khỏi những căng thẳng ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và con, bày tỏ và an ủi một
cách chân thành những băn khoăn, lo lắng; chia sẻ, giải quyết những bức xúc tâm lí
của người mẹ trẻ. Tạo bầu không khí gia đình vui vẻ, hạnh phúc trong thời kỳ nuôi
con ban đầu là điều kiện tiên quyết để phát triển tâm sinh lý trẻ sau này.
Chứng loạn thần sau sinh có thể khỏi trong một thời gian tương đối ngắn nếu bệnh
nhân sớm được khám và điều trị. Vì vậy, nếu sản phụ có dấu hiệu nghi là loạn
thần, người nhà cần phải đưa đến bác sĩ chuyên khoa ngay.
Các chuyên gia khuyến cáo, khi phụ nữ sau sinh có những thay đổi khác lạ như:
hay cáu gắt, rối loạn giấc ngủ, đòi hỏi chồng và gia đình điều này điều nọ, khi được
đáp ứng rồi mà vẫn cáu gắt, không vừa ý mà kéo dài thành hệ thống thì cần nghĩ
đến khả năng mắc bệnh.
Ngoài ra, cần lưu ý các triệu chứng: giảm trí nhớ, hay mê sảng, rối loạn cảm xúc.
Các trường hợp nghi ngờ cần được đưa đi khám trước hết ở chuyên khoa sản để
các bác sĩ kiểm tra xem có bị sót nhau, tắc mạch ối, xuất huyết não, nhiễm trùng
hậu sản… bởi những vấn đề sản khoa có thể gây mê sảng và trục trặc về tâm lý.
Nếu không có vấn đề sản khoa, hoặc đã được giải quyết mà tinh thần vẫn bất
thường, cần đến bác sĩ tâm lý để điều trị.
* Cần lưu ý một số biểu hiện lâm sàng ở người mẹ như sau:
- Lo lắng thái quá về thai kỳ, khí sắc không ổn định, cảm xúc buồn khổ, trầm cảm,
than phiền nhiều về cơ thể, mệt mỏi.
- Đòi hỏi yêu sách đối với người thân.
- Trang bị những kiến thức cơ bản và tinh thần tốt nhất để chuẩn bị làm mẹ cho sản
phụ (việc chăm sóc bản thân và dứa trẻ).
- Giảm các biến động không có lợi cho bà mẹ .
- Cùng gia đình theo dõi đẻ phát hiện sớm các rối loạn tâm sinh lí, nhằm điều chỉnh
sớm, có hiệu quả .
* Thực hiện kế hoạch :
- Hướng dẫn và giúp đỡ bà mẹ cách tự theo dõi sau đẻ.
- Khuyến khích bà mẹ tự chăm sóc trẻ, nói chuyện với trẻ.
- Phát hiện và đánh giá đúng mức độ, tính chất bệnh của bà mẹ và những tác nhân
ảnh hưởng.
- Đánh giá cách thức phản ứng của bà mẹ đối với những thay đỏi của cơ thể cũng
như tâm sinh lý.
- Tiếp cận từ từ, không vội vã. Khuyến khích bà mẹ diễn đạt bằng lời những cảm
nghĩ của mình và lắng nghe một cách tập trung và có phản hồi tích cực. Thiết lập
và duy trì môi trường quan hệ an toàn và riêng tư giữa người hộ sinh và bà mẹ. Sử
dụng các câu hỏi mở, giúp bà mẹ diễn đạt những cảm nghĩ, tránh giận dữ nóng vội.
- Thông báo với bác sĩ tình hình bệnh ở bà mẹ.
* Đánh giá :
- Các thay đổi tâm lý sau đẻ diễn ra bình thường, bà mẹ ổn định tâm lý nhanh
chóng.
- Mối quan hệ giữa bà mẹ và đứa trẻ mới ra đời ngày một gắn bó, bà mẹ biết cách
tự chăm sóc trẻ và bản thân .
- Mối quan hệ giữa bà mẹ và các thành viên khác trong gia đình gắn bó, các thành
viên trong gia đình cùng tham gia chăm sóc bà mẹ và đứa trẻ.
- Rối loạn tự nhận thức nhẹ do sự biến đổi tâm sinh lý liên quan đến cuộc đẻ giảm
và mất dần.
- Rối loạn tâm thần nặng dần được khống chế và ổn định.
