ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Giáo dục - ĐHQGHN
và triển khai đề tài “Quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội đáp
ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ” tác giả luôn được sự quan tâm
giúp đỡ nhiệt tình và đầy trách nhiệm của của các thầy cô trong trường Đại
học Giáo dục - ĐHQGHN, các thầy cô trường Đại học Ngoại ngữ -
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
CỦA SINH VIÊN KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ NGA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
ĐHQGHN, những người đã hết sức nhiệt tình giúp đỡ tác giả hoàn thành
nhiệm vụ.
Tác giả xin được dành những dòng chữ đầu tiên của luận văn này để
bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo đã quan tâm,
giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu. Đặc biệt là PGS.TS
Đặng Quốc Bảo, người thầy đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình
Chuyên ngành:
Mã số:
Quản lý giáo dục
601405
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH, HĐH
1. Lý do chọn đề tài
1
Cố vấn học tập
CVHT
2. Mục đích nghiên cứu
2
Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐHQGHN
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
Học sinh sinh viên
Sinh viên
SV
8. Cấu trúc luận văn
3
Trung học phổ thông
THPT
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
5
Trường Đại học Ngoại ngữ
Trường ĐHNN
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
5
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
1.1.1. Những quan điểm về tự học
17
1.3.1. Học chế tín chỉ
17
1.3.2. Dạy - học theo học chế tín chỉ
20
1.3.3. Dạy học theo học chế tín chỉ đòi hỏi sinh viên phải biết tự học
23
1.4. Quản lý tự học theo học chế tín chỉ
28
4
1.4.1. Vị trí, vai trò của công tác quản lý sinh viên trong các trường đại học
28
2.4.1. Những điểm mạnh
63
1.4.2. Quản lý tự học – Các nội dung quản lý tự học
ĐÁP ỨNG YẾU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
ĐHQGHN
3.1. Nguyên tắc xác định các biện pháp
66
2.1. Khái quát về trường ĐHNN-ĐHQGHN
34
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
66
2.1.1.Quá trình thành lập trường ĐHNN-ĐHQGHN
34
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống
66
2.1.2. Mục tiêu chiến lược phát triển của Trường
34
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
Nga trường ĐHNN-ĐHQGHN trước yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
2.2.1. Đặc điểm của sinh viên và đặc điểm đào tạo của khoa NN&VH Nga
43
cường trao đổi, thảo luận và có chỉ đạo chặt chẽ
2.2.2. Đội ngũ cán bộ và giảng viên khoa NN&VH Nga
46
3.2.2. Biện pháp 2. Xây dựng hệ thống cố vấn học tập có chất lượng
2.2.3. Cơ sở vật chất của khoa NN&VH Nga
48
2.2.4. Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên khoa NN&VH Nga
49
2.3. Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên
54
khoa NN&VH Nga
2.3.1. Thực trạng về công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận
54
với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ tạo điều kiện cho sinh viên tự học
3.2.5. Biện pháp 5. Phối kết hợp đồng bộ giữa các đơn vị chức năng
81
hướng tới hoạt động tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ
3.3. Mối liên quan của các biện pháp
84
3.4. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
86
6
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
90
1. Kết luận
90
2. Khuyến nghị
91
sinh viên có vai trò hết sức quan trọng, mang tính quyết định hiệu quả chất
lượng đào tạo.
Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga nói riêng và trường Đại học Ngoại
ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội nói chung, trong các hội thảo về nâng cao
7
8
chất lượng học tập của sinh viên, hội nghị nghiên cứu khoa học cũng đã nhiều
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa
năm đề cập đến vấn đề tự học của sinh viên … và làm thế nào để kích thích
Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội.
sinh viên ngoại ngữ tích cực hơn nhằm nâng cao kết quả học tập. Đồng thời
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và
cũng đã có một số giải pháp như: đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng
Văn hoá Nga đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ.
phát huy tính tích cực, tính sáng tạo, đặc biệt là công tác quản lý, tổ chức của
5. Giả thuyết khoa học
hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại
Nội từ năm học 2006-2007 đến nay.
học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội đáp ứng yêu cầu đào tạo theo
7. Phương pháp nghiên cứu
học chế tín chỉ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
2. Mục đích nghiên cứu
- Thu thập, nghiên cứu, phân tích xử lý tài liệu.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất biện pháp quản lý
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
hoạt động tự học của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở khoa
- Phương pháp quan sát
Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN đáp ứng
- Phương pháp điều tra bảng hỏi
yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ.
và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội theo
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
học chế tín chỉ.
1.1.1. Những quan điểm về tự học:
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ
Trong lịch sử phát triển giáo dục, tự học là vấn đề được quan tâm
và Văn hoá Nga trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội đáp
nghiên cứu từ lâu cả về lý luận và thực tiễn, nhằm phát huy vai trò của người
ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ.
học và nâng cao chất lượng của hoạt động tự học. Song từng giai đoạn lịch sử
nhất định, ở mỗi quốc gia tự học được nghiên cứu đề cập dưới nhiều khía
cạnh khác nhau.
Khổng Tử (551-479 trước công nguyên), nhà tư tưởng nổi tiếng và nhà
sư phạm vĩ đại của Trung Quốc, về phương pháp giáo dục ông đã đề cao việc
tự học, tự luyện, tu nhân, trú trọng phát huy mặt tích cực, sáng tạo, năng lực
nội sinh. Đề cập đến việc học tập, Khổng Tử xác định “Học nhi thời tập chí”,
việc học tập theo ông phải gắn liền với thực hành để thông suốt những điều đã
học. Ông đề cập và nhấn mạnh mối quan hệ tác động giữa việc học tập và tư
duy trong học tập, ông cho đó là hai yếu tố ràng buộc không thể thiếu của một
vấn đề: “Học nhi bất tư vong, tư nhi bất học tất đãi”. Ông cho rằng học mà
không nghĩ thì mờ tối, nghĩ mà không học thì khó nhọc, mất công. Do vậy,
Thị Đức…với mục đích nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên, góp phần
trong tự học, tự rèn luyện. Người luôn cho rằng học tập giúp con người tiến
nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.
bộ, nâng cao phẩm chất, mở rộng hiểu biết, làm thay đổi hiệu quả lao động.
