Các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định của hộ nông dân trong sản xuất rau an toàn trên địa bàn xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội - Pdf 37

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khi cuộc sống của con người không ngừng nâng cao, sức khỏe
là vấn đề được đặc biệt quan tâm nhất. Trong đó, môi trường sống và lương thực
thực phẩm có ảnh hưởng lớn. Tuy nhiên, vấn đề môi trường đang trở thành báo
động đỏ đối với loài người, nguyên nhân không chỉ do các khu công nghiệp gây
ra nữa mà sản xuất nông nghiệp với việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV),
phân hóa học bừa bãi đã làm ô nhiễm cả môi trường đất, nước, không khí. Bên
cạnh đó, mức độ nghiêm trọng của những vụ ngộ độc thực phẩm vừa qua do dư
lượng thuốc BVTV và chất kích thích trên rau, quả cũng đủ làm cho người tiêu
dùng lo sợ. Trong thời kỳ mà toàn nhân loại đang đứng trước sự suy thoái về mặt
môi trường, sức khỏe con người được đề cao hơn bao giờ hết. Vì vậy, cùng với
xu thế chung của thế giới việc sản xuất các sản phẩm nông nghiệp nói chung và
sản xuất rau nói riêng đang phát triển theo hướng an toàn.
Hà Nội là nơi tập trung đông dân cư có trình độ nhận thức tốt và khả năng
tiếp cận thông tin nhanh nhạy, là một thị trường tiềm năng trong tiêu thụ rau an
toàn (RAT) của người dân ven đô. Rau an toàn được sản xuất ở các huyện ngoại
thành Hà Nội từ những năm 1996, đặc biệt diện tích trồng rau phát triển mạnh từ
sau năm 1999 khi thành phố có chủ trương quy hoạch phát triển vùng sản xuất
RAT cung cấp cho thị trường các quận nội thành. Việc sản xuất rau an toàn ở các
huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội đang ngày càng được quan tâm, các mô
hình sản xuất RAT không ngừng phát triển và nhân rộng. Song cũng không thể
phủ nhận một thực tế hiện nay là khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng RAT đang
còn ở mức thấp.
Bên cạnh đó cùng với sự tác động của thông tin, sự phát triển của khoa
học kỹ thuật, nhu cầu của người tiêu dùng nên các hộ sản xuất rau ngày càng có
nhiều sự lựa chọn trong quá trình sản xuất. Vì vậy nghiên cứu việc ra quyết định
1




♦ Đề xuất một số giải pháp phát triển sản xuất rau an toàn trên địa bàn
nghiên cứu.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
♦ Nghiên cứu những hộ nông dân trồng rau an toàn trên địa bàn xã.
♦ Tìm hiểu thông tin từ những cán bộ lãnh đạo cộng đồng như chủ nhiệm
hợp tác xã, khuyến nông viên cơ sở, chủ tịch hội Nông dân, hội Phụ nữ,
trưởng thôn.

1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi nội dung
Đề tài nghiên cứu về tình hình ra quyết định và những yếu tố ảnh hưởng
đến việc ra quyết định của hộ nông dân trong sản xuất rau an toàn.
1.4.2 Phạm vi không gian
Đề tài được tiến hành tại xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
1.4.3 Phạm vi thời gian
♦ Số liệu thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian các năm 2007,
2008, 2009.
♦ Thu thập số liệu sơ cấp từ tháng 02 đến tháng 05 năm 2010.