IV . Tài liệu tham khảo
-Vitinfo.com
-Quanph.net
cuộc sống (thí dụ như xích mích vợ chồng hoặc con cái rời nhà sống riêng) cũng có
thể gây ra bịnh trầm cảm nặng.Thế hệ thứ 1.5, sinh tại Việt Nam di tản và định cư
theo cha mẹ ở nước ngoài lúc còn nhỏ, cũng có những căng thẳng riêng của họ. Đó
là những mâu thuẫn về nguồn gốc của mình. Họ không hẳn là người Việt cũng
không hẳn là người bản xứ hoàn toàn nên có nhiều khó khăn trong việc đáp ứng
kết hợp văn hoá bản xứ với văn hoá của gia đình. Nếu theo phong tục của bạn thì
về nhà phụ huynh không vừa lòng, còn theo phong tục gia đình thì khó đáp ứng
được với bạn bè cùng trang lứa.
a.Dấu hiệu của bệnh trầm cảm:
Người Á Châu ít chịu công nhận những triệu chứng của bệnh trầm cảm vì những lý
do văn hoá. Hiện thời có rất nhiều sự hiểu lầm về bệnh trầm cảm. Xã hội tin rằng
những người bị trầm cảm là những người lười biếng với ý chí bị suy kém. Người ta
còn tin rằng bệnh trầm cảm là một bệnh tưởng tượng vì bác sĩ gia đình không tìm
được nguyên do thể chất của những triệu chứng đau nhức của bệnh trầm cảm. Một
số khác nghĩ rằng bệnh nhân trầm cảm có “tánh xấu” vì họ hay bực bội cau có gây
gổ với mọi người.Bệnh trầm cảm không giống như bệnh cảm, ta ngủ một đêm sáng
thức dậy thấy mệt mỏi và nghẹt mũi. Bệnh trầm cảm xảy ra rất chậm cho nên đôi
lúc bệnh nhân không nhìn ra được những dấu hiệu của nó vì những triệu chứng
trầm cảm tăng từ từ. Đến lúc bệnh trầm cảm trở thành nặng, người bẹnh không đi
làm được hay không sinh hoạt gia đình bình thường thì mới tìm bác sĩ để trị
bệnh.Vì những lý do trên mà những bệnh nhân Á Châu khi khai những triệu chứng
trầm cảm, họ ít khi chịu khai những triệu chứng tâm lý mà liệt khai những triệu
chứng thể xác đánh lạc hướng chẩn đoán của bác sĩ gia đình. Theo cách chẩn đoán
của khoa tâm thần thì hai triệu chứng chính để chẩn đoán trầm cảm là: buồn chán
(depression) và mất sự thích thú trong đời sống (anhedonia). Ít thấy những bệnh
nhân Á Châu than phiền về những triệu chứng này. Nếu có than phiền về sự mất
thích thú thì họ hay ghép vào đó một nguyên nhân chính đáng như cơ thể bị đau
nhức kinh niên chẳng hạn. Vì thế một số đông bệnh nhân Á Châu không được chẩn
đoán và trị liệu đúng mức.Những triệu chứng trầm cảm thường được thấy ở những
bệnh nhân Á Châu là những cơn đau nhức bất thường, giấc ngủ bị thay đổi (mất
chỉ khai báo với bác sĩ những triệu chứng thể xác.Những nghiên cứu chụp hình não
bằng PET scan hay fMRI cho thấy rằng khi bị trầm cảm, hệ thống limbic hoạt động
quá độ từ đó sinh ra những triệu chứng căng thẳng tinh thần như cau có, lo âu
phiền não, mất ngủ Hệ thống cortex (cortical system) hoạt động yếu, sinh ra
những triệu chứng như thiếu sự chăm chú, mất khả năng suy xét, mất sự nhậy bén
lanh lẹ Khi bệnh trầm cảm được điều trị thì những cái mất quân bình kể trên
được đổi chiều và quân bình trở lại.Khi bị trầm cảm lâu ngày, sự căng thẳng
thường xuyên sẽ tạo ra những kích thích tố xấu (glucocorticoids) làm giảm những
chất nuôi dưỡng tế bào thần kinh (Brain derived nerve growth factor-BDNF). Khi
glucocorticoids tăng và BDNF giảm thì sẽ làm hư hỏng một số tế bào thần kinh.
Nhóm tế bào thần kinh kết cấu hippocampus rất nhậy cảm với glucocorticoids. Khi
tế bào chết dần, cấu trúc này bị thoái hoá (atrophy). Hippocampus rất quan trọng
trong việc thành lập trí nhớ ngắn hạn. Vì thế khi bị stress hay trầm cảm lâu ngày
không trị liệu thì trí nhớ sẽ bị ảnh hưởng xấu. Khi lạm dụng xì ke ma tuý cũng có
tác động tương tự lên hippocampus.
c.Nguy cơ của bệnh trầm cảm không được điều trị đúng mức:
Có rất nhiều nguy cơ xảy ra khi bệnh trầm cảm không được điều trị đúng mức.
