skkn cải tiến bài tập phát triển sức mạnh tốc độ nhằm nâng cao thành tích chạy 100m cho nam học sinh đội tuyển điền kinh trường THPT ninh bình - Pdf 37

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU:
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể dục thể thao là một bộ phận của nền văn hóa xã hội là một loại hình hoạt
động gắn liền với sự tồn tại của xã hội loài người. Thể dục thể thao được đánh giá
là quan trọng trong nền giáo dục xã hội chủ nghĩa và ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống xã hội, có tác dụng hữu hiệu để giúp con người chống lại bệnh tật. Thể dục
thể thao mang đầy đủ tính lịch sử, tính giai cấp và bản sắc dân tộc. Vì vậy thông
qua thể dục thể thao mà chúng ta có thể đánh giá được sự phát triển nền văn hoá thể
chất của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi địa phương...
Thể dục thể thao bắt nguồn từ lao động sản xuất và phát triển của xã hội loài
người, nhận thức được tầm quan trọng của thể dục thể thao. Đảng và nhà nước ta
đã rất quan tâm đến ngành thể dục thể thao. Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh rất
quan tâm đến việc rèn luyện thể chất cho các cán bộ và nhân dân ta. Điều đó thể
hiện bằng việc người đã ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục: “Mỗi một người dân
khoẻ mạnh góp phần cho cả nước khoẻ mạnh. Vậy nên tập luyện thể dục thể
thao bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước.” (Trích: “Lời kêu
gọi toàn dân tập thể dục” của Chủ tịch Hồ Chí Minh).
Chính vì vậy mà phong trào tập luyện thể dục thể thao đã phát triển không
ngừng, thu hút nhiều đối tượng tham gia tập luyện, có thể tập ở mọi nơi, mọi lúc và
tập cho mọi đối tượng. Không những thế tập luyện thể dục thể thao nói chung và
điền kinh nói riêng có tác dụng giáo dục phẩm chất ý chí cho người tập, góp phần
xây dựng xã hội văn minh lành mạnh. Vì vậy công tác giáo dục thể chất trong các
trường phổ thông không chỉ là mục tiêu chung của ngành giáo dục và đào tạo mà
còn là mối quan tâm của toàn xã hội. Mặt khác tập luyện điền kinh một cách khoa
học hợp lý sẽ trang bị một thể lực tốt làm tiền đề nâng cao thành tích các môn thể
thao khác.

1


Trong công tác giáo dục thể chất trường học giảng dạy thể dục là việc làm

- Mục tiêu nghiên cứu:
Để giải quyết mục đích nghiên cứu trên, đề tài tiến hành thực hiện các mục
tiêu sau:
Mục tiêu 1: Đánh giá huấn luyện sức mạnh tốc độ trong chạy 100m của nam
học sinh đội tuyển điền kinh trường THPT - Tỉnh Ninh Bình.
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên đề tài dự kiến theo các bước:
- Tổng hợp các tài liệu có liên quan đến chạy 100m và giáo dục sức mạnh
trong huấn luyện thể thao.
- Phỏng vấn chuyên gia, giáo viên để lựa chọn các test đánh giá sức mạnh tốc
độ trong môn chạy 100m.
- Kiểm tra các test đã lựa chọn để đánh giá thực trạng sức mạnh tốc độ của
học sinh trường.
- Thực trạng sử dụng các bài tập sức mạnh tốc độ của trường THPT- Tỉnh
Ninh Bình.
Mục tiêu 2: Lựa chọn và đánh giá hiệu quả bài tập phát triển sức mạnh tốc độ
nhằm nâng cao thành tích chạy 100m cho nam học sinh đội tuyển điền kinh trường
THPT- Tỉnh Ninh Bình.
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên đề tài dự kiến theo các bước:
- Lựa chọn bài tập và phỏng vấn chuyên gia để xác định các bài tập phát triển
sức mạnh tốc độ.
- Xây dựng chương trình ứng dụng bài tập thực nghiệm.
- Đánh giá hiệu quả bài tập thực nghiệm cho đối tượng nghiên cứu.
- Kết luận kết quả thực hiện đề tài.
- Giả thuyết khoa học:
Qua quan sát và tìm hiểu công tác giáo dục thể chất của nhà trường thấy bài
tập phát triển sức mạnh tốc độ nhằm nâng cao thành tích chạy 100m cho nam học
sinh đội tuyển điền kinh trường THPT - Tỉnh Ninh Bình còn hạn chế, vấn đề này
3



