Báo cáo thực tập Văn hóa và Xã hộị: Tìm hiểu Đền đức hoàng ở Yên Thành Nghệ An - Pdf 37

MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................1
LỜI CẢM ƠN......................................................................................................3
MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
1.Lý do chọn đề tài..........................................................................................................................1
2.Mục đích nghiên cứu...................................................................................................................2
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu...................................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................................................2
5. Đóng góp đề tài..........................................................................................................................2
6. Bố cục của đề tài.........................................................................................................................3

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY...............4
GIÁ TRỊ DI TÍCH...............................................................................................4
1.1.Khái niệm di tích.......................................................................................................................4
1.2.Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa............................................................................................4
1.3.Khái niệm di sản văn hóa..........................................................................................................4
1.4.Khái niệm bảo tồn....................................................................................................................5
1.5.Khái niệm phát huy...................................................................................................................5

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ
CỦA KHU DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỀN ĐỨC HOÀNG_ YÊN THÀNH_
NGHỆ AN............................................................................................................6
2.1. Khái quát chung về huyện Yên Thành......................................................................................6
2.1.1. Điều kiện tự nhiên................................................................................................................6
2.1.2. Tiềm năng kinh tế.................................................................................................................8
2.1.3. Điều kiện xã hội....................................................................................................................9
2.1.3.1.Lịch sử hình thành............................................................................................................10
2.1.3.2.Cách tổ chức dân cư.........................................................................................................11
2.1.4. Truyền thống lịch sử văn hóa..............................................................................................11
2.2. Gía trị của khu di tích văn hóa lịch sử Đền Đức Hoàng..........................................................12
2.2.1. Vị trí địa lý...........................................................................................................................12

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho tôi xin được nói lời cảm ơn chân thành tới thầy Hoàng
Văn Của, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài này. Ngoài ra tôi
xin được cảm ơn các thầy cô trong khoa Quản lý văn hóa nghệ thuật đã cho tôi
những đóng góp quý báu trong quá trình iến hành làm đề tài này.
Trong quá trình thu thập tài liệu tôi cũng nhận được sự quan tâm giúp đỡ
nhiệt tình của các bác làm việc trong đền Đức Hoàng, các cô chú trong UBND
xã Phúc Thành, thư viện trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội đã giúp tôi hoàn
thành bài này.
Mặc dù vậcó nhiều cố gắng, song kinh nghiệm còn thiếu, thời gian thu
thập tài liệu và tìm kiếm không dài nên bài không tránh được thiếu sót. Tôi rất
mong nhận được sự đóng góp chân thành từ phía thầy cô để hoàn thành bài được
hòn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội ngày 15 tháng 4 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Linh


MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài.
Hoạt động văn hóa nói chung và bảo tồn,kế thừa và phá huy những giá trị
văn hóa truyền thống nói riêng luôn được Đảng và nhà nước ta quan tâm. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã xác định: Văn hóa là một căn bản của xã hội đồng thời
Người cũng nêu rõ trong cuộc kiến thiết nước nhà có 4 vấn đề cần chú ý đến
cùng phải coi trọng lẫn nhau là: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa.
Bước sang thời kỳ đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, xây dựng chủ nghiã xã hội nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu:
“dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”, Đảng ta khẳng định: “ Văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy

xuất hợp lý để khắc phục và hoàn thiện nó.
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
a. Đối tượng nghiên cứu: khu di tích lịch sử Đền Đức Hoàng ở Yên
Thành_Nghệ An.
b. Phạm vi nghiên cứu.
+ Thời gian: từ 2012 đến 2014
+ Nội dung: Những giá trị văn hóa, tâm linh và những nét đặc sắc của
đền.
4. Phương pháp nghiên cứu.
_ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
_ Phỏng vấn, tìm hiểu ở người dân địa phương
_ Phỏng vẩn cán bộ của huyến Yên Thành và xã Phúc Thành
_ Phương pháp quan sát, ghi chép thông tin thống kê, phân tích và rút ra
các kinh nghiệm cho bản thân.
5. Đóng góp đề tài.
_ Phục vụ một cách hệ thống về úa trình xây dựng, trùng tu, tôn tạo các
khu di tích trên địa bàn huyện Yên Thành.
_ Phân tích được giá trị lịch sử và giá trị văn hóa của các di tích, mức độ
ảnh hưởng của các di tích đối với nhân dân trong vùng.
_ Đề xuất một số biện pháp nhằm phát huy, bảo tồn các di tích lịch sử
văn hóa trên địa bàn huyện nhà.

2


6. Bố cục của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội
dung chính của đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của bảo tồn và phát huy giá trị di tích
Chương 2: Thực trạng bảo tồn và phát huy các giá trị của khu di tích Đền

tích chiến thắng Điện Biên Phủ, khu di tích lịch sử cách mạng Pác Pó...
1.3.Khái niệm di sản văn hóa.
Di sản văn hóa là sản phẩm vật chất và tinh thần có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học được lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng nhiều hình thức.
Di sản văn hóa dân tộc kết tinh trí tuệ, ý chí, tình cảm và công sức của
mỗi cá nhân, tập thể để hình thành nên một chuẩn mực giá trị xã hội, phản ánh
những sắc thái riêng biệt và truyền thống tố đẹp của từng dân tộc. Di sản văn
4


hóa dân tộc ghi dấu ấn của mỗi thời đại, là bức thông điệp của các thế hệ đi
trước gửi lại cho thế hệ hôm nay, là chứng tích phản ánh bước đi của mỗi dân
tộc trải qua những giai đoạn lịch sử nhát định.
1.4.Khái niệm bảo tồn.
Bảo tồn là sự quản lý, sử dụng của con người về mọi lĩnh vực nhằm thu
được lợi nhuận bền vững cho thế hệ hiện tại trong khi vẫn duy trì tiềm năng để
đáp ứng những yêu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai.
1.5.Khái niệm phát huy.
Phát huy là từ các giá trị có sẵn có thể mở rộng lợi ích của đói tượng theo
chiều hướng tích cực mà không làm mất đi hoàn toàn bản chất của đối tượng.

5


CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ
CỦA KHU DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỀN ĐỨC HOÀNG_ YÊN THÀNH_
NGHỆ AN.
2.1. Khái quát chung về huyện Yên Thành.
2.1.1. Điều kiện tự nhiên.
Huyện Yên Thành nằm ở phía đông bắc tỉnh Nghệ An, trong tọa độ

