VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THANH HOÀ
LỖI PHÁT ÂM TIẾNG ANH
CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM
TRƢỜNG HỢP SINH VIÊN
ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THANH HOÀ
LỖI PHÁT ÂM TIẾNG ANH
CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM
TRƢỜNG HỢP SINH VIÊN
ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số: 62.22.02.41
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
2.5. Tiểu kết chương 2 ............................................................................................ 100
Chƣơng 3: LỖI PHÁT ÂM NGUYÊN ÂM TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN
ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI ......................................................................................... 102
3.1. Nguyên âm tiếng Anh và tiếng Việt................................................................. 102
3.2. Lỗi phát âm nguyên âm tiếng Anh ................................................................... 124
3.3. Một số giải pháp khắc phục lỗi phát âm nguyên âm tiếng Anh cho sinh viên Đại
học Đồng Nai .......................................................................................................... 137
3.4. Tiểu kết chương 3 ............................................................................................ 139
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 142
DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN .............................................................................................................. 145
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 146
PHỤ LỤC .............................................................................................................. 160
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
Các chữ viết tắt
Viết đầy đủ
CTÂT
Cấu trúc âm tiết
CTV
Cộng tác viên
ĐHĐN
PÂC
Phụ âm cuối
PÂĐ
Phụ âm đầu
SV
Sinh viên
tr.
Trang
DANH MỤC BIỂU BẢNG
Trang
Bảng 2.1:
Phụ âm tiếng Anh
42
Bảng 2.2:
Lỗi phụ âm [d-]
61
Bảng 2.8:
Lỗi phụ âm [t-]
62
Bảng 2.9:
Lỗi phụ âm [-]
63
Bảng 2.10:
Lỗi phụ âm [-]
64
Bảng 2.11:
Lỗi phụ âm [z-]
65
Bảng 2.12:
Lỗi phụ âm [-]
77
Bảng 2.18:
Lỗi phụ âm [-]
78
Bảng 2.19:
Lỗi phụ âm [-d]
79
Bảng 2.20:
Lỗi phụ âm [-t]
80
Bảng 2.21:
Lỗi phụ âm [-]
81
Bảng 2.22:
Lỗi phụ âm [-d]
85
Bảng 2.28:
Lỗi phụ âm [-g]
86
Bảng 2.29:
Lỗi phụ âm [-f]
87
Bảng 2.30:
Lỗi phụ âm [-v]
88
Bảng 2.31:
Lỗi tổ hợp [-nd]
89
Bảng 2.32:
Giá trị trung bình F1 và F2 của nguyên âm đơn tiếng Anh
105
Bảng 3.2:
Giá trị F1 và F2 của nguyên âm đơn tiếng Việt
117
Bảng 3.3:
Nguyên âm tiếng Anh và tiếng Việt theo vị trí của lưỡi
121
Bảng 3.4:
Nguyên âm tiếng Anh và tiếng Việt theo độ mở của miệng
122
Bảng 3.5:
Nguyên âm tiếng Anh và tiếng Việt theo hình dáng của môi
122
Bảng 3.6:
Lỗi nguyên âm đôi [a]
132
Bảng 3.12:
Lỗi nguyên âm đôi []
133
Bảng 3.13:
Lỗi nguyên âm ba [e]
135
Bảng 3.14:
Lỗi nguyên âm ba [a]
136
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1:
Sóng âm, thanh phổ của quát ầm và quá tầm
Trang
Sóng âm và cường độ của từ petrol
48
Hình 2.5:
Sóng âm và cường độ của từ patrol
48
Hình 2.6:
Các thông số âm học của phụ âm [p] trong âm Pa
52
Hình 2.7:
Các thông số âm học của phụ âm [] trong từ rõ ràng
53
Hình 2.8:
Sóng âm và quang phổ từ scraped
75
Hình 2.9:
Nguyên âm ba tiếng Anh
112
Hình 3.5:
Nguyên âm đơn tiếng Việt
117
Hình 3.6:
Nguyên âm đôi tiếng Việt
119
Hình 3.7:
Nguyên âm đơn tiếng Anh () và tiếng Việt ()
121
Hình 3.8:
Sóng âm và formant thể hiện trường độ nguyên âm [i] trong
125
Sóng âm và formant thể hiện trường độ nguyên âm [] trong
từ hod
130
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Trong xu thế hội nhập quốc tế, việc học tập và sử dụng các ngôn ngữ
không phải là tiếng mẹ đẻ ngày càng phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới. Ở Việt
Nam, việc học tập và sử dụng tiếng Anh - ngôn ngữ quốc tế, ngày càng phát triển và
phổ biến. Theo xu hướng đó, việc sử dụng ngoại ngữ để giao lưu, hội nhập là một
trong những điều kiện không thể thiếu. Trong các ngoại ngữ đang được học và sử
dụng tại Việt Nam, tiếng Anh là ngoại ngữ phổ biến nhất. Nhận thức được vai trò
của ngôn ngữ này trong cuộc sống, người Việt không những học tiếng Anh để giao
tiếp mà còn học để nói hay hơn, giao tiếp với người nước ngoài bằng ngôn ngữ này
hiệu quả hơn.
1.2. Trong hai phương tiện giao tiếp phổ biến nhất của con người là hoạt động
nói và viết thì hoạt động thứ nhất chiếm vai trò quan trọng hơn trong đời sống hằng
ngày. Khi giao tiếp bằng tiếng Anh, người Việt thường mắc khá nhiều lỗi; chẳng
hạn như lỗi về từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ âm v.v. Trong quá trình dạy tiếng
Anh cho sinh viên Đại học Đồng Nai, chúng tôi nhận thấy họ gặp rất nhiều khó
khăn bởi những sự khác biệt rất rõ rệt trên bình diện ngữ âm - âm vị học giữa hai
ngôn ngữ Anh - Việt. Những lỗi phát âm tiếng Anh của họ không chỉ ảnh hưởng đối
với bản thân họ, mà về lâu dài, sẽ ảnh hưởng đến nhiều thế hệ học trò mà họ trực
tiếp giảng dạy tiếng Anh sau này.
1.3. Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu lỗi phát âm của người
Việt học tiếng Anh. Các tác giả Trần Thị Thanh Diệu [9] và Nguyện Huy Kỷ [22]
nghiên cứu về lỗi phát âm các yếu tố siêu đoạn tính như lỗi về trọng âm và ngữ điệu
2/ Khảo sát, xây dựng cơ sở dữ liệu về lỗi phát âm của sinh viên Đại học Đồng Nai.
3/ Đối chiếu và miêu tả các kiểu lỗi phát âm chiết đoạn tiếng Anh tiêu biểu.
4/ Chỉ rõ các nguyên nhân chi phối các kiểu lỗi: sự khác biệt về mặt loại hình;
thời gian học và đặc điểm phát âm địa phương.
5/ Đề xuất các giải pháp khắc phục lỗi phát âm tiếng Anh cho sinh viên.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các kiểu lỗi phát âm phụ âm và nguyên
âm tiếng Anh của 14 sinh viên Đại học Đồng Nai. Các lỗi của họ được quan sát từ
năm thứ nhất đến năm thứ tư. Bằng cách nghiên cứu như vậy, chúng tôi có thể đưa
ra kết luận kiểu lỗi nào người học có thể khắc phục được theo thời gian học, để từ
đó đưa ra những giải pháp sửa lỗi phù hợp.