1.1.2. Những quan điểm dạy và học theo tín chỉ:
Người đã động viên toàn dân: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập
Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinh
là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được do đó
viên có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại
mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập”
học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực
Khi bàn về vấn đề tự học, giáo sư Tạ Quang Bửu cũng đã viết “Tự học
tiễn cuộc sống, vào năm 1982 Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế hệ
là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo đồng thời là cái nôi nuôi dưỡng sự
thống chương trình đào tạo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình
thống tín chỉ cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường đại học. Vào năm
Trong bối cảnh đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc
1999, 29 Bộ trưởng đặc trách giáo dục đại học ở các nước trong Liên minh
tế hiện nay, nhất là khi nước ta chính thức là thành viên của tổ chức thương
Châu Âu đã ký Tuyên ngônBoglona nhằm hình thành Không gian Giáo dục
mại thế giới (WTO), đã đặt ra những yêu cầu mới cho giáo dục và đào tạo.
đại học Châu Âu thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung quan
Đòi hỏi GD-ĐT phải tự đổi mới. Một trong những nội dung đổi mới giáo dục
trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế tín chỉ trong toàn hệ
được đề cập nhiều hơn cả là đổi mới phương pháp dạy - học, nhất là phương
thống giáo dục đại học để tạo thuận lợi cho việc cơ động hoá, liên thông hoạt
pháp học tập - tự học .
động học tập của sinh viên trong khu vực Châu Âu và trên thế giới.
Trong khoa học, đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về vấn đề
Trước năm 1975, một số trường đại học chịu ảnh hưởng của Mỹ tại
có chủ trương triển khai trong các trường đại học quy trình đào tạo 2 giai
ĐHQGHN góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên khoa
đoạn và môđun hoá kiến thức. Theo chủ trương đó, học chế “học phần” đã ra
NN&VH Nga nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục của Nhà trường
đời và triển khai trong toàn bộ hệ thống các trường đại học và cao đẳng nước
trong xu hướng đào tạo theo học chế tín chỉ.
ta từ năm 1988 đến nay. Học chế học phần được xây dựng trên tinh thần tích
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
luỹ dần kiến thức theo các môđun (môn học) trong quá trình học tập, tức là
1.2.1. Sinh viên:
theo ý tưởng học chế tín chỉ xuất phát từ Mỹ. Tuy nhiên, về một số phương
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “student” có nghĩa
diện, học chế học phần chưa thật sự mềm dẻo như học chế tín chỉ của Mỹ, do
là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức. Nó
đó nó được gọi là “sự kết hợp niên chế với tín chỉ”, tuy nhiên những khó khăn
học Cần Thơ, Đại học Thuỷ Sản Nha Trang… và một số trường đại học khác
viên là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ tri thức được đào tạo thành người lao
áp dụng từ năm 1994 và các năm sau đó.
động có tay nghề cao tham gia hoạt động tích cực.
Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN bắt đầu chuyển đổi sang đào
tạo theo học chế tín chỉ từ năm học 2006-2007. Mặc dù trong các hội thảo về
Quy chế công tác HSSV trong các trường đạo tạo của Bộ Giáo dục và
đào tạo thì “sinh viên” là người đang học hệ Đại học và Cao đẳng.
nâng cao chất lượng học tập của sinh viên, hội nghị nghiên cứu khoa học cũng
Như thế, nếu không xét về hình thức gọi tên thì sự ra đời của thuật ngữ
đã đề cập nhiều đến vấn đề tự học của sinh viên nhưng nghiên cứu về hoạt
“sinh viên” đã gắn liền với lịch sử ra đời của trường đại học (hơn 700 năm đối
động tự học theo học chế tín chỉ thì vẫn còn mới lạ, nhất là đối với sinh viên
với SV thế giới và gần 300 năm đối với sinh viên Việt nam).
khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga, nhiều sinh viên ngay từ khi đăng ký dự thi
vào khoa đó không phải vì học giỏi ngôn ngữ đó, cũng không phải vì niềm
15
ngoài tổ chức [9, tr.1].
và học tập là công việc suốt đời. Các trường cao đẳng và đại học mở rộng cửa
Quản lý là sự điều khiển một hệ thống hoạt động xã hội ở tầm vĩ mô
cho tất cả những ai có nguyện vọng và điều kiện không phân biệt lứa tuổi,
cũng như vi mô vì vậy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận
giới tính, giàu nghèo… đều có thể học bằng nhiều con đường, hình thức khác
có những định nghĩa khác nhau.
nhau: chuyên tu, tại chức, văn bằng 2… Do đó, với khái niệm SV như trên thì
K.Marx đã từng nói đến sự cần thiết của quản lý: “Bất kỳ một lao động
xã hội nào được tiến hành trên một quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sự
ngoại diên của nó rất rộng.
Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài này chỉ nghiên cứu với đối tượng
là sinh viên hệ chính quy thì có thể thu hẹp nội hàm của khái niệm này như sau:
quản lý, nó xác lập mối quan hệ hài hoà giữa các công việc riêng rẽ và thực
tiễn những chức năng chung nhất xuất phát từ sự vận động của toàn cơ cấu
- Đó là những người đã tốt nghiệp trung học phổ thông
sản xuất khác với vận động của từng bộ phận độc lập trong nền sản xuất ấy.
khoa học đã nêu lên tư tưởng cốt lõi trong quản lý là: “Mọi loại công việc dù
1.2.2.1. Quản lý:
nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ”. Theo ông:
“Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và cái đó làm thế
nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.
17
18
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt
động quản lý là tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý
(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức
nhằm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức” [19, tr.1].
Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ
+ Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về
các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này.
+ Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được
các mục tiêu, xác định các hoạt động ưu tiên.
- Chức năng tổ chức:
chức, định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị,
Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các
văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các
- Chức năng chỉ đạo:
1.2.2.2. Chức năng quản lý:
Chức năng của quản lý là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý
Chỉ đạo là quá trình điều khiển, điều hành, tác động, huy động và giúp
phải thực hiện để đạt mục đích, mục tiêu quản lý đề ra. Có nhiều cách phân
đỡ con người, tổ chức trong hệ thống thực hiện nhiệm vụ. Chỉ đạo là quá trình
chia về chức năng quản lý nhưng cơ bản thống nhất ở bốn chức năng cơ bản:
tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ hoàn
- Chức năng lập kế hoạch:
thành những công việc nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Lập kế hoạch là quá trình ấn định những nhiệm vụ, những mục tiêu và
phương pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ đó.
Lập kế hoạch là phương pháp tiếp cận hợp lý để đạt những mục tiêu
Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:
+ Chỉ huy, ra lệnh.
+ Động viên, khen thưởng
định trước, là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý vì nó gắn
+ Theo dõi, giám sát
+ Đánh giá việc thực hiện trên chính sách so với chuẩn
lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội, con người có nhiều cách chiếm lĩnh
+ Nếu có sự chênh lệch thì cần điều chỉnh hoạt động.
khác nhau. Đó có thể là do được truyền thụ, do tự quan sát, đúc kết từ lao
Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành
động, môi trường sống…v.v.
một chu trình quản lý. Chu trình quản lý bao gồm bốn giai đoạn với sự tham
Học có thể diễn ra một cách ngẫu nhiên trong cuộc sống hàng ngày và
gia của hai yếu tố quan trọng thông tin và quyết định. Trong đó thông tin có
nó diễn ra mọi nơi, mọi lúc. Cách học này diễn ra khi tiến hành công việc qua
vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của một
lao động sản xuất, hoạt động vui chơi…, cách học này không có chủ định dẫn
quá trình quản lý tiếp theo.
đến kết quả tri thức mà người học nắm được sẽ rời rạc và không có hệ thống.
Sơ đồ 1.1. Các chức năng trong một chu trình quản lý
mà chỉ đạo (tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra) hoạt động của trò, nhằm làm cho
trò đạt tới mục đích dạy học [21, tr.91].
21
làm cho cho trò đạt được mục đích dạy học [21, tr.91].
Quá trình dạy - học là một hệ thống toàn vẹn gồm ba thành tố cơ bản:
thầy, trò, tri thức. Ba thành tố này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào
nhau, quy định lẫn nhau theo những quy luật riêng nhằm kết hợp chặt chẽ quá
trình dạy của thầy với quá trình học của trò làm cho dạy học cộng hưởng với
tự học tạo ra chất lượng và hiệu quả trong giáo dục.
22
Sơ đồ 1.2. Cấu trúc của quá trình dạy - học
Có nhiều cách tự học:
- Tự mình mò mẫm (người học không có điều kiện đi học, các tri thức
Tri thức
họ có được là do sự tìm tòi trải nghiệm của chính bản thân họ trong cuộc sống)
- Tự học không cần thầy hướng dẫn (người học đã có một trình độ học
Dạy
Học
Truyền đạt
hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của
mình, rồi cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung
thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại,
tín chỉ (credit).
1.3.1.2. Đặc điểm của học chế tín chỉ:
- Kiến thức được cấu trúc thành các mô-đun (học phần)
+ Học phần là môn học có cấu trúc chặt chẽ, được giảng dạy
trọn vẹn trong một học kỳ và được đánh giá độc lập với các học phần khác.
lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi…)
+ Đơn vị đo khối lượng học tập của sinh viên và tín chỉ. Một tín
để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó
chỉ được quy định bằng một số tiết học trên lớp tương đương với 15 tiết lý
thành sở hữu của mình” [22, tr59-60].
thuyết; 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45-90 giờ thực tập tại
Theo giáo sư Vũ Văn Tảo: “Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát
triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú
giá trị con người mình bằng cách thu nhận, xử lý và điều chỉnh thông tin từ
môi trường sống xung quanh mình”[24, tr.1].
Theo quan điểm của tác giả Lê Khánh Bằng: “Tự học là tự mình suy
nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh
cơ sở; 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn
trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không cần phải học lại từ đầu.
vào khối lượng tín chỉ đã tích luỹ để xếp năm học phù hợp cho người học.
- Có hệ thống cố vấn học tập: Mỗi cố vấn học tập phụ trách một số sinh
viên kể từ lúc vào trường cho đến khi ra trường. Cố vấn học tập phải nắm
vững tình hình học tập của sinh viên mình phụ trách, tư vấn cho sinh viên
chọn chương trình và tiến trình học phù hợp và giúp sinh viên đăng ký học
+ Với học chế tín chỉ, các trường đại học có thể mở thêm ngành
học mới một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường
lao động và tình hình lựa chọn ngành nghề của SV.