Về địa hình, huyện Yên Thành tựa hình lòng chảo, ba phía bắc, tây, nam
là rừng núi và đồi thấp, ở giữa và phía đông là vùng trũng tiếp giáp với huyện
Diễn Châu; với chiều dài gần 40 km từ bắc xuống nam, chiều rộng gần 35 km từ
đông sang tây. Nơi gần bờ biển nhất là xã Đô Thành (6km). Đỉnh Vàng Tâm với
độ cao 544 m, là ngọn núi cao nhất huyện nằm ở phía bắc xã Lăng Thành. Nơi
thấp nhất là cánh đồng trũng dọc kênh Biên Hòa, xã Vĩnh Thành, cao 0,2 m so
với mực nước biển. Phía bắc huyện là dãy núi Bồ Bồ, phía tây và tây nam là đồi
núi có các thung lũng, hang động tạo nên nhiều cảnh quan đẹp.
Từ thế kỷ X trở về trước, vùng đồng trũng huyện Yên Thành thường bị
ngập nước. Từ thời Tiền Lê, thời Lý, công cuộc di dân, khai hoang được đẩy
mạnh đã tạo lập nên những hương ấp, làng xóm. Đặc biệt, từ thời Trần, vùng
biên viễn xưa kia đã trở thành những cánh đồng trù phú, là vựa lúa của vùng,
đồng thời cũng là nơi tập trung đông đảo các cư dân nông nghiệp trồng lúa
nước.
Hệ thống sông ở Yên Thành không nhiều và không có con sông nào lớn,
hầu hết là các con sông ngắn và nhỏ. Sông Dinh bắt nguồn từ động Trọc (xã
Quang Thành cũ) theo khe Cấy và một nhành từ các làng Đồng Trổ, Đồng Mai
theo khe Vằng, hợp lưu với nhau chảy qua xã Tràng Thành sang các làng Long
Hồi, Tích Phúc xuống sông Điển. Sông Dền bắt nguồn từ động Huyệt chảy qua
xã Phúc Thành, Kẻ Dền đổ xuống sông Sọt. Bàu Sừng bắt nguồn từ động Mồng
Gà chảy về các làng Quỳ Lăng, Yên Mã, Thành Đạt, Tiên Bồng đổ xuống sông
sở. Khe Nhà Trò, khe Mã Tổ bắt nguồn từ hòn Câu, hòn Sường chảy về các làng
Phúc Lộc, Phúc Trạch, Thọ Trường, Lạc Thổ. Ở phía nam, do đồi núi trọc nên
không có nguồn ánh sinh thủy chảy đều, chỉ có một số khe và bàu như khe
Ngọng. bàu Mậu Long, bàu Chèn, bàu Liên Trì chảy về sông Vũ Giang rồi
xuống sông Điển. Khe Cát chảy qua các làng Tràng Sơn, Lương Hội về sông
Điển. Sông Điển chảy qua các xã Khánh Thành, Long Thành, Vĩnh Thành hợp
7





Kinh tế phát triển khá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng.
Giá trị sản xuất 2.518 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân
14,38%/năm. Cơ cấu kinh tế: Nông – lâm nghiệp – thuỷ sản từ 58,8% xuống còn
47,32%, Công nghiệp – Xây dựng cơ bản từ 14,7% lên 24,85%, Dịch vụ từ
26,5% lên 27,83%. Thu nhập bình quân đầu người 12 triệu đồng/năm, tăng 2,7
lần so với đầu nhiệm kỳ.
- Nông nghiệp – nông thôn có bước phát triển. Giá trị sản xuất ngành
nông nghiệp 874 tỷ đồng. Sản lượng lương thực 180.000 tấn. Đàn trâu tăng
1,1%; bò tăng 3,2%; lợn tăng 4,1%; gia cầm tăng 18,1% so với đầu nhiệm kỳ.
Diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 2.005 ha, Sản lượng đạt 4.050 tấn, tăng
bình quân mỗi năm 19,1%.
Diện tích trồng rừng tăng 12,5%/năm. Tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 40,6%.
Giá trị sản xuất của ngành tăng bình quân 11,4%.
- Công nghiệp – Xây dựng cơ bản phát triển đúng định hướng, tổng giá
trị sản xuất đạt 1.053 tỷ đồng, tăng 18,75%.
Sản phẩm công nghiệp tăng mạnh: Tinh bột sắn tăng 28,5%/năm; đá xây
dựng tăng 12%; phân NPK tăng 21,6%; gạch nung tăng 14,5%.
Toàn huyện đã làm được 145 km đường nhựa, 119 km đường bê tông, 32
cầu bê tông các loại; kiên cố hoá 349 phòng học. Nâng cấp 17 hồ đập. Bê tông
hoá kênh mương gần 110 km. Nhiều trụ sở, nhà văn hoá xóm, nhà ở của nhân
dân được xây dựng khang trang. Bộ mặt nông thôn, thị tứ, thị trấn Yên Thành
khởi sắc rõ nét.
- Dịch vụ – thương mại chuyển biến tích cực, giá trị sản xuất đạt 591 tỷ
đồng. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá, bán lẻ và dịch vụ xã hội tăng mỗi năm
24,7%; Phương tiện vận tải tăng 24,8%. Bình quân có 24,6 điện thoại/100 dân.
- Thu, chi ngân sách vượt kế hoạch. Tổng chi ngân sách bình quân 258 tỷ
đồng/năm. Thu ngân sách đạt 75 tỷ đồng, tăng bình quân mỗi năm 18,8%.
Tổng đầu tư toàn xã hội đạt 878,1 tỷ đồng,