2
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu lỗi phát âm ở những đơn vị chiết đoạn tiếng Anh của sinh
viên ngành sư phạm tiếng Anh tại Đại học Đồng Nai được theo dõi liên tục từ năm
thứ nhất đến năm thứ tư.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ nêu trên, trong quá trình triển khai đề tài luận
án, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
4.1. Phương pháp miêu tả ngữ âm học - âm vị học
Luận án một mặt dựa vào kết quả nghiên cứu ngữ âm - âm vị học tiếng Việt và
tiếng Anh của các tác giả đi trước; mặt khác, kết hợp giữa phương pháp quan sát,
cảm thụ chủ quan bằng thính giác của người nghiên cứu về các đặc trưng và nét khu
biệt ngữ âm - âm vị học giữa hai ngôn ngữ Việt - Anh. Vì nhiệm vụ chính của luận
án là xác định các kiểu lỗi phát âm các đơn vị chiết đoạn tiếng Anh nên chúng tôi
chủ yếu miêu tả các đối tượng ngôn ngữ ở góc độ ngữ âm học.
Với quan điểm như vậy, chúng tôi mong muốn tìm ra được chính xác các kiểu
mềm chuyên dụng như praat, speech analyzer để phân tích, minh hoạ những kiểu lỗi
có tính chất tinh tế. Để từ đó, chúng tôi đi đến những kết luận khoa học và khách
quan về lỗi phát âm của cộng tác viên.
4.3. Phương pháp đối chiếu
- Đối chiếu cách phát âm của người Việt với cách phát âm chuẩn tiếng Anh để
tìm lỗi phát âm.
- Đối chiếu các lỗi thống kê được trong từng năm để chỉ rõ sự tiến bộ trong
việc khắc phục lỗi phát âm.
4.4. Thủ pháp
Bên cạnh các phương pháp trên, trong quá trình thực hiện luận án chúng tôi
còn sử dụng một số thủ pháp như thống kê, phân loại để đưa ra các kết quả minh
chứng cho các luận điểm trong từng phần của luận án.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Tìm ra các loại lỗi đọc (nói) sai các nguyên âm và phụ âm tiếng Anh (phụ âm
đầu, phụ âm cuối âm tiết), tìm nguyên nhân và bước đầu đề xuất giải pháp khắc
phục lỗi. Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể tham khảo để tìm ra các lỗi
phát âm và cách khắc phục cho việc dạy ngoại ngữ khác ở Việt Nam (tiếng Pháp,
tiếng Nga, tiếng Trung v.v.).
4
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lí luận
Về mặt lí luận, luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lí thuyết liên quan
đến ngữ âm học và âm vị học, đặc biệt là vấn đề tương đồng và khác biệt trong cấu
trúc âm tiết tiếng Việt và tiếng Anh.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn, những kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần thiết thực vào
việc giải quyết lỗi phát âm của người Việt học tiếng Anh, một ngôn ngữ khác hẳn
về loại hình so với tiếng Việt.
lỗi nguyên âm có thể xảy ra đối với sinh viên Đại học Đồng Nai. Tượng tự ở
chương 2, chúng tôi sẽ phân loại các kiểu lỗi nguyên âm tiêu biểu qua 4 lần thu âm
ở 4 năm học. Dựa vào kết quả phân tích lỗi, luận án miêu tả và phân loại các kiểu
lỗi nguyên âm của sinh viên Đại học Đồng Nai và đề xuất biện pháp khắc phục lỗi.
6
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu lỗi phát âm
1.1.1. Trên thế giới
Nghiên cứu lỗi nói chung và lỗi phát âm nói riêng đã được nhiều tác giả trên
thế giới thực hiện.
Mathew [75] nghiên cứu lỗi phát âm tiếng Anh của ba nhóm người nói tiếng
Indonesia và hai ngôn ngữ khác là Gayo và Acehnese được nói ở tỉnh Aceh,
Indonesia. Kết quả nghiên cứu cho thấy những nhóm người này thường mắc nhiều
lỗi phát âm yếu tố chiết đoạn tiếng Anh. Đó là những phụ âm tắc [p]. [b], [t], [d].