3


PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Rau an toàn
2.1.1.1 Khái niệm
Hiện nay sản xuất rau an toàn đang là vấn đề được quan tâm của người sản
xuất, người tiêu dùng và toàn xã hội. Vì vậy đã có nhiều nhà nghiên cứu và các

- Người sản xuất RAT phải qua lớp huấn luyện kỹ thuật sản xuất RAT.
o Đất trồng
- Đất quy hoạch để trồng RAT phải đảm bảo đảm các điều kiện sau đây:
+ Có đặc điểm lý, hóa, sinh học phù hợp với sự sinh trưởng, phát triển cây
rau.
+ Không bị ảnh hưởng trực tiếp các chất thải công nghiệp, chất thải sinh
hoạt từ các khu dân cư, bệnh viện, các lò giết mổ gia súc tập trung và từ các
nghĩa trang, đường giao thông lớn.
+ Đảm bảo tiêu chuẩn môi trường đất trồng trọt theo tiêu chuẩn TCVN
5941; 1995,TCVN 7209; 2000.
- Đất ở các vùng sản xuất RAT phải được kiểm tra mức độ ô nhiễm định
kỳ hoặc đột xuất.
o Phân bón
- Chỉ sử dụng các loại phân bón trong danh mục phân bón được phép sản
xuất kinh doanh ở Việt Nam, phân hữu cơ đã qua xử lý bảo đảm không còn nguy
cơ ô nhiễm hóa chất vi sinh vật có hại.
- Không sử dụng các loại phân bón có nguy cơ ô nhiễm cao như: phân
chuồng tươi, nước giải, phân chế biền từ rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp
để bón trực tiếp cho rau.
5


o Nước tưới
- Nước tưới cho rau phải lấy từ nguồn không bị ô nhiễm bởi các vi sinh
vật và hóa chất độc hại, phải đảm bảo chất lượng nước tưới theo tiêu chuẩn
TCVN 6773;2000.
- Không sử dụng nước thải công nghiệp chưa qua sử lý, nước thải từ các
bệnh viện, các khu dân cư tập trung, các trang trại chăn nuôi, các lò giết mổ gia
súc, nước phân tươi, nước giải, nước ao tù đọng để tưới trực tiếp cho rau.
- Nguồn nước tưới cho các vùng RAT phải được kiểm tra định kỳ và đột

cây bị bệnh.
- Sử dụng thuốc trừ sâu bệnh nguồn gốc sinh học, biện pháp phòng trừ
sinh học, nhất là các loại rau ngắn ngày. Bảo vệ, nhân nuôi và phát triển thiên
địch trong các vùng trồng rau.
- Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ sâu bệnh cho
rau. Trường hợp cần thiết phải sử dụng thuồc hóa học tuân thủ nguyên tắt 4
đúng:
+ Đúng chủng loại: chỉ sử dụng các loại thuốc thuộc Danh mục BVTV
được phép sử dụng trên rau ở Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành.
+ Đúng liều lượng: sử dụng đúng nồng độ và liều lượng hướng dẫn trên
bao bì cho từng loại thuốc và từng thời gian sinh trưởng của cây trồng.
+ Đúng cách: áp dụng biện pháp phun xịt, tung vãi hoặc bón vào đất theo
đúng hướng dẫn của từng loại thuốc để đảm bảo hiệu quả, an toàn cho người và
môi trường.
+Đúng thời gian: dử dụng thuốc đúng thời điểm theo hướng dẫn để phát
huy hiệu lực của thuốc và tuân thủ thời gian cách ly được quy định cho từng loại
thuốc, từng loại rau.
o Thu hoạch và bảo quản RAT
- Thu hoạch: Rau an toàn phải thu hoạch đúng kỹ thuật, đúng thời điểm để
đảm bảo năng suất chất lượng và vệ sinh an toàn thược phẩm.

7


- Bảo quản: rau an toàn sau khi thu hoạch phải được bảo quản bằng biện
pháp thích hợp để giữ được hình thái và chất lượng của sản phẩm.
o Công bố tiêu chuẩn RAT
- Trước khi tiến hành sản xuất, Tổ chức sản xuất RAT phải công bố tiêu
chuẩn chất lượng theo quy định về công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa ban
hành kèm theo Quyết định số 03/2006/QĐ-BKH ngày 10/01/2006 của Bộ khoa