gọi từ đó. Diễn Châu có lúc gọi là quận Long Tri gồm 7 huyện: Trung Nghĩa;
Hoài Hoan; Long Tri; Tứ Nông; Võ lung; Võ Dung và Võ Kim, trị sở đóng tại
Quỳ Lăng (Lăng Thành). Được quyền tự chủ, các triều đại Ngô (939967); Đinh (968-980) vẫn chọn Quỳ Lăng làm lỵ sở Châu Diễn. Thời triều
tiền Lê(980-1009) lỵ sở Châu Diễn chuyển về Kẻ Dền, Công Trung Thượng (xã
10


Văn Thành).
Mùa xuân năm Minh Mệnh thứ 18 (1837) từ huyện Đông Thành tách ra
thành 2 huyện: Đông Thành và Yên Thành, theo hướng Đông Tây. Huyện Yên
Thành ở về phía Bắc, trị sở đóng tại Yên Lý (gần chợ huyện xã Diễn Yên hiện
nay). Huyện Đông Thành đóng ở phía nam, trị sở đóng tại làng Cao Xá, xã Diễn
Thành, huyện nào cũng có núi, có đồng bằng và có biển.
Sau khi giành lại chính quyền vào ngày 28/8/1945, Yên Thành đã xây
dựng chính quyền nhà nước địa phương phát triển vững chắc, đến nay huyện
Yên Thành có 38 xã và 1 thị trấn, 12 thị tứ, với số dân là 275.165 người (theo số
liệu thống kê đến ngày 31 tháng 12 năm 2008).
2.1.3.2.Cách tổ chức dân cư
Nguồn gốc dân cư: dân cư Huyện Yên Thành chủ yếu là dân góp từ các
vùng miền khác nhau của tỉnh Nghệ An,như Diễn Quảng (Diễn Châu), Nhân
Thành, Lăng Thành, Phú Thành (Yên Thành)... nhưng chủ đạo vẫn là dân Yên
Thành gốc di cư lên từ vùng Yên Mã - Chợ An nổi tiếng với các danh nhân
Trạng Nguyên Bạch Liêu, Trần Đình Phong.Sớm nhất là vào những năm 1967,
những người dân ở Yên Mã đã khai khẩn vùng đất nông trang Tân Yên vốn rậm
rạp.
Cơ sở hạ tầng: tuy mới thành lập nhưng được sự quan tâm của các cấp,
hiện nay Yên Thành đã xây mới trụ sở hành chính Huyện 2 tầng,nâng cấp
trường tiểu học huyện,trường mầm non dân lập... tuy nhiên, hiện nay Huyện
Yên Thành vẫn chưa quy hoạch được khu chợ phục vụ nhu cầu mua bán cho
nhân dân.s

cửa quan, sau về dạy học, là một con người trên thông thiên văn dưới tường địa
lý. Học trò nổi tiếng của cụ nhu: Trần Quý Cáp, Phan Thúc Trực,...
- Phan Thúc Trực tức Phan Dưỡng Hạo, Sinh 1809,mất năm 1852, nhà
thơ, nhà văn, nhà sử học và địa lý học nổi tiếng, người xã Vân Tụ, nay là
xã Khánh Thành đậu thủ khoa kỳ thi Đình tức Đình nguyên Thám hoa năm Đinh
Mùi (1847). Ông là người đầu tiên ở Nghệ An đỗ thủ khoa kỳ thi Đình thời triều
Nguyễn.
2.2. Gía trị của khu di tích văn hóa lịch sử Đền Đức Hoàng
2.2.1. Vị trí địa lý
Nghệ An xưa nay được xem là vùng đất nghèo hiếu học, có rất nhiều nhân
12