[g]; những phụ âm xát [s], [z], [], []; những phụ âm tắc xát [t], [d]; và
những phụ âm răng [], [].
Bằng cách sử dụng các phương tiện nghiên cứu khác nhau như sự quan sát,
ghi âm và khảo sát, Hassan và Muhammad [60] tìm hiểu lỗi phát âm tiếng Anh của
những người nói tiếng Ả Rập Saudi, để từ đó đưa ra giải pháp giúp người học cải
thiện phát âm tiếng Anh của họ. Kết quả nghiên cứu cho thấy người Ả Rập Saudi
gặp khó khăn khi phát âm những nguyên âm có nhiều cách phát âm (sự không nhất
quán trong cách thể hiện con chữ và cách phát âm) và một số cặp phụ âm đối lập
như [z] và [], [s] và [], [b] và [p], [] và [t]. Dựa vào kết quả nghiên cứu,
Elkhair Muhammad Idriss Hassan kết luận rằng người Ả Rập Saudi mắc lỗi phát âm
do sự giao thoa ngôn ngữ, sự khác nhau giữa hai hệ thống âm thanh tiếng Ả Rập
tố tiếng Anh bằng một âm tố tương đương trong tiếng Faroese (chẳng hạn thay phụ
âm [] bằng phụ âm [t] của tiếng Faroese), giảm độ vang của các phụ âm mũi ([m],
[n], [] và phụ âm nước ([l], [r]) và lỗi nhiều nhất ở nhóm phụ âm tắc vô thanh
tiếng Anh [p], [t], [k]. Người Faroese áp đặt cách phát âm nhóm phụ âm này
có yếu tố bật hơi ở cả vị trí giữa từ và cuối từ tiếng Anh, trong khi đó phụ âm tắc vô
thanh tiếng Anh không có yếu tố bật hơi ở hai vị trí này.
Ahmad [43] nghiên cứu lỗi phát âm tiếng Anh của sinh viên dự bị đại học tại
trường Đại học Najran, Ả Rập Saudi. Dựa vào sự phân tích hệ thống ngữ âm hai
ngôn ngữ Ả Rập và tiếng Anh, cùng với việc phân tích phát ngôn của những cộng
tác viên, tác giả đã kết luận 7 phụ âm sau đây gây khó khăn nhất cho sinh viên Ả
8
Rập Saudi (theo thứ tự từ khó khăn nhất đến ít khó khăn nhất): [], [p], [], [d],
[t], [v] và [t].
Ahmad và Muhiburrahman [44] tìm hiểu quan điểm về lỗi phát âm phụ âm
của người Ả Rập Saudi của giáo viên giảng dạy tiếng Anh ở chương trình dự bị tại
trường Đại học Najran, Ả Rập Saudi. Nhóm tác giả kết luận rằng do thiếu chú ý đến
việc hướng dẫn phát âm cũng như thiếu động lực học tập nên dẫn đến sinh viên đã
mắc lỗi phát âm. Theo dữ liệu nghiên cứu, sinh viên thường phát âm sai những phụ
âm như [p], [d], [v], [t], [] và []. Chúng tôi cho rằng nghiên cứu lỗi phát âm
mà chỉ đơn thuần dựa vào bảng khảo sát của giáo viên về lỗi của sinh viên không
thể mang lại kết quả khách quan.