ĐVT: mg/kg sản phẩm
Loại Rau

Tiêu chuẩn

- Cải bắp

Từ 500 – 900

- Súp lơ

Loại rau

Tiêu chuẩn

- Đậu quả

200

500

- Các loại cà

400

- Xà lách, Diếp

1400

- Ngô rau


- Hành hoa

400

- Ớt ngọt

200

- Rau gia vị

600

- Ớt cây

400

- Dưa bở, hấu, lê

90

(Nguồn:Sở khoa học công nghệ và Môi trường TP Hà Nội )
Biểu 2: Ngưỡng giới hạn các kim loại nặng trong sản phẩm rau tươi
ĐVT: mg/kg
Loại kim loại
Chì ( Pb )

Dư lượng

Loại kim loại

Aflatoxin (Bi)

0.005

Palutin

0.005

(Nguồn : Sở khoa học công nghệ và Môi trường TP Hà Nội)

Biểu 3 : Dư lượng thuốc BVTV tối đa cho phép trong một số rau quả
ĐVT : mg/kg
Rau ăn
Rau ăn
Rau ăn
Thuốc BVTV
T.g cách ly ( Ngày )

quả
củ
Basudin 10G
0.5 -0.7
0.5 – 0.7
14 – 20
Diptorex 80
0.6
1
7
Dimothoet 50 EC
0.1

Đối tượng phòng trừ
Cây trồng ( * * )
A. Thuốc trừ sâu
1 - B.T
2 - Thuốc thảo mộc
3 - Trenbon 10 EC
4 - Nomolt 5 EC
5 - Sumicidin 10 EC
6 - Sherpa 25 EC

Sâu tơ
Sâu tơ, sâu xanh, Rệp
Sâu chích hút
Sâu ăn lá
Sâu đục thân
Sâu ăn lá
Sấu ăn quả
Sâu ăn lá
Sâu chích hút

B. Thuốc trừ bệnh
10

Rau họ thập tự
Nt
RAL, RAQ
RAL
RAL, RAQ
RAL, RAQ
RAL, RAQ

RAC : Rau ăn củ
2.1.2 Ra quyết định trong sản xuất nông nghiệp
2.1.2.1 Một số mô hình ra quyết định
a/ Mô hình thông thường
Các nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa xem tiến trình ra quyết định
nên như thế nào để đạt được những kết quả “tốt nhất”. “Tốt nhất” ở đây là mục
tiêu của người ra quyết định đạt được một cách chu toàn nhất có thể được.
Phương pháp thông thường này nói lên rằng một tiến trình ra quyết định đúng sẽ
đi qua những bước sau:
1) Nhận thức được vấn đề.
2) Mục tiêu là gì?
3) Chuẩn đoán nguyên nhân của vấn đề.
4) Xem xét giải pháp có thể chọn để giải quyết vấn đề và kết quả có thể từ
mỗi giải pháp ấy.
5) Đánh giá những kết quả mong đợi.
6) Chọn giải pháp tốt nhất.
7) Triển khai sự lựa chọn này.
8) Đánh giá xem có đạt được những kết quả mong muốn không? Vấn đề đã
được giải quyết mỹ mãn chưa?
* Những mục tiêu khác

11


Để đưa ra quyết định chúng ta phải biết sự lựa chọn nào có thể được sử
dụng, và chúng ta có thể trông đợi vào kết quả nào nếu làm theo sự chọn lựa đó.
Một nông dân có thể có một mục tiêu là mua đàn bò có khả năng di truyền cao vì
chúng cho nhiều sữa hơn, và cuối cùng sẽ làm tăng thu nhập của anh ta, điều đó
làm cho anh ta phấn chấn hơn. Mục tiêu cuối cùng, sự thu nhập cao hơn quả là
phụ thuộc vào các giá trị, nhưng có thể dự đoán được rằng liệu những mục tiêu