tài Xứ Nghệ nổi danh trong, ngoài nước và có nhiều danh thắng đẹp nổi tiếng
cũng như có rất nhiều nét đẹp văn hóa mà người Xứ Nghệ dù đi xa vẫn nhớ đến
và những người nơi xa từng ghé thăm một lần thì vương vẫn mãi không thể quên
được.
Trong đó giá trị về văn hóa lịch sử luôn là nét đẹp trong suy nghĩ của mỗi
người, đến Nghệ An, hãy thăm quan những danh thắng, thăm quan những địa
danh tâm linh để hiểu hơn về vẻ đẹp xứ Nghệ. Đền Đức Hoàng là một địa danh
văn hóa lịch sử được rất nhiều người biết đến, để hiểu hơn về sự tích cũng như
các giá trị văn hóa thì chúng ta cần tìm hiểu kĩ hơn.
Đền Đức Hoàng thuộc xã Phúc Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An,
cách thành phố Vinh chừng 60km về phía Bắc, du khách có thể đến tham quan
bằng xe máy hoặc xe buýt tuyến chạy dọc theo đường 538. Đền Đức Hoàng tọa
lạc trên một vùng đất rộng, cao hướng ra “Linh đàm Diệu ốc” hương sen tỏa sắc
bốn mùa. Với nhiều lần tu sửa trùng tu, nhưng đền vẫn giữ nguyên trạng thái di
tích gốc, đảm bảo sự tôn kính thâm nghiêm. Sau đền là rừng cây cổ thụ nguyên
sinh, cây xanh tỏa bóng ôm đền vào sự tĩnh lặng nên địa danh này được xem là
một trong những cảnh đẹp nổi tiếng nhất nhì của tỉnh nhà Nghệ An. Đền được

phong làm thống lĩnh các đội thủy binh, coi giữ 12 cửa biển, bảo vệ đường
duyên hải từ miền Trung trở vào. Những năm đất nước hòa bình, độc lập, ông đã
tham mưu cho vua Trần Nhân Tông nhiều kế sách trong việc củng cố, xây dựng
và rèn luyện võ nghệ cho lực lượng thủy binh. Những lần giặc Chiêm Thành
sang giấy rối hải phận nước ta, Hoàng Tá Thốn đã trực tiếp chỉ huy và đánh tan
quân giặc. Khi vinh quy bái tổ, thấy cảnh xóm làng tiêu điều, dân tình khổ cực
do chiến tranh, thiên tai và dịch bệnh hoành hoành, ông đã bỏ tiền của, cùng các
con trai của mình đưa dân cư ven biển Vạn Phần lên vùng đất Yên Thành khai
hoang, lập làng, đào đắp các công trình thủy lợi, đưa nước ngọt về tưới tiêu
ruộng đồng.
Thời gian sau ông lâm bệnh và tạ thế vào ngày 01-1-1338, trong một lần
đi tuần ở bờ biển thuộc địa phận huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Triều đình
nhà Trần vô cùng thương tiếc và cho thuyền rồng chở linh cữu về quê nhà ở làng
Vạn Phần, xã Diễn Vạn, huyện Diễn Châu an táng và phong tước hiệu “Trung
dũng Bảo dực trung hưng, hộ Quốc tỷ dân, Sát Hải Đại tướng quân, Thiên bồng
nguyên soái chi thần” . Ông là một vị tướng tài ba, có công với nước với dân
14