Nguy cơ ở cá nhân thì như đã kể ở phần trên là khi bị căng thẳng (stress) lâu ngày
thì sẽ làm hư hỏng nhiều phần của não bộ. Mới đầu ta chỉ thấy sự xáo trộn trong sự
phân phối hoạt động của các vùng trong não bộ, như vùng limbic hoạt động quá độ
còn vùng cortex hoạt động kém hơn. Khi để lâu sự mất quân bình này dẫn đến sự
xáo trộn về chất thần kinh giao nối (neurotransmitter imbalance) và sau đó dẫn đến
sự xáo trộn về nội tiết (endocrine imbalance). Khi nội tiết bị xáo trộn thì hiện nay
chưa có cách trị hữu hiệu vì khoa học chưa phát minh ra thuốc trị nội tiết mất quân
bình. Bệnh trầm cảm ảnh hưởng xấu đến các bịnh thể xác khác một cách gián tiếp
và trực tiếp. Căng thẳng của chứng trầm cảm làm bệnh nhân cảm thấy đau nhức
nhiều hơn người không bị trầm cảm. Khi uống thuốc thì họ bị phản ứng phụ nhiều
hơn vì sự căng thẳng làm giảm sự chịu đựng của cơ thể họ, do đó mà các bịnh khác
không được trị đúng mức. Khi bị trầm cảm nặng, bịnh nhân bị chán chường nên bỏ
bê việc uống thuốc thường xuyên, không tập thể dục và ăn uống bất thường làm
thay đổi cuộc sống và lối suy suy nghĩ để tránh bệnh trầm cảm trở thành nặng. Một
số người khi thay đổi cách suy nghĩ và lối sống thì căng thẳng (stress) giảm đáng
kể, từ đó mà các triệu chứng trầm cảm bớt đi và có thể hết. Thí dụ như giảm công
việc lại, làm ít giờ hơn, có nhiều thời gian sinh hoạt với gia đình, dành nhiều thời
giờ đối thoại với người phối ngẫu để san bằng cái hố hiểu lầm. Nếu là sinh viên thì
giảm số giờ học (units) lại, tăng thời gian nghỉ ngơi và ăn ngủ điều độ. Tránh lạm
dụng cà phê hay rượu chè. Tập thể dục thể thao cũng có khả năng làm giảm trầm
cảm. Tập thể thao thường xuyên sẽ làm tăng chất BDNF, giúp những tế bào thần
kinh sống lâu hơn.Tìm hiểu tôn giáo để học hỏi những cách sống cho tâm hồn thư
thản cũng là một cách phòng ngừa trầm cảm. Những nghiên cứu cho thấy tâm tĩnh
lặng (mindfulness) rất hữu hiệu trị lo âu và trầm cảm. Khi suy nghĩ lo âu nhiều quá
thì ta tạo căng thẳng cho hệ thống thần kinh. Khi hệ thần kinh làm việc quá độ thì
sẽ gây ra những triệu chứng lo ra và mất trí nhớ. Tâm tĩnh lặng tạo những thay đổi
tốt cho não bộ và được thể hiện qua sơ đồ điện não (EEG) và chụp hình PET scan.
Căng thẳng kinh niên sẽ gây ra bệnh trầm cảm. Tinh thần cạnh tranh, hơn thua tạo
ra rất nhiều căng thẳng và không thích hợp với bệnh trầm cảm. Nếu người có di
truyền trầm cảm, căng thẳng sẽ làm trầm cảm phát triển sớm hơn. Những pháp
môn tôn giáo như niệm Phật, cầu nguyện Chúa, hay thiền là những cách gián tiếp
hay trực tiếp dẫn đến tâm tĩnh lặng.Tâm lý học có những phương pháp tâm lý trị
liệu như tâm lý trị liệu nâng đỡ (supportive therapy), tâm lý trị liệu nhận thức và
hành động (cognitive behavioral therapy) để giúp người bị trầm cảm đi qua những
cơn khủng hoảng tinh thần và giúp họ hội nhập vào gia đình và xã hội. Tâm lý trị
liệu dùng tâm tĩnh lặng (mindful therapy) rất thành công ở những bịnh nhân bị ung
thư và trầm cảm đi đôi. Ở những bệnh trầm cảm nặng tâm lý trị liệu phối hợp với
thuốc men công hiệu hơn là trị thuốc men một mình.Nói về cách trị liệu bằng thuốc
thì hiện nay nhóm thuốc làm tăng Serotonin (Selective Serotonin Reuptake
Inhibitor- SSRI) rất phổ biến trong việc dùng trị liệu bệnh trầm cảm. Nhóm thuốc
này gồm có Fluoxetine (Prozac), Paroxetine (Paxil), Sertraline (Zoloft), Citalopram
(Celexa) và Escitalopram (Lexapro). Những loại thuốc trên có thể đều có công
dụng bằng nhau nhưng khác về phản ứng phụ. Bác sĩ tuỳ triệu chứng của bịnh nhân
chất của đứa trẻ, tuy vậy đáng mừng là bệnh này đáp ứng tốt với điều trị. Bệnh còn
có tên khác là Trầm cảm hậu sản, trầm cảm sau sanh. Ngoài ra ở những thời điểm
đặc biệt khác của cuộc đời, phái nữ cũng có nguy cơ cao như trầm cảm trong giai
đoạn tiền kinh nguyệt, rối loạn khí sắc liên quan đến thời kì mãn kinh.