sâu bệnh, vv…Họ cũng không biết được giá cả khi bán sản phẩm của mình.
Những điều không chắc chắn này sẽ giảm đi khi vụ trồng cấy tiến triển tốt. Nông
dân sẽ không quyết định trước được những kỹ thuật canh tác nào sẽ được sử
dụng, như là thường được các nhà nghiên cứu khuyên.
Như vậy, khi tìm hiểu 2 mô hình trên chúng tôi thấy: Mô hình thông
thường đã xây dựng các bước trong tiến trình ra quyết định của nông dân một
cách khá chặt chẽ và chi tiết nhằm đạt được kết quả mong muốn. Trong đó chú
trọng đến nhận thức của nông dân trong cả quá trình. Mô hình thực tế cho biết,
để đưa ra quyết định của mình các cá nhân (hay nông hộ) luôn có sự cân nhắc
giữa các lựa chọn. Tuy nhiên, không phải lúc nào họ cũng đạt được mục đích đã
đặt ra, mà một trong những yêu cầu cần thiết và quan trọng là mức độ tiếp thu và
phân tích thông tin của hộ như thế nào? Mặt khác 2 mô hình có hạn chế chung là
chỉ nghiên cứu về hành vi của cá nhân không quan tâm tới sự tác động của môi
trường đến hành vi của cá nhân đó.
c/ Mô hình Bos
Bos đã đưa ra một mô hình thông tin nhóm hoàn toàn khác, thích hợp với
việc ra quyết định của cá nhân.
Thực tế

Mục tiêu

Kiến thức

Sự lựa chọn
Phương tiện

Sự giải thích
thực tế

13



thuyết biên. Trái lại việc ra quyết định của hộ nông dân vừa tuân theo tín hiệu thị
trường lại vừa phản ánh mục đích kinh tế, xã hội và nhân văn của nông hộ.
Nguyên nhân của sự khác nhau này là doanh nghiệp nông nghiệp sản xuất ra sản
phẩm nông nghiệp hoàn toàn để bán, mọi đầu vào đều phải mua ngoài thị trường,
còn nông hộ sản xuất ra sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của gia đình và một phần
để bán, phần lớn đầu vào dùng trong kinh tế nông hộ là của nhà và không thông
qua trao đổi trên thị trường. Vì vậy, việc ra quyết định kinh tế nói trên phụ thuộc
nhiều vào các yếu tố sau:
o Mục tiêu của người ra quyết định;
o Nguồn lực của doanh nghiệp, nông trại hoặc gia đình;
o Môi trường thị trường mà nhà doanh nghiệp hay nông dân tiến hành
sản xuất, kinh doanh;
o Kỹ thuật và công nghệ áp dụng.
Nói chung, việc ra quyết định kinh tế trong nông nghiệp liên quan đến 3
lĩnh vực cơ bản sau: quyết định về chủng loại quy mô sản phẩm sản xuất ra;
quyết định về loại và quy mô nguồn lực cần sử dụng ứng với sản phẩm đó; và
quyết định lựa chọn giữa các đầu vào với nhau.
Ra quyết định đúng có ý nghĩa lớn đối với doanh nghiệp và nông hộ. Nó
cho phép thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của chủ doanh nghiệp hay nông dân, đảm
bảo sử dụng đầy đủ, hợp lý hơn các nguồn lực sẵn có của nông trại, giúp cho
doanh nghiệp đứng vững hơn trước sự chao đảo của thị trường.
b/ Một số căn cứ ra quyết định trong sản xuất nông nghiệp
♦ Xác định mục tiêu: Nhà doanh nghiệp thường muốn tối đa hóa lợi nhuận
thu được. Trái lại nông dân muốn sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu vật
chất, văn hóa xã hội của gia đình. Mục tiêu kinh tế khác nhau dẫn đến
thứ tự ưu tiên sử dụng nguồn lực cũng khác nhau.
♦ Phải tính đến nhu cầu thị trường sản phẩm định sản xuất : Trong phương
diện này chủ doanh nghiệp hay nông hộ cần trả lời một số câu hỏi sau:


16


tâm tới những cây trồng có năng suất, chất lượng cao, và đặc biệt là mang lại lợi
ích kinh tế cao mà không lo lắng tới mức đầu tư ban đầu.
* Nguồn lực của hộ
Hai nguồn lực chính của nông hộ là nguồn lực con người và nguồn lực sản
xuất. Nguồn lực con người bao gồm: số lượng lao động, trình độ lao động, kinh
nghiệm sản xuất… Nguồn lực sản xuất gồm: đất đai và công cụ sản xuất… Bất
cứ một ngành sản xuất nào cũng cần đến nguồn lực hơn nữa hiện nay nông
nghiệp là lĩnh vực tập trung chủ yếu lao động trình độ thấp, lớn tuổi. Hơn nữa
mức đầu tư cho nông nghiệp ở các nước đang phát triển nói chung và ở Việt
Nam nói riêng còn thấp. Do đó đây là yếu tố có tác động đến hầu hết quá trình ra
quyết định của hộ nông dân.
* Nhu cầu thị trường
Thị trường nông sản là loại thị trường mang tính cạnh tranh hoàn hảo, sự
điều tiết cung cầu đều do thị trường quyết định. Và đây cũng là yếu tố làm cho
ngành sản xuất nông nghiệp luôn luôn có sự biến động. Dựa trên tín hiệu của thị
trường mà người ta lựa chọn sản xuất loại sản phẩm mà thị trường đang cần. Song
đây cũng là lý do gây nên hiện tượng cung vượt quá cầu. Thông thường người
nông dân ít có sự phân tích thị trường trừ những hộ sản xuất lớn, người ta làm theo
cảm tính nhiều hơn, nên cách nhìn nhận của họ về nhu cầu của thị trường không
được sâu sắc, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến việc ra quyết định của họ.
* Kỹ thuật và công nghệ áp dụng
Khi khoa học công nghệ phát triển người nông dân có rất nhiều lựa chọn,
cả yếu tố đầu vào và quy trình sản xuất. Sản xuất rau an toàn là hình thức sản
xuất theo một quy trình nhất định và đảm bảo được các chỉ tiêu không gây tổn
hại tới sức khỏe của người sử dụng. Do đó người dân muốn sản xuất thì phải
đảm bảo một số điều kiện nhất định về kỹ thuật sản xuất.

2 ha ở Võ Cường (thành phố Bắc Ninh), Tân Hồng, Phù Chẩn (Từ Sơn). Riêng
thành phố Bắc Ninh hiện nay với công nghệ nhà lưới hoàn toàn có thể sản xuất
rau trái vụ mang lại giá trị kinh tế cao.
18


Tuy nhiên, việc tiêu thụ sản phẩm RAT vẫn gặp khó khăn do chưa có đơn
vị nào đứng ra xác nhận chất lượng nên người tiêu dùng khó phân biệt được rau
RAT hay không an toàn. Mặc dù vậy, sản phẩm rau bảo đảm vệ sinh vẫn là sự
lựa chọn hàng đầu của các tổ chức, trường học, doanh nghiệp có bếp ăn tập thể
với số lượng lớn và lâu dài. Thực tế cho thấy RAT đã mang lại hiệu quả kinh tế
hơn hẳn so với rau sản xuất theo các phương pháp thông thường. Vấn đề cơ
bản hiện nay việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh hợp lý, kết hợp
với đầu tư hệ thống nhà lưới, xây dựng vùng sản xuất tập trung với khối lượng
lớn và chủng loại phong phú, đi liền với xây dựng mạng lưới tiêu thụ có sự
xác nhận chất lượng của các cơ quan chức năng để cho người tiêu dùng dễ
dàng lựa chọn. Với ưu thế về đất đai, nguồn nhân lực dồi dào giầu kinh
nghiệm, thị trường tiêu thụ thuận lợi Bắc Ninh có thể phát triển nhiều loại rau
chất lượng bảo đảm đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao giá trị thu nhập trên
đơn vị diện tích canh tác, tạo việc làm tăng thu nhập cho nông dân, đẩy nhanh
chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp.
Ở nước ta, chủng loại RAT thường ít hơn so với rau thường, loại RAT chủ
yếu được trồng là bắp cải, xu hào, cà chua, dưa chuột, đậu, cải thảo, cà rốt…
Phần lớn các loại rau này được sử dụng dưới dạng tươi, thu hoạch theo mùa vụ,
khả năng vận chuyển, bảo quản khó khăn. Hiện nay nước ta bảo quản rau quả
tươi chủ yếu sử dụng kinh nghiệm cổ truyền, phổ thông, chưa có thiết bị lựa
chọn và xử lý rau quả tươi trước khi đưa ra thị trường, đây cũng là một yếu tố
hạn chế đối với việc mở rộng quy mô sản xuất rau.
Theo FAO, năm 2003 diện tích trồng rau của Việt Nam có 638,3 nghìn ha,
sản lượng 8,27 triệu tấn; bình quân đầu người 102 kg/năm. So với năm 2000,