+ Học chế tín chỉ cung cấp cho các trường đại học một ngôn ngữ
chung, tạo thuận lợi cho SV khi cần chuyển trường cả trong nước và ngoài nước.
- Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo.
từng học kỳ.
- Chương trình đào tạo mềm dẻo, có nhiều khả năng lựa chọn cho sinh
+ Với học chế tín chỉ, kết quả học tập của sinh viên được tính theo từng
viên và tạo điều kiện dễ dàng cho sinh viên chuyển ngành hoặc học một lúc 2
học phần chứ không phải theo năm học, do đó việc hỏng một học phần nào đó
chương trình.
không cản trở quá trình học tiếp tục, SV không bị buộc phải quay lại học từ
- Không có thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khoá luận tốt nghiệp
Phần lớn các môđun trong học chế tín chỉ được quy định tương đối nhỏ,
mình tiến độ học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng.
cỡ 3 hoặc 4 tín chỉ, do đó không đủ thời gian để trình bày thật sự có đầu, có
Điều đó đảm bảo cho quá trình đào tạo trong các trường đại học trở nên mềm
đuôi, theo một trình tự diễn biến liên tục, từ đó gây ấn tượng kiện thức bị cắt
vụn. Vì vậy người ta thường khắc phục bằng cách không thiết kế các môđun
25
26
quá nhỏ dưới 3 tín chỉ, và trong những năm cuối người ta thường thiết kế các
+ Xác định thời gian, chủ đề, nội dung, yêu cầu cho giờ lên lớp lý thuyết;
môn học hoặc tổ chức các kỳ thi có tính tổng hợp để SV có cơ hội liên kết,
+ Giới thiệu mục tiêu của bài học và các yêu cầu cần thực hiện;
tổng hợp các kiến thức đã học.
+ Trình bày cấu trúc nội dung dạy học và các yêu cầu cần thực hiện;
- Khó tạo nên sự gắn kết giữa sinh viên:
1.3.2. Dạy - học theo học chế tín chỉ:
giảng viên phân tích những vấn đề cốt lõi của nội dung thảo luận và hướng
1.3.2.1. Nội dung hoạt động giảng dạy theo học chế tín chỉ:
dẫn sinh viên xử lý tiếp những nội dung cần mở rộng hay còn vướng mắc,
- Giới thiệu về học phần và đề cương học phần; hướng dẫn sinh viên
chuẩn bị tài liệu, dụng cụ học tập; thông báo các quy định của giảng viên đối
với sinh viên trong quá trình giảng dạy.
chưa giải quyết được khi thảo luận ở nhà.
+ Sinh viên được phân nhóm thảo luận ở nhà và chuẩn bị bài
thuyết trình của nhóm. Tại giờ thảo luận trên lớp, đại diện các nhóm trình bày
- Giảng dạy theo đề cương học phần
bài thuyết trình và cùng tranh luận, giảng viên phân tích những vấn đề cốt lõi
- Thực hiện giờ tư vấn học tập
của nội dung thảo luận và hướng dẫn sinh viên xử lý tiếp những nội dung cần
- Tổ chức kiểm tra - đánh giá thường xuyên và định kỳ
mở rộng hay còn vướng mắc, chưa giải quyết được khi thảo luận ở nhà.
- Đánh giá và tự đánh giá chất lượng giảng dạy
Một số yêu cầu cơ bản đối với giờ tự học xác định:
+ Chỉ rõ mục đích, nội dung, yêu cầu để sinh viên tự học;
nội dung thảo luận.
- Giờ bài tập: Giờ bài tập là thời gian lên lớp dành cho sinh viên làm
bài tập hoặc chữa bài tập đã giao cho sinh viên tự làm ở nhà.
Một số yêu cầu đối với giờ bài tập:
+ Xác định rõ mục tiêu của bài tập
+ Chỉ rõ những nội dung lý thuyết sinh viên cần sử dụng và yêu
cầu phản ánh được nội dung đó trong quá trình làm bài tập
+ Nêu đầy đủ các công việc sinh viên phải làm
+ Quy định về cách thức báo cáo kết quả tự học của sinh viên
+ Hướng dẫn sinh viên cách tìm, xử lý thông tin khi tự học
+ Quy định rõ nội dung giờ tư vấn học phần tương ứng với thời
gian sinh viên thực hiện nội dung giờ tự học xác định.
+ Nhận xét kết quả tự học và trả bài cho sinh viên.
+ Nêu rõ tiêu chí đánh giá kết quả bài tập
1.3.3. Dạy học theo tín chỉ đòi hỏi SV phải biết tự học:
+ Chữa bài tập
1.3.3.1. Đặc điểm tự học của sinh viên ở các trường đại học:
+ Đánh giá, cho điểm
Tại “Báo cáo về tình hình giáo dục” của Chính phủ -2004 đã ghi rõ:…
+ Nêu rõ tiêu chí đánh giá kết quả thực hành
con người trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau, đó
+ Chỉ đạo hướng dẫn sinh viên thực hành, thực tập
cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Chất
- Giờ tự học xác định:
lượng và hiệu quả của giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng
Giờ tự học xác định là bộ phận cấu thành tổng số giờ tín chỉ của học
tạo của người học, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Quy
phần và được nêu rõ trong đề cương chi tiết của học phần. Nội dung của giờ
mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học”. Trích thư gửi
tự học xác định là nội dung của học phần mà sinh viên phải tích luỹ (về kiến
Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo 6/1/1998.
thức, kỹ năng) bằng phương thức tự học theo hướng dẫn của giảng viên.