Các triệu chứng có thể xuất hiện vào bất kỳ thời điểm nào đó trong năm đầu sau
sinh bao gồm:
-Tâm sự của một phụ nữ bị ảnh hưởng của bệnh trầm cảm sau sinh
-Cảm thấy mình không xứng đáng chăm sóc em bé
-Sao nhãng trong việc chăm sóc con
-Cáu ghắt với người khác
-Dễ lo âu và hoảng sợ
-Buồn bã
-Cảm thấy có tội
-Không còn thích thú với những thứ, hoạt động mình ưu thích trước kia
-Giảm thiểu giao tiếp với người khác
-Rối loạn giấc ngủ (thường là mất ngủ)
-Ăn uống thất thường
-An ủi không đem lại kết quả
-Cảm thấy trống rỗng
-Cảm thấy yếu ớt hoặc không còn sức lực
-Không cảm thấy thoải mái trong quan hệ tình dục
-Giảm khả năng diễn đạt chính xác khi nói hoặc viết
-Tuyệt vọng
-Lòng tự trọng thấp
Những ý nghĩ ám ảnh có thể xuất hiện và thường liên quan đến bạo lực đối với đứa
trẻ. Trong trường hợp bị nặng ý nghĩ và hành vi giết đứa trẻ ngay sau khi sanh có
thể xảy ra với những hoang tưởng hoặc ảo giác.Một số người có khả năng mắc
bệnh này cao hơn người khác điều đó có thể được dự đoán chính xác thông qua
một số đặc điểm ở người mẹ giúp phòng tránh từ xa, theo các nghiên cứu thì những
yếu tố sau sẽ làm tăng nguy cơ mắc trầm cảm sau sinh ở phụ nữ:
đựng những căng thẳng thần kinh, nỗi đau trên cơ thể, còn phải gánh thêm trách
nhiệm nuôi dưỡng một em bé, lại thêm nỗi lo về kinh tế, sức khỏe và mối quan hệ
ứng xử phức tạp giữa hai bên gia đình nội ngoại nữa, trọng trách làm vợ, làm mẹ,
làm con gái rồi lại làm con dâu… những vai trò cứ phải thay đổi nhanh chong
chóng. Trong một thời gian ngắn phải thay đổi quá nhiều vai trò, người có tố chất
tâm lý yếu đuối thì sẽ rất khó thích nghi ngay lập tức, nên nhiều khi có những việc
rất bình thường nhưng nếu cử chỉ ngôn từ của người xung quanh, thậm chí là thái
độ của chồng, mẹ chồng cũng có thể dẫn tới những ảnh hưởng nhất định đến tâm lý
sản phụ, dẫn tới tổn thương tinh thần. Đương nhiên, những nguyên nhân tâm lý,
sinh lý, kinh tế, quan hệ xã hội có dẫn tới bệnh trầm cảm hay không còn ảnh hưởng
bởi nhân tố di truyền và mức độ trưởng thành nhân cách của từng người. Quan tâm
đến những thay đổi tâm lý của sản phụ giúp họ tránh khỏi những căng thẳng không
những có tác dụng nhiều đến sức khỏe của sản phụ, mà còn tốt cho cả sức khỏe của
em bé nữa. Chứng trầm cảm sau sinh nếu được phát hiện sớm và được xử lý thỏa
đáng sẽ nhanh chóng biến mất. Điều quan trọng nhất là hãy dành cho sản phụ sự
quan tâm an ủi chân thành về tâm lý. Nếu không coi trọng điều này, thờ ơ lãnh
đạm với sản phụ, hoặc thậm chí trách móc, ngược đãi, thì đúng là đổ thêm dầu vào
lửa, càng khiến tình trạng u uất nặng thêm, sẽ dẫn tới trầm cảm sau sinh hoặc sinh
bệnh tâm thần sau sinh. Đề phòng chứng trầm cảm sau sinh, điều bắt buộc đầu tiên
là nâng cao tố chất tâm lý của phụ nữ, để họ hiểu được quá trình sinh lý mang thai,
sinh nở, sau sinh của phụ nữ là rất bình thường. Khi người phụ nữ mang thai, hãy
giúp họ có được những kiến thức liên quan đến vấn đề mang thai và tư vấn tiền
sản, thường xuyên chia sẻ, giúp họ giải quyết những bức xúc về tâm lý. Tâm trạng
vui vẻ trong thời kỳ mang thai cũng là một yếu tố vô cùng cần thiết, bởi những sản
phụ có tâm trạng buồn bã trong thời kỳ mang thai, sẽ có xu hướng mắc chứng trầm
cảm sau sinh nhiều hơn. Trầm cảm sau sinh cần được chẩn đoán và điều trị
sớm:Bệnh lý trầm cảm ở người mẹ có thể ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển
tình cảm, xã hội, ngôn ngữ, nhận thức… ở trẻ, vì một đứa bé 3 tháng tuổi đã có thể
cảm nhận và đáp ứng lại các biểu hiện tình cảm của người mẹ. Ảnh hưởng này sẽ
không dễ phát hiện nếu không có sự quan tâm của những người xung quanh.Điều
- Mức độ, tính chất của bệnh .