Diện tích
(Ha)

Năng suất
(Tấn/ha)

Sản lượng
(Tấn)

2003

577.800

14

8.183.800

2006

643.970

15

9.659.550

2009

722.000


tại thị trường Hà Nội. Theo Báo Thanh niên (T1/2007), Công ty cổ phần hệ
thống phân phối FDC đã đưa vào hoạt động hệ thống siêu thị F-mart tại các
trung tâm thương mại, khu đô thị mới và các chợ với sản phẩm chính là các loại
rau, quả an toàn có hợp đồng tiêu thụ với các cơ sở sản xuất rau an toàn như Vân
Nội (Hà Nội), Mộc Châu (Sơn La), Đô Lương (Nghệ An). (Bộ Nông nghiệp và
PTNT, 2007)
21


2.2.2 Tình hình sản xuất rau an toàn trên địa bàn Hà Nội
Rau an toàn được các huyện ngoại thành Hà Nội trồng từ những năm
1996, đặc biệt diện tích trồng rau phát triển mạnh từ sau năm 1999 khi thành phố
có chủ trương quy hoạch phát triển vùng sản xuất RAT cung cấp cho thị trường
các quận nội thành. Một số xã như Văn Đức, Đặng Xá (Gia Lâm); Vân Nội
(Đông Anh); Lĩnh Nam (Thanh Trì); Thanh Xuân, Đông Xuân (Sóc Sơn) là
những nơi được chọn trồng thí điểm và cho tới nay diện tích trồng RAT đã tăng
lên đáng kể.
Riêng xã Lĩnh Nam và Vân Nội có hơn 50% nông dân chuyên sản xuất rau
có trình độ cao và đầu tư lớn. Hiện nay do đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người
tiêu dùng có rất nhiều loại rau khác nhau được đưa vào trồng, trong một năm
nông dân trồng trên 30 loại rau khác nhau như: bắp cải, cải xanh, cà chua, xà
lách, đậu đũa, dưa chuột, mùng tơi, rau ngót, rau muống... đặc biệt lượng rau trái
vụ cũng tăng lên trên 15 loại.
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng RAT tại các huyện
Diện tích gieo
trồng* (ha)

Sản lượng (tấn)

Năng suất (tấn/ha)