29
Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu đào tạo của các trường đại học là:
+ Đọc giáo trình, tư liệu tham khảo
SV khi mới bước chân vào ngưỡng của đại học thường ngỡ ngàng và lúng
+ Lập nhóm học để tiến hành thảo luận theo nhóm
túng với cách giảng dạy và học tập mới bởi họ đã quá quen với cách học ở
+ Hoàn thành các bài tập được giao và tìm thêm những bài tập
phổ thông. Học đại học là đi sâu vào một chuyên ngành để chuẩn bị cho một
nghề trong tương lai. Do đó, sinh viên phải tự trang bị cho mình những hiểu
biết cơ bản, vững vàng về nghề đó, đồng thời phải có nhiều hiểu biết khác nữa
cùng dạng để làm nhằm rèn luyện những kiến thức cần học cho thuần thục
+ Tiến hành làm các đề án, các đề tài nghiên cứu khoa học, luận
văn tốt nghiệp…
theo yêu cầu của cuộc sống. Giờ đây, công việc tự học của sinh viên trở nên
Để việc tự học được thuận lợi, SV ngay từ khi bước chân vào giảng
rất quan trọng, rất nặng nề, nó trở thành một bộ phận cấu thành của giáo dục
đường đại học cần chuẩn bị tâm lý sẵn sàng với cách học mới. Khi đã chuẩn
đại học. Do phương pháp học tập ở trường đại học khác cơ bản so với phương
bị tâm lý thì việc sắp xếp, tổ chức thời gian cho việc tự học cần được tiến
chuẩn bị cho mình một hành trang tốt khi bước vào cuộc đời, mỗi sinh viên
lực cao, tự giác cao; sinh viên thực sự làm chủ thời gian, phương pháp, phải
cần xây dựng cho mình kế hoạch học tập khoa học và sáng tạo phù hợp với
quan tâm đến chất lượng học tập của bản thân để từ đó có phương hướng
năng lực của bản thân
nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho mình, chuẩn bị cho ngày mai lập nghiệp
1.3.3.2. Tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ:
bằng sự tự tin tuyệt đối.
31
32
Tự học được đánh giá là rất quan trọng và nó càng trở nên quan trọng
hơn đối với đào tạo theo tín chỉ. Học theo tín chỉ là phải áp dụng phương pháp
tiên đặt câu hỏi hơn là trả lời, không nên nôn nóng hiểu sâu, mà phải hiểu
những vấn đề cơ bản trước.
học tích cực, đó là phương pháp lấy tự học và học cái cốt lõi là chính. Phương
- Học ở nhà:
cầu đọc, qua các bài tập, thí nghiệm mà giảng viên giao) vừa tự học ở nhà, thư
kế, chuẩn bị câu hỏi cho các giờ thảo luận trên lớp. Tăng cường trao đổi bài
viện…Giờ học trên lớp giảm mà tăng thời gian thảo luận, học nhóm và thời
theo nhóm.
gian tự học. Để lĩnh hội được kiến thức đòi hỏi mỗi sinh viên phải hiểu rõ
1.3.3.3. Những khó khăn trong việc tự học theo tín chỉ:
được bản chất của học chế tín chỉ, từ đó mới tìm ra được phương pháp học tập
Khó khăn chủ yếu liên quan đến việc tự học là sinh viên chưa có
phương pháp học, thái độ học tập đúng. Sinh viên chưa có động cơ tự học,
phù hợp với từng loại hình lớp học.
- Học lý thuyết trên lớp:
chưa tìm hứng thú học, tự học chưa trở thành nhu cầu của họ. Đặc biệt, nhiều
Giờ học lý thuyết sinh viên không chỉ ghi chép những lời thầy cô giảng
sinh viên chưa có các kỹ năng quan trọng của việc tự học, chưa có phương
trên lớp một cách thụ động mà phải nghe, suy ngẫm và nắm được “linh hồn”
những vấn đề mà thầy cô truyền đạt. Thầy cô đặt vấn đề thế nào? Tại sao lại
đặt vấn đề như vậy? Nguyên tắc để giải quyết vấn đề là gì? Sinh viên chưa
Ngoài ra, các yếu tố khách quan, những yếu tố ngoại lực ảnh hưởng đến
Nếu như đào tạo theo niên chế, sinh viên phải học theo tất cả những gì
nhà trường sắp xếp thì ngược lại, đào tạo theo học chế tín chỉ có nhiều ưu
điểm vượt trội. Sinh viên có thể chủ động học theo điều kiện và năng lực của
việc tự học của SV như: cơ sở vật chất, môi trường…
mình. Sinh viên được phép lựa chọn nội dung, phương thức học tập, kế hoạch
1.4. Quản lý tự học theo học chế tín chỉ.
học để đạt được mục tiêu đã chọn. Trong quá trình học có thể tuỳ yêu cầu của
1.4.1.Vị trí, vai trò của công tác quản lý sinh viên trong các trường đại học:
xã hội, sở thích và khả năng của mình, sinh viên có thể thay đổi mục tiêu, nội
Trong số những người được giáo dục - đào tạo để có đủ sức làm chủ
dung, phương pháp học tập. Nói một cách hình tượng là, tổ chức đào tạo đã
nền khoa học, công nghệ hiện đại của nước nhà sau này thì SV là người tiêu
vạch ra cho sinh viên một bản đồ trên đó có những hướng đi khác nhau mà
biểu, là những người đang được đầu tư, đang được đào tạo ở giai đoạn cuối
sinh viên có thể chọn để đi tới mục tiêu đào tạo. Chính vì vậy việc quản lý
đạo đức và tổ chức phong trào SV… sẽ hỗ trợ và tạo điều kiện về vật chất và
các nhu cầu được xếp theo hình tháp từ thấp tới cao: nhu cầu cơ bản - sinh
tinh thần học tập để SV rèn luyện trở thành nguồn nhân lực có chất lượng và
học; nhu cầu về an toàn, nhu cầu về sự được thừa nhận, nhu cầu được tôn
trình độ cao. Công tác quản lý sinh viên có ý nghĩa quyết định trong việc đổi
trọng và nhu cầu tự thể hiện. Động cơ tự học của sinh viên cũng có nhiều thứ
mới bền vững yếu tố con người về chất lượng nhận thức thức tri thức và hành
bậc khác nhau. Bên cạnh đó mỗi giảng viên, sinh viên phải biết thích ứng với
động. Quản lý SV là mảng công tác trọng tâm thiết yếu của nền giáo dục đại
một môi trường, hoàn cảnh mới với những yêu cầu, đòi hỏi mới chưa hề có
học nước ta.