- Những tác nhân và ảnh hưởng tác động làm xất hiện và thay đổi tâm sinh lí của
sản phụ.
* Chẩn đoán :
- Rối loạn tâm thần ở dạng nhẹ hay nặng .
- Nguyên nhân, liên quan đến cuộc đẻ ?
- Những vấn đề cần chăm sóc về tinh thần, sức khỏe .
* Lập kế hoạch :
- Tăng cường sức khỏe cho bà mẹ 1 cách nhanh chóng .
- Trang bị những kiến thức cơ bản và tinh thần tốt nhất để chuẩn bị làm mẹ cho sản
phụ (việc chăm sóc bản thân và dứa trẻ).
- Giảm các biến động không có lợi cho bà mẹ .
- Cùng gia đình theo dõi đẻ phát hiện sớm các rối loạn tâm sinh lí, nhằm điều chỉnh
sớm, có hiệu quả .
* Thực hiện kế hoạch :
- Hướng dẫn và giúp đỡ bà mẹ cách tự theo dõi sau đẻ.
- Khuyến khích bà mẹ tự chăm sóc trẻ, nói chuyện với trẻ.
- Phát hiện và đánh giá đúng mức độ, tính chất bệnh của bà mẹ và những tác nhân
ảnh hưởng.
- Đánh giá cách thức phản ứng của bà mẹ đối với những thay đỏi của cơ thể cũng
như tâm sinh lý.
- Tiếp cận từ từ, không vội vã. Khuyến khích bà mẹ diễn đạt bằng lời những cảm
nghĩ của mình và lắng nghe một cách tập trung và có phản hồi tích cực. Thiết lập
và duy trì môi trường quan hệ an toàn và riêng tư giữa người hộ sinh và bà mẹ. Sử
dụng các câu hỏi mở, giúp bà mẹ diễn đạt những cảm nghĩ, tránh giận dữ nóng vội.
- Thông báo với bác sĩ tình hình bệnh ở bà mẹ.
* Đánh giá :
- Các thay đổi tâm lý sau đẻ diễn ra bình thường, bà mẹ ổn định tâm lý nhanh
chóng.
- Mối quan hệ giữa bà mẹ và đứa trẻ mới ra đời ngày một gắn bó, bà mẹ biết cách
chứng này là 50%.Các rối loạn tâm thần thường xuất hiện khoảng vài ngày đến 6
tuần sau sinh với nhiều mức độ khác nhau. Ở dạng trầm cảm nhẹ,sau khi sinh
khoảng 3 đến 4 ngày người mẹ thường thấy mệt mỏi.Các hoạt động vô cùng khó
khăn và vụng về,lo lắng thái quá đối với sức khoẻ của con và với bản thân,khóc lóc
vô cớ….Nếu bị trầm cảm nặng,từ trạng thái lo lắng,người mẹ trở lên buồn rầu hay
cáu gắt vô cớ,có những cư xử kì quặc với đứa con mới đẻ và những đứa trẻ
khác.Nếu tình trạng trầm cảm nặng kéo dài quá 2 tuần người mẹ sẻơi váo trạng thái
rố loạn hành vi với các biểu hiện như luôn cho rằng mình và con mắc bệnh hiểm
nghèo,buồn rầu hay khóc vô cớ,mất đi định hướng về không gian và thời
gian,không chủ động được bản thân,có những lời nói hay hành vi thô bạo,xúc
phạm tới mọi người xung quanh.Thậm chí nhiều người mẹ còn không quan tâm tới
con của mình bỏ mặc,hành hạ con,thậm trí giết hại hoặc tự sát.Sở dĩ,nguy cơ xảy ra
trầm cảm sau sinh cao như vậy là do bản thân người phụ nữ chưa có nhiều chuẩn bị
về tinh thần và hiểu biết nhất định về sinh sản.Cũng có thể là do nguyên nhân
khách quan từ phía gia đình,cơ quan….và đặc biệt là người chồng Nhưng quan
trọng hơn cả là do những biến đổi sinh lí trong cơ thể người mẹ.
NỘI DUNG
1. Khái niệm trầm cảm
Trầm cảm là gì?
_Trước khi biết trầm cảm sau sinh là gì thì ta định nghĩa trầm cảm trước,trầm cảm
là trạng thái kéo dài hơn với những biểu hiện về tình cảm.Người phụ nữ trong tình
trạng tinh thần không ổn định ,hay sốt ruột,nôn nóng,dễ bị kích động,lo lắng bồn
chồn không yên,mất ngủ,tinh thần suy kiệt,hay khóc một mình ,mất khả năng tập
trung.Trầm cảm có những mức độ nặng nhẹ khác nhau,có người thì mệt mỏi,làm
việc kém hiêu quả,ít quan hệ với bên ngoài luôn thu hẹp mình,gầy mòn,ốm
yếu,thường có ý định tự tử.