1.1.2. Ở Việt Nam
Cho đến nay, việc nghiên cứu về hiện tượng song ngữ và giao thoa giữa tiếng
Việt và các ngôn ngữ ở Việt Nam cũng như giữa tiếng Việt và một số ngôn ngữ phổ
biến trên thế giới, đã có nhiều tác giả đề cập và nghiên cứu. Có thể nói, nghiên cứu
lỗi nói chung, có thể quy về mấy hướng nghiên cứu chính sau:
1.1.2.1. Hướng nghiên cứu lỗi trong sự tiếp xúc, giao thoa ngôn ngữ Việt - dân tộc,
Với một số lập luận xác đáng về lỗi, tác giả đã đưa ra một số giải pháp sửa lỗi giúp
người nước ngoài vượt qua được những khó khăn khi học và sử dụng ngữ pháp
tiếng Việt. Phạm Đăng Bình [4] đi vào khảo sát và chỉ ra các lỗi giao thoa ngôn ngữ
- văn hoá trong diễn ngôn của người Việt học tiếng Anh, đặc biệt đi sâu vào phân
tích lỗi giao thoa văn hóa. Trên cơ sở phân tích lỗi của người học, tác giả chỉ ra các
kiểu lỗi phụ âm ở vị trí đầu âm tiết, phụ âm cuối âm tiết, nguyên âm, lỗi về ngữ
pháp, từ vựng và văn hóa. Nhìn chung tác giả đã khái quát được một số lỗi của
người Việt học tiếng Anh nhưng chưa thật sự phân tích sâu các nguyên nhân gây
lỗi. Vì tác giả bao quát khá rộng các lỗi liên quan đến nhiều góc độ nên tác giả
không thể đề xuất các giải pháp khắc phục lỗi hiệu quả trong giới hạn một luận án.
(2) Những nghiên cứu về lỗi ngữ âm của người nước ngoài trong việc học tiếng
Việt. Đây là hướng nghiên cứu thu hút nhiều nhà nghiên cứu đi vào khảo sát, tiến
hành nghiên cứu thực nghiệm từ thực tiễn giảng dạy ngoại ngữ. Chẳng hạn, Nguyễn
Văn Phúc [30] nghiên cứu và cung cấp một cách nhìn hệ thống đối với thực trạng
các lỗi phát âm tiếng Việt của sinh viên nước ngoài nói tiếng Anh. Chúng tôi cho
rằng tác giả đã có những đóng góp đáng kể khi đưa ra những miêu tả về lỗi trên góc
độ ngữ âm học, xét lỗi ở ngôn ngữ động, tức là miêu tả lỗi trong sự hành chức của
10
ngôn ngữ. Buarapha [5] đã phân tích đối chiếu hệ thống thanh điệu tiếng Thái Lan
và tiếng Việt. Trên cơ sở miêu tả các loại thanh điệu tiếng Việt và tiếng Thái, tác
giả chỉ ra nguyên nhân gây lỗi và cách khắc phục lỗi phát âm thanh điệu tiếng Việt
của sinh viên Thái Lan học tiếng Việt. (3) Những nghiên cứu về lỗi ngữ âm của
người Việt trong việc học ngoại ngữ. Đây là những nghiên cứu có liên quan trực
tiếp đến đề tài luận án, đặc biệt là trường hợp lỗi phát âm tiếng Anh của người Việt.
Vấn đề nghiên cứu lỗi phát âm của người học ngoại ngữ cũng đã được các nhà
nghiên cứu dành cho một sự quan tâm đáng kể. Vũ Bá Hùng [21] nghiên cứu các
hiện tượng giao thoa ngôn ngữ trên bình diện ngữ âm và sửa lỗi phát âm trong quá
trình dạy tiếng Đức cho học viên người Việt. Miller [79] nghiên cứu các kiểu giao
THPT Yên Viên, Hà Nội nói tiếng Anh hay hơn. Vũ Đoàn Thị Phương Thảo [89]
nghiên cứu sửa các lỗi sai phát âm phụ âm tiếng Anh thường mắc phải ở sinh viên
ngoại ngữ 2, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Nguyễn Thị Kim Ba
[80] tìm hiểu những khó khăn về phát âm mà sinh viên năm thứ nhất tại Đại học
Mekong gặp phải; từ đó tác giả đề xuất một số biện pháp để giúp sinh viên phát âm
tốt hơn. Phạm Thị Tú Hằng [83] tìm hiểu những khó khăn của của người Hà Tĩnh
trong việc phát âm tổ hợp phụ âm cuối tiếng Anh.