16 - 17

150
120
52,5

2200 - 2400
1900 - 2000
787,5 - 2400

15 - 160
16 - 17
15 - 16

60
45

1140 - 1200
675 – 7200

19 -20
15 - 16

Xã, huyện
1. Đông Anh

- Xã Văn Đức
- Xã Đặng Xá
- Xã Đông Dư

(*): Hệ số sử dụng đất là 3
Tuy nhiên, trên thực tế hiệu quả trong sản xuất RAT còn chưa ổn định do
còn gặp nhiều rủi ro trong tiêu thụ sản phẩm. Điều này chưa khuyến khích được
người nông dân mạnh dạn đầu tư phát triển. Chính vì vậy hoạt động trồng rau
vẫn bị cạnh tranh với các hoạt động khác như sản xuất phi nông nghiệp với giá
trị sản xuất ngày càng cao hơn.
2.2.3 Những chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến sản xuất rau
an toàn
Nhận thấy được vai trò quan trọng của thực phẩm đối với sức khỏe con
người và môi trường sống, Nhà nước ta đã ban hành những chính sách nhằm
khuyến khích người nông dân, các doanh nghiệp nông nghiệp sản xuất theo
hướng sản xuất nông nghiệp sạch, mà cụ thể là các chính sách về sản xuất rau an
toàn. Trong đó khái quát một cách đơn giản rau an toàn là gì, để sản xuất được
RAT cần phải có những điều kiện gì? Trên cơ sở đó phổ biến tới người trồng
rau, từng bước xây dựng nền nông nghiệp sạch.
1) Chương trình sản xuất rau an toàn của thành phố Hà Nội được phê duyệt và
chính thức triển khai vào tháng 2 năm 1996.
2) Quyết định số 67 - 1998/QĐ-BNN-KHCN ngày 28/4/1998 của Bộ trưởng Bộ
Nông nghiệp & PTNT quy định tạm thời về sản xuất rau an toàn.
3) Chỉ thị số 08/1999/CT-TTg ra ngày 15/4/1999 của thủ tướng chính phủ về
việc tăng cường đảm bảo chất lượng An toàn vệ sinh thực phẩm.

23


4) Một số chính sách khuyến khích phát triển rau an toàn như: lập dự án quy
hoạch vung, quy trình kỹ thuật sản xuất, tổ chức mạng lưới tiêu thụ…của UBND
thành phố Hà Nội giai đoạn 1996 - 2001.
5) Đề án lưu thông, tiêu thụ rau an toàn, sản phẩm sạch trên địa bàn thành phố
Hà Nội” của Sở Thương mại được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt tháng

quan tâm trong những năm gần đây đối với các nhà nghiên cứu. Mặt khác việc
tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định của hộ nông dân cũng
dần được chú ý. Sau đây là một số công trình nghiên cứu điển hình.
Thứ nhất là đề tài nghiên cứu của Đàm Thanh Tùng về: Thực trạng và
giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ở xã Vân Nội,
huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, Luận văn tốt nghiệp Đại học, 2005, Đại học
Nông Nghiệp I. Đề tài đã chỉ ra rằng trong quá trình sản xuất và tiêu thụ rau an
toàn ở xã, trong đó cơ quan Nhà nước và tổ chức ở địa phương giữ vai trò quan
trọng quyết định đến hiệu quả cuối cùng. Việc sản xuất rau an toàn của xã tăng
lên hàng năm về cả sản lượng cũng như quy mô diện tích gieo trồng. Bên cạnh
đó tác giả còn đưa ra một số hạn chế như: sự không phù hợp về cơ cấu RAT, quy
trình sản xuất chưa đảm bảo, nhãn hiệu hàng hóa chưa được chú ý. Song vấn đề
cốt lõi của đề tài tập trung nghiên cứu về hiệu quả sản xuất và tiêu thụ.
Thứ hai là đề tài của Bùi Hoàng Tú nghiên cứu về: Hiệu quả kinh tế sản
xuất rau an toàn các hợp tác xã thành lập mới xã Vân Nội, huyện Đông Anh,
thành phố Hà Nội, Luận văn tốt nghiệp Đại học, 2005, Đại học Nông Nghiệp I.
Đề tài này tác giả đã đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất
RAT trong hợp tác xã; bên cạnh đó tác giả cũng đưa ra một số khó khăn như:
ruộng đất sản xuất RAT còn manh mún, rời rạc, khó khăn trong tiêu thụ do
chênh lệch về cầu và cung, vấn đề bảo quản chế biến chưa được quan tâm
nhiều…Vì vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất. Và tác giả cũng
đã đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn trên. Song vấn đề
tìm hiểu của đề tài là tập trung vào phân tích hiệu quả kinh tế của sản xuất RAT.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status