nên khi ông mất đi triều đình đã cho lập đền thờ ở nhiều nơi trong đó có đền
Đức Hoàng ở Yên Thành hiện là Đền Hoàng cổ kính, thiêng liêng nhất. Với
những nét đẹp về văn hóa, năm 1997 nhà nước đã công nhận đền Đức Hoàng là
di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.
2.2.4. Nét đặc sắc trong kiến trúc của khu di tích lịch sử Đền Đức Hoàng
Đền Đức Hoàng là loại di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật. Đền có quy
mô, bố cục hài hòa, có nhiều chi tiết trang trí đắp, chạm trỗ đẹp có giá trị phong
phú về mặt nghệ thuật. Trong đền còn lưu lại nhiều hiện vật và tài liệu quý ,
giúp cho việc nghiên cứu truyền thống văn hóa địa phương góp phần làm giàu
thêm cho kho tàng văn hóa nghệ thuật Việt Nam.
Kiến trúc đền có 3 tòa gồm thượng điện, trung điện và hạ điện tuy quy mô

cữa đều được sơn màu đỏ, trên nền đỏ trang trí các dề tài hoa lá, con vật trong
bộ tứ linh, tứ quý. Trên than cột trang trí hình con rồng trọn vẹn trong tư thế uốn
mềm, uyển chuyển. Tất cả các đề tài pha lẫn màu sắc đẫ tạo nên các tác phẩm
hội hoạ bức tranh đệp trước nhà trung điện. Nó tồn tại qua nhiêu thế kỷ nhưng
vẫn giữ được lớp màu, chứng tỏ kỷ thuật pha chế màu sắc của người xưa đạt
trình độ cao.
* Bài trí nội thất.
Nhà trung điện có rất nhiều đồ tế khí nhưng đây không phải là noi thờ
chính, phần lớn các dồ thờ thường tập trung vào gian giữa.
Gian giữa đặt hai bàn thờ và 1 bá hương án, ở ngoài vào đặt bàn thờ hình
chữ nhật bài trí dơn giản chỉ có một bát hương bằng sứ. Chính giữa bàn thờ phía
ngoài đặt thêm mâm cỗ bồng, trên đặt hai đài đựng chén, một trản đựng trầu
cau, tiếp theo là mâm ngũ quả sơn son trên để cái trản. Hương án được chia làm
nhiều ô, chạm trổ rất công phu, mỗi ô trang trí một con rồng, chính giữa hương
án chạm hoa văn hình lưỡng long chầu nguyệt. Trên hương án chính giữa đặt
mâm ngũ quả sơn son, hai bên để hai nhà vàng bạc sơn son tiếp vàng.
Hai bên các bàn thờ đặt gian giữa có 2 tượng hạc rùa sơn son thiếp vàng.
Tượng hạc đứng trên chân rùa và chân rùa sơn màu đỏ, đùi và cổ sơn màu trắng.
Thingr thoảng điểm giải vàng làm ngấn cổ hạc, mình và đuôi ơn son thiếp vàng,
mỏ dài, cổ vươn cao hướng về bàn thờ.
Hai gian hai bên bài trí giống nhau, sát đầu hồi bàn thờ đặt bàn thờ hai
bậc, bậc ngoài đặt bát hương bằng sứ. Chính giữa đặt mâm cỗ sơn son, trên đặt
16


đài trản, hai bên đạt hai cây sáp dựng ba thanh kiếm gỗ sơn son.
2.2.4.3. Nhà hạ điện
Được xây dựng trên mặt bằng dài 6m, nền nhà hình vuông nàm lọt giữa
sân đền. Nhà có kiến trúc độc đáo so với tổng thể kiến trúc di tích. Nhà hạ điện
được xây dựng theo kiểu chồng diêm tám mái, lợp ngói, tầng dưới có góc bờ