Có thể nói, những công trình này đã bước đầu xác lập được một hệ thống cơ
sở lí thuyết về lỗi thông qua sự tiếp xúc và giao thoa ngôn ngữ. Nghiên cứu lỗi của
sinh viên bằng cách ghi lại lỗi của họ và theo dõi, đánh giá, khắc phục lỗi qua một
quá trình là một hướng nghiên cứu mới mà chưa một cá nhân hay tổ chức nào thực
hiện. Vì vậy, lựa chọn đề tài này, chúng tôi mong muốn nghiên cứu một cách có hệ
thống và chuyên sâu về nguyên nhân gây lỗi phát âm của sinh viên, từ đó đề xuất
biện pháp khắc phục lỗi cho họ.
1.2.3. Tình hình dạy - học phát âm tiếng Anh ở Đại học Đồng Nai
Ở Đại học Đồng Nai (ĐHĐN), đội ngũ giáo viên giảng dạy tiếng Anh có 35
người ở hai khối: Khối tiếng Anh chuyên và tiếng Anh tổng quát. Tất cả giáo viên
đều có trình độ đại học hoặc thạc sĩ về ngôn ngữ và phương pháp giảng dạy tiếng
Anh và tất cả đều được đào tạo ở Việt Nam. Để giúp sinh viên phát triển kĩ năng
giao tiếp tiếng Anh, những năm qua nhà trường cộng tác với hai giáo viên
Philippines để sinh hoạt với các lớp chuyên ngành tiếng Anh với thời lượng hai tiết
trên một tuần. Những buổi sinh hoạt này không sử dụng để đánh giá kết quả học tập
của sinh viên trong thời gian học tại trường.
12
Về chương trình dạy phát âm tiếng Anh, khối chuyên ngữ được học hai học kì
ở năm thứ nhất với tổng thời lượng 60 tiết do giáo viên Việt Nam phụ trách. Bên
cạnh tài liệu chính sử dụng để dạy phát âm là giáo trình Ngữ âm và âm vị học của
tác giả Roach [85], giáo viên còn giới thiệu cho sinh viên một số tài liệu tham khảo
ngôn ngữ học tiếng Việt được dùng với những cách hiểu còn nhiều khía cạnh
khác nhau.
Theo nghĩa thông thường, các từ so sánh và đối chiếu được dùng với nghĩa
gần như nhau để chỉ việc tìm ra những sự giống nhau và khác nhau giữa hai sự vật.
Theo Từ điển tiếng Việt, so sánh có nghĩa là “nhìn vào cái này mà xem xét cái kia
để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém” [42, tr.1103]; còn đối chiếu là
“so sánh cái này với cái kia (thường với cái dùng làm chuẩn), để từ những chỗ
giống nhau và khác nhau mà biết được rõ hơn [42, tr.441]. Trong khi đó, từ tương
phản chỉ dùng để so sánh hay đối chiếu hai sự vật “có tính chất trái ngược, đối chọi
nhau rõ nét” [42, tr.1381].
Trong ngôn ngữ học, các từ so sánh, đối chiếu và tương phản được dùng như
những thuật ngữ. Khái niệm Ngôn ngữ học so sánh (comparative linguistics) là một
thuật ngữ ngôn ngữ học, được dùng với ý nghĩa chung để chỉ phương pháp hay cách
tiệp cận lấy đối tượng nghiên cứu là hai hay nhiều ngôn ngữ. Mục đích của nghiên
cứu là làm sáng tỏ những nét giống nhau hay khác nhau hoặc chỉ làm sáng tỏ những
nét khác nhau mà thôi.