trong kinh nghiệm của bản thân. Chúng ta cần đến sự “thích ứng” khi phải
1.4.2. Quản lý tự học - các nội dung quản lý tự học:
làm quen, xâm nhập vào môi trường đó - như một điều kiện, một phẩm chất
Nghị quyết đại hội IX “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn
phần phù hợp với bản thân là một việc làm hết sức quan trọng. Nhiều sinh
phù hợp với đào tạo tín chỉ; cung cấp danh mục tài liệu, hướng dẫn sinh viên
viên tự bản thân các em chưa đánh giá được đúng năng lực học tập cũng như
tự học, tự nghiên cứu và phải có hình thức kiểm tra và đánh giá kết quả học
chưa lường hết được hoàn cảnh điều kiện cụ thể của mình dẫn đến lựa chọn,
tập của sinh viên. Hoạt động giảng dạy trong phương thức đào tạo tín chỉ có
đăng ký các môn học không phù hợp do vậy kết quả học tập không cao. Lúc
nhiều điểm khác biệt và phức tạp hơn nhiều so với đào tạo theo niên chế. Để
này các em rất cần sự hỗ trợ, tư vấn từ các cố vấn học tập. Cố vấn học tập
tổ chức quản lý tốt hoạt động giảng dạy nhà trường phải có quy chế, quy định
chính là những người nắm vững quy chế đào tạo, các quy định hướng dẫn của
hướng dẫn phù hợp và một hệ thống quản lý theo dõi kiểm tra một cách chặt chẽ.
nhà trường về công tác đào tạo tín chỉ; phải nắm chắc năng lực, hoàn cảnh
- Hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị:
điều kiện của sinh viên, tư vấn sinh viên chọn chương trình, tiến trình học phù
Đào tạo theo học chế tín chỉ mang lại nhiều lợi ích trong công tác giáo
đạo việc đổi mới phương pháp dạy học, thông qua kiểm tra đánh giá việc thực
dục đào tạo ở trường đại học: nó làm cho sinh viên chủ động hơn trong học
hiện mục tiêu giảng dạy của giảng viên đối với từng học phần. Trưởng bộ
tập, đặc biệt nó tạo ra một tác phong công nghiệp đối với mọi hoạt động của
môn chịu trách nhiệm kiểm tra, đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên
nhà trường.
theo đề cương học phần đã ban hành của tổ bộ môn mình. Đầu mỗi học kỳ,
Tuy nhiên việc triển khai học chế tín chỉ cũng gặp rất nhiều khó khăn
Tổ trưởng bộ môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn để thông báo, thảo luận về
về phía những người trực tiếp thực hiện: trước hết, đối với sinh viên, những
những nội dung chuyên môn hay những vấn đề về phương pháp giảng dạy, kỹ
người đã được “chăn dắt” từ trường phổ thông khi bước vào đại học hết sức
ngỡ ngàng về mọi mặt, học chế tín chỉ tạo nên bước chuyển khá đột ngột, họ
37
sinh viên và nâng cao trách nhiệm của giáo viên thì việc triển khai học chế tín
sinh viên theo học chế tín chỉ cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến công tác
chỉ mới thuận lợi.
quản lý hoạt động tự học của sinh viên. Qua đó, toàn bộ chương 1 đã cho
Chính vì vậy cần phải có sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng đối với tất
chúng ta một cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động tự học của SV theo
cả các đơn vị chức năng, tất cả cán bộ quản lý, giảng viên. Để việc đào tạo
học chế tín chỉ. Những cơ sở lý luận này là nền tảng và định hướng cho việc
theo học chế tín chỉ đạt hiệu quả phải có sự chỉ đạo rất kiên quyết của Ban
tìm hiểu thực trạng cũng như đề xuất các giải pháp cho công tác quản lý hoạt
Giám hiệu, vai trò lãnh đạo của Hiệu trưởng, sự phối hợp đồng bộ giữa các
động tự học của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga trường Đại học
đơn vị trong trường, giảng viên nhận thức được trách nhiệm và tham gia vào
Ngoại ngữ - ĐHQGHN đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ.
quá trình đào tạo bằng cả tấm lòng của người thầy.
mô và loại hình đào tạo, nâng cao chất lượng đạo tạo, chất lượng nghiên cứu
Năm 1955, Trường Ngoại ngữ đặt tại khu Việt Nam Học xá (Bạch Mai-
khoa học, đào tạo chuyên gia ngoại ngữ chất lượng cao theo danh mục các
Hà Nội) được thành lập theo đề nghị của Bộ Giáo dục và được Thủ tướng
ngành đào tạo, loại hình đào tạo ở các trình độ đại học và sau đại học để giảng
Chính phủ đồng ý. Ngày 5 tháng 9 năm 1955, Trường khai giảng khoá học
dạy ngoại ngữ ở các cấp học, bậc học, nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá nước
đầu tiên. Năm 1958, Trường Đại học Ngoại ngữ được sát nhập vào trường
ngoài; xây dựng và phát triển các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ, văn hoá
Đại học Sư phạm Hà Nội và trở thành khoa Ngoại ngữ, đến năm 1963 phát
nước ngoài và việc dạy - học ngoại ngữ ở Việt nam cho phù hợp với điều
triển thành 4 khoa ngoại ngữ: khoa Nga văn, khoa Anh văn, khoa Trung văn,
kiện, hoàn cảnh của Việt Nam.