_Trầm cảm sau sinh là:
Một dạng của trầm cảm thường rối loạn về tinh thần ,thường gặp ở những phụ nữ
sau sinh,trước sinh và sau sinh vì sự thay đổi đột ngột các hormon trong cơ thể
người phụ nữ và sự thay đổi này đã tác động nên các cơ quan điều hòa cảm
-Chứng trầm cảm nhẹ
-Chứng trầm cảm nặng
-Chứng rối loạn kích ứng kèm theo tâm tính u sầu
-Chứng trầm cảm hậu sản
-Chứng rối loạn tính khí lưỡng cực
-Những chứng bệnh tâm thần sảy ra đồng thời
3.Nguyên nhân
Cho đến nay có nhiều giả thuyết nhưng chưa có giả thuyết nào giải thích được đầy
đủ tính chất của bệnh. Trong thực tế lâm sàng có thể chia trầm cảm làm ba nhóm:
a. Trầm cảm nội sinh:
Do sự thay đổi hoạt lực của các chất dẫn truyền thần kinh tại não mà ngày nay
người ta hướng nhiều đến giảm Serotonin ở thần kinh trung ương.
b. Trầm cảm ngoại sinh (còn gọi là trầm cảm tâm căn):
Xuất hiện sau các chấn thương tâm lý, thất tình, ly dị, thi trượt, mất việc làm, làm
ăn thua lỗ, người thân mất, con cái hư hỏng…
c. Trầm cảm thực tổn:
Do tình trạng bệnh lý cơ thể, gây ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên hoạt động
chức năng của não như các tổn thương tại não (u não, chấn thương sọ não), bệnh
nội tiết (suy chức năng tuyến giáp).
Do sinh khó,sau sinh ít được người thân chăm sóc,giúp đỡ trong việc chăm sóc bản
thân và em bé
Đã bị chứng trầm cảm hoặc trầm cảm sau sinh trước đó
Do tình trạng hôn nhân và điều kiện sống khi mang thai,sau đẻ:thai ngoài giá thú ,li
dị,thai tuổi vị thành niên,thất nghiệp………
Dù do nguyên nhân nào đi nữa thì hậu quả của trầm cảm cũng rất phức tạp và
nghiêm trọng như: Chán đời, nghiện rượu, nghiện ma túy, mất khả năng lao động,
tan vỡ cuộc sống gia đình, đặc biệt là tự sát. Theo thống kê ở Pháp, tỷ lệ chết do tự
sát vì trầm cảm lên đến 30-33% so với tổng số tự sát. Tự sát nằm trong số 10
nguyên nhân gây tử vong lớn nhất thế giới.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có đến 5% dân số thế giới có rối loạn trầm
ý muốn, phải tự chăm sóc con ban đêm, trở lại công việc hằng ngày sớm hơn 30
ngày, sinh con chậm hơn 10 ngày
Theo nghiên cứu này, trong thời kỳ hậu sản:
- 40,5% phụ nữ thường xuyên bị mệt mỏi, khó thở, khó ngủ, đầy hơi.
- Hơn 25% gặp khó khăn trong việc cho con bú.
Bác sĩ Ngọc cho biết, nguy cơ tái phát của tình trạng trầm cảm sau sinh ở phụ nữ là
50%.
6. Điều trị và phòng ngừa
Trầm cảm sau sinh tuy không phải là bệnh nghiêm trọng, nhưng nếu không có
phương pháp điều trị sớm và tích cực sẽ ảnh hưởng rất xấu tới sức khỏe cả tinh
thần và thể chất của người mẹ, của người cha, đặc biệt là của đứa trẻ. Trẻ nhỏ có
mẹ mắc chứng trầm cảm sẽ bị ảnh hưởng tính cách khi trưởng thành như rụt rè,
nhút nhát trước đám đông, rối loạn ngôn ngữ, nhận thức chậm, hành động tiếp thu
yếu hơn các bạn cùng trang lứa.
Để tinh thần của người mẹ sau khi sinh được ổn định, vui vẻ, thoải mái, ngay từ
khi bắt đầu mang thai, sản phụ và người thân, đặc biệt là người chồng, cần có
những biện pháp tâm lý thật tốt. Với các bà mẹ trẻ, ngoài việc đọc sách báo và học
hỏi kinh nghiệm về chăm sóc sức khỏe bản thân khi mang thai, chăm sóc và nuôi
dạy em bé Còn cần phải học hỏi các phương pháp xử lý những rắc rối khi gia
đình có thêm thành viên mới. Mang thai, sinh nở và nuôi dạy con là một biến động
rất lớn, thậm chí là có thể thay đổi hoàn toàn so với cuộc sống thời son rỗi. Người
mẹ sẽ vất vả hơn, mệt mỏi hơn, lo lắng nhiều hơn; thời gian dành cho bản thân, cho
người thân, cho sự nghiệp không còn nhiều; kinh tế xáo trộn; quan hệ thay đổi
Xác định được điều đó sẽ giúp các bà mẹ vượt qua những năm tháng khó khăn đầu
tiên khi gia đình có thêm thành viên mới.