vị các dòng họ du xuân quanh hồ sen làng Diệu (từ 7giờ 15, ngày 20/3, mùng
1/2 ÂL); tân lễ (mít tinh, từ 8 giờ 30 ngày 20/3, 1 /2 ÂL); lễ đại tế (từ 10 giờ
ngày 20/3, tức 1 /2 ÂL); lễ tạ (từ 16 giờ ngày 21/3, tức 2/2 ÂL).
.Lễ khai quang là lễ đầu tiên của lễ hội. Lễ được tổ chức vào ngày 28
tháng 1(âm lịch). Nội dung của phần lễ là dâng hương xin các vị về trời, nhân
dân dọn dẹp để chuẩn bị cho lễ hội sắp tới.
Lễ cáo trung thiên được tổ chức sau khi kết thúc công việc dọn dẹp. Lễ
diễn ra khá đơn giản và nhanh chóng. Nội dung của lễ là báo cao về công việc
dọn dẹp xong, mời các vị về đèn tham dự lễ hội và lắng nghe những nguyện
vọng, mong ước và chứng giám cho long thành kính của nhân dân.
Lễ rước kiệu rồng rước bài vị của 14 dòng họ đại tôn trong vùng hòa
mình tiến bước cùng kiệu thần Sát hải đại vương Hoàng Tá Thốn và các linh
thần khác thờ tự tại đền Đức Hoàng vào hội. Sau rước thần linh là lễ tân và đại
tế, sự quy chuẩn và bài bản trong tế lễ thần linh tại đền, đã thành thông lệ chu
tất, trang nghiêm, khoa học, mang tính triết lý xã hội phương Đông.
Đại lễ tại đền là lễ chính trong lễ hội đền Hoàng, đây là lễ lớn nhất, kéo
dài nhất và đông người tham gia nhất. Lế đại diễn ra vào sang 1 tháng 2 âm lịch.
Buổi lễ là sự phối hợp nhịp nhàng giữa ông đồng xướng, tây xướng, những nhạc
công, những người hành lễ, kết thúc phần hành lễ của ban hành lễ , cũng như lễ
yết là phần dâng hương. Đầu tiên đại diện các ban ngành cầm một que hương
lên thắp. Sau đó cửa tam quan được mở đê nhân dân lên thắp hương.
Lễ tất được diễn ra vào ngay 2 tháng 2 âm lịch , lễ được tiến hành đơn
giản, nội dung của lễ là cảm ơn các vị thần đã về dự lễ. Sau lễ kết thúc, tất cả các
lễ vật trên bàn thờ được hạ xuống để mọi người hưởng lộc.
2.3.2.Phần hội.
Phần hội gồm nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ dân gian và hiện đại
như: bóng đá nam, chung kết giải bóng chuyền nữ huyện Yên Thành, thi đấu
vật, đẩy gậy, kéo co, giao lưu văn nghệ giữa các làng, đoàn nghệ thuật tỉnh biểu
18


19


mà nhiều người dân thắc mắc là một tờ giấy giải hạn khổ A3 được phô tô và 3 lá
bùa nhỏ bằng 3 ngón tay mà lại có giá tới 34.000 đồng; tờ in sẵn quẻ xăm bằng
nửa tờ giấy A4 cũng có giá 10.000 đồng...
Sau khi mua được các tờ giải hạn, bùa và phiếu cầu yên mọi người viết
tên tuổi gia chủ, nguyện vọng lên các loại giấy rồi tới chính điện chờ tới phiên
vào lễ. Năm nay đền Đức Hoàng không cho người viếng thắp hương ở chính
điện, mà chỉ được thắp ở phía ngoài. Do lượng khách quá đông nên Ban quản lý
phải chia thành từng đợt, mỗi đợt khoảng vài trăm người rồi khóa cửa đền lại.
Cứ làm lễ xong một đợt lại mở khóa cho lượt khách khác vào. Nhiều du
khách ở Diễn Châu và Quỳnh Lưu phản ánh vào ngày mồng 1 - 3 Tết Quý Tỵ vì
đông người nên họ phải mất tiền cho “cò” đền từ 50.000 - 100.000 đồng để được
làm lễ sớm hơn. Nhiều người chờ cả ngày không được đành phải thắp hương,
đặt lễ bái vọng ở ngoài rồi ngán ngẩm ra về.
Cảnh tranh dành đặt lễ, chen lấn, xô đẩy, văng tục những ngày này vẫn
diễn ra tạo nên sự bát nháo, hỗn loạn. Nhiều người còn thi nhau khấn vái thật to
để phật nghe thấy nguyện cầu của mình cho thấy một bức tranh ngao ngán nơi
chốn tâm linh.
Để khuôn viên đền Đức Hoàng xứng tầm với những giá trị văn hóa lịch
sử vốn có, là địa chỉ du lịch văn hóa tâm linh thâm nghiêm cho du khách gần xa,
thiết nghĩ, các cấp chính quyền huyện Yên Thành cần có giải pháp kịp thời chấn
chỉnh những tồn tại đã nêu trên, trả lại vẻ uy nghiêm cho đền Đức Hoàng.
Được biết, mỗi năm Ban quản lý di tích Đền Đức Hoàng doanh thu từ
việc bán sớ, số xăm... lên đến hàng tỉ đồng. Tuy nhiên, ngôi đền này hiện nay
đang xuống cấp trầm trọng nhưng vẫn chưa được tôn tạo và trùng tu đúng nghĩa
với một ngôi đền được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.
2.5. Đánh giá thực trạng bảo tồn
2.5.1.Ưu điểm