Hiện nay, Nhà trường có 9 khoa đào tạo, 5 trung tâm nghiên cứu và 01
khoa Pháp văn.
Ngày 14 tháng 8 năm 1967, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số
tên thành Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN.
Kinh tế-Quản lý, Quản lý doanh nghiệp, Công nghệ thông tin ứng dụng vào
2.1.2. Mục tiêu chiến lược phát triển của Trường
quản lý kinh tế và Quản trị Du lịch; đào tạo bằng tiếng Trung Quốc các
Trong giai đoạn hội nhập và phát triển, Trường Đại học Ngoại ngữ-
chuyên ngành NN&VH Trung Quốc, Tiếng Hán-Thương mại với trường ĐH
ĐHQGHN xác định rõ sứ mạng của Nhà trường, đó là “Đào tạo và bồi dưỡng
Thiểm Tây và ĐH Hoa Đông, Thượng Hải, Trung Quốc... Đây chính là bước
giáo viên ngoại ngữ cho hệ thống giáo dục quốc dân và hầu hết các lĩnh vực
đột phá, một hướng đi mới của Nhà trường nhằm thu hút sinh viên, và một lần
kinh tế xã hội của đất nước; đào tạo cán bộ biên dịch, phiên dịch, chuyên gia
nữa khẳng định vị thế của Nhà trường trong bối cảnh hội nhập.
nghiên cứu ngoại ngữ; đồng thời thực hiện đào tạo ngoại ngữ và tiếng Việt
Hàng năm Nhà trường tuyển sinh khoảng 1200 sv đại học chính quy,
cho người nước ngoài, từ đó định ra các mục tiêu cơ bản để hoàn thành nhiệm
học, áp dụng hình thức kiểm tra đánh giá tiên tiến theo chuẩn quốc tế. Nhà
trên 20% xuống còn 16.88% và từ trên 1% xuống còn 0.54%. Nhà trường cần
trường có nhiều chương trình trao đổi đào tạo sinh viên với các trường đại học
có các biện pháp tích cực hơn nữa nhằm nâng dần tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp
của Hoa Kỳ, Nhật Bản,Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, CHLB Nga…
loại xuất sắc và tiến tới không còn sinh viên tốt nghiệp loại trung bình.
- Về hình hình thực hiện quy chế rèn luyện của sinh viên đã có những
2.1.3. Quy mô và chất lượng đào tạo của Trường:
Là trường đào tạo chính quy về ngoại ngữ được thành lập sớm nhất
thành công đáng ghi nhận, cần nhân rộng và có hình thức khen thưởng xứng
(1955) và nhiều năm sau đó là trường đại học duy nhất đào tạo giáo viên
đáng đối với những sinh viên có tư cách đạo đức trong sáng, lành mạnh, là
ngoại ngữ cho cả nước, trong suốt 50 năm xây dựng và phát triển, Trường đại
tấm gương cho những sinh viên khác noi theo. Dưới đây là bảng thống kê về
học Ngoại ngữ - ĐHQGHN luôn khẳng định vai trò của trường đầu ngành
tình hình thực hiện quy chế rèn luyện của sinh viên trong 3 năm học từ 2007-2009
TB
yếu
4584
2
11
55
32
1
4562
3
13
55
35
2
4254
2
15
56
26
1
(Nguồn từ Phòng Chính trị và Công tác HSSV)
kém
0
0
0
11.49
52.51
(Nguồn từ Phòng Đào tạo)
rèn luyện đạt loại xuất sắc duy trì ở tỷ lệ 2%, loại giỏi tăng dần từ 11% lên
TB khá
TB
25.28
21.30
16.88
1.29
1.52
0.54
Nhận xét: Đảng uỷ và Ban Giám hiệu luôn luôn trú trọng và đề cao cải
tiến chất lượng đào tạo, các đơn vị đào tạo đã có nhiều cố gắng chủ động triển
43
15%, loại khá giữ ở mức 55%- 56%; loại trung bình đạt trên 26%, trong khi tỷ
lệ yếu là không đáng kể, lần lượt đạt tỷ lệ 1% và 2%, không có sinh viên nào
đạt loại kém. Đây là một con số đáng mừng, nó chứng tỏ rằng ngoài kết quả
học tập được đánh giá là tương đối tốt thì sinh viên trường Đại học Ngoại
ngữ-ĐHQGHN không ngừng phấn đấu và rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp.
44
- Các đoàn thể: Đảng uỷ, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên.
+ Phó Hiệu trưởng phụ trách Cơ sở vật chất
- Đội ngũ cán bộ giảng dạy: hơn 700 cán bộ, giảng viên toàn trường trong
đó, 01 tiến sỹ khoa học; 61 tiến sỹ; 255 thạc sỹ, 19 Giáo sư, Phó Giáo sư.