Ngay từ thời kỳ thai nghén, nếu bắt đầu xuất hiện các triệu chứng của trầm cảm,
bên cạnh việc nghỉ ngơi, thoải mái, làm việc nhẹ nhàng, thai phụ rất cần sự động
viên, nâng đỡ tinh thần của người thân và bạn bè. Nếu có các rối loạn tâm thần
nặng thì cần được đưa đến khám tại các cơ sở chuyên khoa.
Sau khi sinh con vài ngày, người mẹ cần theo dõi các diễn biến tâm lý của chính
thân và đứa trẻ sau này.
- Phát hiện sớm các rối loạn tâm, sinh lý của bà mẹ nhằn điều chỉnh sớm, có hiệu
quả các rối loạn này.
3. Thực hiện kế hoạch chăm sóc:
- Hướng dẫn và giúp đỡ bà mẹ cách tự theo dõi sau đẻ.
- Khuyến khích bà mẹ tự chăm sóc trẻ, nói chuyện với trẻ.
- Hướng dẫn và giúp đỡ bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ.
- Phát hiện và đánh giá đúng mức mức độ, tính chất của các rối loạn tâm, sinh lý
của bà mẹ, phát hiện và đánh giá những tác nhân ảnh hưởng.
- Đánh giá cách thức phản ứng của bà mẹ đối với những thay đổi của cơ thể cũng
như của tâm, sinh lý.
- Tiếp cận một cách từ từ không vội vã. Khuyến khích bà mẹ diễn đạt bằng lời
những cảm nghĩ của mình,lắng nghe một cách tập chung và có phản hồi tích cực.
Thiết lập và duy trì mối quan hệ riêng tư giữa hộ sinh và bà mẹ. Sử dụng các câu
hỏi mở giúp bà mẹ diễn đạt những cảm nghĩ của mình, tránh dận dữ nóng vội.
-Thông báo với bác sĩ các rối loạn tâm thần ở bà mẹ.
* Đánh giá:
- Các thay đổi tâm lý sau đẻ diễn ra bình thường, bà mẹ ổn định tâm lý nhanh.
- Mối quan hệ giữa bà mẹ với đứa trẻ mới ra đời ngày một gắn bó, bà mẹ biết cách
cho trẻ bú đúng và tự chăm sóc trẻ.
- Mối quan hệ giưa bà mẹ với các thành viên khác trong gia đình gắn bó, các thành
viên trong gia đình cùng tham gia chăm sóc đứa trẻ.
- Các rối loạn tự nhận thức nhẹ do biến đổi sinh lý do liên quan tới quộc đẻ giảm
và mất dần.
- Các rối loạn tâm thân dần được khống chế và mất dần.
KẾT LUẬN:
Tôi, bạn, bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể rơi vào trạng thái trầm cảm sau sinh
vì chúng ta là những người phụ nữ gánh trên vai mình trách nhiệm làm mẹ. Khi
được may mắn là một nữ hộ sinh tôi luôn mong muốn đem kiến thức của mình để
có nh ững điều tôt đẹp nhất đến với sản phụ của mình và đứa con của họ sau mỗi
Nhiều người mẹ sau khi “ vượt cạn” thường rơi vào trạng thái thoát vui, thoát
buồn, hay lo âu, mệt mỏi, dễ xúc động, ăn không ngon, luôn có cảm giác bồn chồn,
mau nước mắt mà không rõ lý do. Y học gọi đó là chứng trầm cảm sau sinh. Chứng
bệnh này đang ngày càng “ tấn công” mạnh vào những phụ nữ hiện đại. Sau khi
sinh nở, đời sống tinh thần của phụ nữ thường có nhiều thay đổi và xáo trộn. Tuy
nhiên, nhiều phụ nữ chưa chuẩn bị tâm lý cho vấn đề này, do đó thường dễ rơi vào
các sang chấn tâm lý, thậm chí làm một số rối loạn tâm thần, trong đó trầm cảm
sau sinh chiếm đa số. Người mẹ rất dễ bị trầm cảm, không hứng thú chăm sóc con,
nặng hơn sẽ nói nhảm, dễ bị kích động…
-Sản phụ sau sinh thường có hội chứng mất ngủ sa sút tinh thần thoáng qua khiến
họ buồn và đau khổ.Có người lại dễ cáu bẳn hoặc bận tâm quá mức đến hình dáng
cơ thể, ám ảnh lo con chết…Theo thống kê, 77,9% phụ nữ sinh con đầu lòng có
nguy cơ bị loạn thần cao gấp 35 lần so với những người sinh con dạ, tuổi khởi phát
trung bình là 26,3.
II / Nội dung:
1.Trầm cảm là gì?
-Trầm cảm là một tình trạng bệnh lí mà người bệnh cảm thấy mệt mỏi, buồn bã
chán nản, thấy cuộc sống vô nghĩa, không có hứng thú, không thiết sống, không có
hy vọng, họ mất tự tin, cảm thấy mình thấp kém và bất lực.