b) Ngôn ngữ nguồn
Ngôn ngữ nguồn thường được đồng nhất với tiếng mẹ đẻ. Tuy nhiên trong
thực tế, không ít các quốc gia lại phân biệt giữa ngôn ngữ nguyên sơ (aboriginal
language) và ngôn ngữ thứ nhất (L1). Trường hợp này có thể tìm thấy ở những quốc
gia đa dân tộc hoặc các quốc gia có vấn đề phân biệt tinh tế giữa bản địa và cộng
đồng hiện đại. Ví dụ, trước đây có Liên Xô, ngày nay có Mĩ, Úc v.v… Các công
dân ở những nước này đương nhiên phải biết phân biệt khá kĩ giữa các ngôn ngữ
hành chính (administrative language) với ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Sự phân biệt
này đôi khi mang tính phân công chức năng (ngôn ngữ hành chính dùng ở công sở,
cơ quan nhà nước, nói chuyện với người ngoài xã hội còn ngôn ngữ mẹ đẻ được sử
dụng trong gia đình, bạn bè, người thân). Fasold, [53] cho rằng có nhiều cá thể do
không còn điều kiện để sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ nữa (số người nói quá ít, điều kiện
14
“Các cá thể song ngữ có xu hướng chuyển dạng thức (form), ý nghĩa (meaning) và
sự phân bố (distribution) các dạng thức và ý nghĩa của ngôn ngữ và văn hoá bản
15
ngữ sang ngôn ngữ và văn hoá nước ngoài - cả trong lúc sản sinh lời nói và ứng xử
trong nền văn hoá đó lẫn trong lúc tiếp thu ngôn ngữ - khi họ tìm cách nắm vững và
hiểu ngôn ngữ và văn hoá như người bản ngữ” [69, tr.2].
Giao thoa ngôn ngữ có thành hai loại: Giao thoa tích cực và giao thoa tiêu cực.
Giao thoa tích cực là những sự tương đồng giữa ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích.
Ví dụ, khi học tiếng Anh, người học sẽ nhanh chóng phát phát âm những âm nào
mà tiếng Việt cũng có, như các âm [m], [l], [r] v.v. Giao thoa tiêu cực làm cho việc
học ngoại ngữ trở nên khó khăn hơn do áp dụng không thích hợp những phương
tiện, cấu trúc, quy tắc trong tiếng mẹ đẻ vào quá trình học ngoại ngữ, làm cho việc
sử dụng ngôn ngữ đó bị sai lệch. Hiện tượng giao thoa này có lí do sâu xa từ sự
khác biệt giữa hai ngôn ngữ, và là nguyên nhân gây lỗi cho người học.
1.2.1.2. Mục đích, nhiệm vụ và đối tượng của ngôn ngữ học đối chiếu
Mục đích chung của ngôn ngữ đối chiếu là: hướng đến mục đích miêu tả trong
phạm vi loại hình học, hướng đến mục đích dịch thuật và hướng đến mục đích dạy
ngôn ngữ. Ngày nay người ta thường nghĩ rằng nhiệm vụ của ngôn ngữ học đối
chiếu là chỉ ra những điểm giống và khác nhau giữa hai hay nhiều ngôn ngữ và kết
quả nghiên cứu sẽ phục vụ tốt hơn cho việc dạy học ngoại ngữ. Thực ra, ngôn ngữ
học đối chiếu cũng giúp ích rất nhiều cho lí luận ngôn ngữ học.
Theo Lê Quang Thiêm [35], trên cơ sở những điểm giống của hai hay nhiều
ngôn ngữ được chỉ ra bởi ngôn ngữ học đối chiếu, chúng ta có thể xác định được
những phạm vi nghiên cứu và quan hệ của ngôn ngữ học đối chiếu với các phân
ngành khác của ngôn ngữ học.
Thứ nhất, loại giống nhau thường gặp là giống nhau về ngữ hệ. Nghiên cứu
những mặt giống nhau để xác định ngữ hệ là nhiệm vụ của ngôn ngữ học so sánh lịch sử.
Thứ hai, loại giống nhau khá nổi bật là giống nhau về cấu trúc loại hình (ngôn