- Các phòng ban chức năng:
Đội ngũ cán bộ và giảng viên của trường Đại học Ngoại ngữ được giáo
+ Phòng Tổ chức cán bộ
+ Phòng Đào tạo
dục, rèn luyện, thử thách và trưởng thành trong kháng chiến và trong xây
+ Phòng Chính trị và Công tác HSSV
dựng chủ nghĩa xã hội, nên họ đều giữ được phẩm chất đạo đức nghề nghiệp
+ Phòng Hành chính Tổng hợp
của những người thầy, cô giáo xã hội chủ nghĩa, những người đi trước tận
+ Phòng Quản trị Bảo vệ
tâm, tận tuỵ với đàn em, với học trò, với sinh viên của mình. Họ luôn có lối
+ Phòng Hợp tác Quốc tế
xuyên được tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
- Các khoa đào tạo
nên chất lượng đội ngũ cán bộ giảng viên của trường ngày càng
+ Khoa Sư phạm tiếng Anh
được nâng cao, đáp ứng nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học
+ Khoa các nước nói tiếng Anh
của nhà trường.
+ Khoa Anh
45
46
Đây là thời kỳ cơ thể đã hoàn thiện và ổn định sau những biến đổi sâu
2.1.5. Đặc điểm của sinh viên:
Như đã trình bày ở chương 1, SV là những người học ở bậc cao đẳng,
đại học. Do vậy sinh viên có những đặc điểm chủ yếu sau:
- SV là một bộ phận trong thanh niên, đó là những thanh niên ưu tú, có
trình độ tri thức vượt trội, có vị thế và uy tín, được xã hội tôn vinh
- Là một lực lượng đông đảo, được quản lý có tổ chức, có vai trò và vị
thông, họ có sự giám sát, quản lý chặt chẽ của cha mẹ, thầy cô giáo. Nhưng
cuộc sống của mình, một số SV đã kiếm việc làm thêm để có thu nhập, giảm
đến đại học thì không còn khép kín như thế. Vì môi trường đại học, SV có
bớt gánh nặng về kinh tế cho gia đình, đồng thời chủ động hơn trong chi tiêu
tính chủ động cao, cùng với sự trưởng thành về xã hội, tâm - sinh lý; qua đó
và có điều kiện kinh tế để học thêm. Tuy nhiên, vì SV chính thức chưa trực
nhiều nhu cầu được khơi dậy và xuất hiện, phát triển theo hướng đa dạng,
tiếp tham gia lao động sản xuất, chưa độc lập về kinh tế, lại còn đang là đối
phong phú hơn như: nhu cầu tìm hiểu, mở rộng kiến thức tăng lên, nhu cầu
tượng của sự giáo dục nên một mặt nào đó họ còn chưa được coi là người lớn
đời sống vật chất và tinh thần, nhu cầu được học tập, tự do, tự đào tạo rèn
hoàn toàn.
luyện để bản thân tự khẳng định, hoàn thiện vị trí của mình.
- Về đặc điểm tâm lý của sinh viên:
- Ở độ tuổi thanh niên: Đây là giai đoạn tâm - sinh lý các em phát triển
+ Sự xuất hiện và phát triển tình yêu nam nữ là nét đặc trưng về mặt
tình cảm ở lứa tuổi này.
Là một trường đại học đào tạo về ngoại ngữ với khối thi tuyển sinh là
khối D nên ngoại ngữ là môn học chính và cũng là niềm say mê, hứng thú của
- Về đặc điểm nhân cách của SV
sinh viên. Mỗi ngoại ngữ gắn liền với một đất nước, một nền văn hoá. Với
Đặc điểm nhân cách của SV được thể hiện rõ, gồm
đặc điểm của môn học là phải được thực hành trong môi trường giao tiếp (có
+ Nhu cầu phát triển của SV phong phú, đa dạng
thể trực tiếp hoặc gián tiếp) nên nhìn chung sinh viên trường Ngoại ngữ rất
+ Hứng thú của SV từ rộng đến chuyên sâu
bạo dạn xông xáo, cởi mở, thích các hoạt động tập thể và rất nhanh nhạy trong
+ Quan điểm sống của SV hình thành rõ nét
việc tiếp thu và nắm bắt những cái mới.
+ Đời sống nội tâm của SV phong phú và phức tạp.
Dưới góc độ nhà quản lý, cần phải đi sâu, đi sát để có thể nắm bắt
được tâm tư tình cảm của SV để có thể có những định hướng cho SV
Có thể nói, đây là giai đoạn mà nhân cách của SV đang được định hình.
đào tạo tiếng Nga không được khả quan như trước, điều này ít nhiều làm ảnh
trẻ tương lai, có trình độ học vấn cao. Họ chính là nguồn cung cấp chất xám
hưởng đến số lượng và chất lượng sinh viên dự thi vào NN&VH Nga. Những
quý báu, bổ sung cho tầng lớp trí thức Việt Nam về số lượng và chất lượng tốt
sinh viên còn theo đuổi ngành ngôn ngữ và văn hoá Nga cũng có nhiều lý do
nhất để góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
khác nhau: Một số do bản thân họ có niềm say mê tiếng Nga, muốn tìm hiểu
Do đó, trong công tác giảng dạy và giáo dục, chúng ta phải biết khai
về con người và văn hoá của đất nước này; một số khác thi vào khoa Nga là
thác, sử dụng, phát huy những yếu tố tích cực cũng như thế mạnh, hạn chế
do lực học hạn chế do vậy họ chọn thi vào khoa Nga cho chắc chắn có một
những điểm yếu của sinh viên để đề ra mục tiêu, chương trình, kế hoạch, cách
chỗ đứng trong một trường đại học, hoặc thi vào khoa Nga để làm một bước
thức và nội dung hoạt động đào tạo giáo dục SV cho phù hợp. Qua đó giúp
đệm học thêm một ngành khác nữa. Hiện nay số lượng sinh viên học tiếng