-Trầm cảm là bệnh khá phổ biến, nhiều khi bị bỏ sót, không được chuẩn đoán
ra.Trầm cảm xảy ra ở mọi người mọi lứa tuổi, phụ nữ hay bị trầm cảm hơn nam
giới. Ít nhất 10% những người đi khám bệnh ngoại trú bị trầm cảm, ngay cả một
nửa số người mang bệnh cơ thể cũng có những nét trầm cảm.
2.Trầm cảm sau khi sinh la như thế nào?
-Trung y cho rằng, người phụ nữ dựa vào khí và huyết la chính.Do kinh nguyệt
mang thai, sinh nở nuôi con bằng sữa mẹ…Làm hao tổn rất nhiều huyết dịch, khiến
cơ thể người phụ nữ luôn trong tình trạng mất cân bằng âm dương.
-Tinh thần của phụ nữ sau sinh rất dễ thay đổi, hiện tượng thường thấy là tâm trạng
không ổn định, hay sốt ruột, nôn nóng, dễ bị kích động, lo lắng không yên, mất
ngủ, tinh thần suy sụp, u uất, rất dễ rơi nước mắt, hiện tượng này thấy rất rõ
mình, bỏ mặc, hành hạ con thậm chí giết hại hoặc tự sát.
-Chứng trầm cảm sau sinh là kết quả của giữa sự thay đổi tâm lý và hệ thống nội
tiết.Theo kết quả điều tra của ông Hamilton, một chuyên gia tâm thần học nổi tiếng
trên thế giới cho thấy: số sản phụ sinh con trong vòng 1 tháng cần đưa đến các
khoa tâm thần điều trị cao cấp gấp 18 lần số phụ nữ trong thời kỳ mang thai.Sinh
nở khiến cho hệ thống nội tiết trong cơ thể phụ nữ thay đổi 1 cách mạnh mẽ, tiền
liệt tuyến tố tăng nhanh trong thời kỳ mang thai rồi lại giảm mạnh khi sinh nở,
lượng hoocmon vỏ tuyến thượng thận và hoocmon nữ cũng giảm mạnh đồng thời
tăng tiết hoocmon năm, sự thay đổi về sinh lí 1 cách quá mạnh sẽ khiến sản phụ dễ
bị rơi vào tình trạng mất cân bằng sinh lí, tạo cơ sở hình thành dạng bênh lí có trở
ngại về tâm lí.
-Cần phân biệt giữa cơn buồn thoáng qua sau khi sinh – một phản ứng bình thường
của sản phụ sau khi sinh, với tình trạng trầm cảm sau sinh. Ở “cơn buồn thoáng
qua sau khi sinh” người mẹ thường thấy mệt mỏi lo lắng.Tình trạng này thường
xuất hiện sau sinh và kéo dài vài ba ngày thì chấm dứt.Nhưng nếu tình trạng trên
kéo dài hơn 10 ngày với các triệu chứng ngày càng nặng hơn như: luôn cảm thấy
buồn, không quan tâm đến sự việc xung quanh, ăn không ngon dẫn đến sụt cân,
khó ngủ luôn cảm thấy mệt mỏi, hay khóc không lý do, thấy bản thân vô giá trị
hoặc có một tội lỗi gì ghê gớm luôn bồn chồn, lo âu dễ tức giận, bi quan về tương
lai, không muốn chăm sóc con hay sợ mình sẽ làm hại đứa bé thì bệnh nhân bị rối
loạn trầm cảm sau sinh.
3.Triệu chứng:
Dấu hiệu trầm cảm sau sinh:
-Cảm thấy mình không xứng đáng chăm sóc em bé.
-Sao nhãng trong việc chăm sóc con.
-Cáu gắt với người khác.
-Buồn bã dễ lo âu và hoảng sợ.
-Không còn thích thú với những thứ, hoạt động mình ưa thích trước kia.
-Ăn uống thất thường.
-Tuyệt vọng long tự trọng thấp cảm thấy yếu ớt hoặc không còn sức lực.
sinh ra hoặc đối với bản thân, cơ thể mệt mỏi. Các hoạt động của người mẹ trở nên
rất khó khăn ngay cả việc cho con bú cũng thực hiện rất vụng về vất vả.
+) Trầm cảm nặng: lúc đầu người mẹ cảm thấy lo lắng sau đó trở nên buồn rầu hay
cáu gắt vô cớ có những xử sự kỳ quặc với đứa con mới đẻ và những đứa trẻ khác.
6.Ảnh hưởng của bệnh:
-Nhiều nguy hiểm đe doa đứa trẻ trầm cảm sau sinh là một loại bệnh cần phải điều
trị sớm vì nếu người mẹ có kèm them hoang tưởng thì có thể bệnh nhân sẽ làm hại
con. Đó là những người mẹ nghĩ rằng con mình bị ma quỷ nhập, con mình chắc
chắn sẽ cả số phận bi thảm.Nếu trầm cảm sau sinh kèm theo ảo thanh mệnh lệnh,