UBND tỉnh và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An như Công văn
số 57/UBND.VH ngày 13/01/2014 về việc tăng cường công tác quản lý và tổ
chức trong hoạt động lễ hội, Công văn 154/UBND.VH ngày 23/01/2014 về
việc quản lý sử dụng tiền mệnh giá nhỏ trong hoạt động văn hóa, lễ hội, tín
ngướng hay Công văn số 01/VHTT ngày 10/01/2014 về việc hướng dẫn tổ
chức lễ hội năm 2014… Từ đó, các địa phương có lễ hội đều thành lập Ban tổ
21


chức lễ hội, xây dựng kế hoạch và kịch bản lễ hội một cách khoa học, chi tiết
theo Quy chế và xin phép cấp có thẩm quyền được tổ chức lễ hội. Đồng thời,
Phòng VH-TT huyện và UBND các xã, thị trấn tăng cường kiểm tra, đôn đốc
việc thực hiện nghiêm các quy định về công tác bảo vệ môi trường tại các di
tích, du lịch lễ hội tâm linh; chấn chỉnh và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm
môi trường văn hóa tại các lễ hội. Bên cạnh đó, an ninh trật tự trong lễ hội cũng
được đảm bảo. Công an huyện phối hợp với lực lượng công an xã xây dựng
phương án đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội, chú trọng công tác phòng
chống cháy nổ trước, trong và sau lễ hội để đảm bảo an toàn cho nhân dân và
du khách. Tổ chức, sắp xếp các hàng quán dịch vụ, bãi trông giữ phương tiện,
hạn chế tối đa hàng quán kinh doanh vàng mã, đổi tiền, kinh doanh trò chơi dễ
biến tướng sang đánh bạc… trong lễ hội. Khi phát hiện các tệ nạn xã hội đánh
bạc trá hình qua các trò chơi đã kịp thời có biện pháp ngăn ngừa, triệt phá và xử
lý nghiêm. Công tác chỉ dẫn, phân luồng giao thông tại lễ hội cũng cần được
chú trọng, đảm bảo giao thông thông suốt trong thời gian diễn ra lễ hội.
Với sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền về công tác
tổ chức và quản lý lễ hội, các lễ hội truyền thống của huyện ngày càng đi vào
nề nếp. Trong việc tổ chức và quản lý lễ hội, công tác phối hợp của các ngành
chức năng được chú trọng, phân công rõ trách nhiệm của từng ngành; công tác
thanh tra, kiểm tra được tăng cường trước, trong và sau lễ hội; công tác tuyên
truyền được đẩy mạnh với nhiều hình thức, tập trung giới thiệu các giá trị văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status