Chúng tôi tiến hành kiểm tra các giai đoạn: Trước thực nghiệm và sau thực
nghiệm:
Để đánh giá kiểm tra hiệu quả của các bài tập chúng tôi dự kiến 3 test sau:
- Bật xa tại chỗ (m): đánh giá sức mạnh tốc độ
- Chạy 30m tốc độ cao (s): đánh giá sức mạnh và tốc độ.
- Chạy 100m (s): đánh giá tổng hợp kỹ thuật.
2.1.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Để có cơ sở để đánh giá hiệu quả các bài tập bổ trợ mà chúng tôi đã lựa chọn.
Chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm trên 20 học sinh nam chạy 100m đội tuyển
điền kinh trường THPT - Ninh Bình. Trong quá trình thực nghiệm chia làm 2
nhóm.
Nhóm 1: Nhóm thực nghiệm gồm 10 em tập luyện theo bài tập mà chúng tôi đã
lựa chọn.
Nhóm 2: Nhóm đối chứng gồm 10 em tập luyện theo bài tập mà giáo viên của
trường đưa ra.
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành theo phương pháp so sánh thành tích
trước và sau thực nghiệm cho cả hai nhóm.
2.1.6. Phương pháp toán học thống kê.
Được sử dụng để sử lý những số liệu, trong quá trình lập Test. Chúng tôi đã sử
dụng trong đề tài các công thức:
- Tính trung bình cộng:
X=

∑x

i

n

- Công thức tính phương sai:

δ C2 δ C2
+
nA nB

(n < 30)

- Công thức tính hệ số tương quan r:
r=

∑ ( x − x)( y − y)
∑ ( x − x) ∑ ( y − y )
i

i

2

i

2

i

2.2. Tổ chức nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu:
Là các bài tập sức mạnh tốc độ nhằm nâng cao thành tích chạy 100m và đội
tuyển chạy 100m nam trường THPT - Tỉnh Ninh Bình (gồm 10 vận động viên
nam).
- Phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng quan trắc: Là học sinh nam đội tuyển điền kinh trường THPT –

1.1. Khái niệm và các quan điểm về sức mạnh tốc độ:
Nhiều nhà khoa học đều cho rằng sức mạnh là khả năng của con người sinh
lực cơ học bằng sự nỗ lực của cơ bắp.
Sức mạnh tốc độ là sức mạnh được sinh ra trong các động tác nhanh.
Theo quan điểm của phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Toán: Sức mạnh tốc độ là
khả năng sinh lực và khắc phục một trọng lượng nào đó với tốc độ nhanh nhất hay
sức mạnh tốc độ là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh trong thời gian
ngắn.
Sức mạnh tốc độ theo quan điểm của Virkhosanxki: Thể hiện khả năng
chống lại đối kháng bên ngoài trong khoảng 40-70% khả năng tối đa.
Sức mạnh tốc độ theo quan điểm của Jurger Hartmann: Nét đặc trưng cơ bản
của sức mạnh tốc độ đó là sự kết hợp giữa các sức mạnh tốc độ với lực cản bên
ngoài (trọng lượng tạ, trọng lượng dụng cụ ...).
Theo quan điểm của Zaxiorski: Sức mạnh tốc độ là loại sức mạnh được
quyết định bởi gia tốc động tác và khối lượng cố định vì lực cơ học của nó là:
F= Max
Điều đó chứng tỏ rằng sức mạnh tốc độ được cấu thành bởi gia tốc thực hiện
động tác (Gia tốc a) và trọng lượng vật chịu tác động (khối lượng m).
Theo quan điểm Baursfeld cho rằng: Sức mạnh tốc độ là khẳ năng cơ bản đối
với việc tiến hành hiệu quả động tác thực hiện ở môn điền kinh có chu kỳ và không
có chu kỳ nhưng thời gian ngắn. Ở lứa tuổi đầu tiên giai đoạn huấn luyện nền tảng
(10- 12 tuổi) rất có ý nghĩa đối với việc huấn luyện sức mạnh tốc độ thuận lợi cho
hệ cơ bắp có giá trị phát triển sức mạnh tốc độ.
8


Ông Hin (Mỹ) 1938 đă lập phương trình cơ bản của động lực cơ bắp như
sau:
(P + a)(v + b) = (Po + a) = k
P: Sức mạnh được thể hiện



mạnh bột phát, tính nhịp điệu tạo thành, vì vậy cần phải phát triển sức mạnh tốc độ
trong chạy 100m.
b, Đặc điểm môn chạy 100m:
Chạy ngắn là một hoạt động có chu kỳ, lặp đi lặp lại những hoạt động giống
nhau nhằm mục đích nhanh chóng ra khỏi vạch xuất phát chạy nhanh về vạch đích.
Trong các môn chạy ngắn có môn chạy 100m chúng ta đang nghiên cứu.
Chạy 100m được chia thành 04 giai đoạn: Xuất phát- chạy lao- giữ quãng và
về đích.
- Xuất phát: Được tính từ khi bắt đầu có khẩu lệnh, vào chỗ đến khi lao ra
khỏi vạch xuất phát. Nhiệm vụ của xuất phát là nhằm mục đích lao ra thật nhanh
khỏi vạch xuất phát khi có phát lệnh, tạo ra tốc độ tối đa theo phương nằm ngang
và chuẩn bị tốt cho giai đoạn chạy lao. Có 2 kỹ thuật xuất phát là xuất phát thấp và
xuất phát cao, thường chạy 100m là xuất phát thấp.

- Chạy lao sau xuất phát: Tính từ khi rời khỏi vạch xuất phát đến khoảng
15- 20m ban đầu, đặc điểm giai đoạn này thân trên của vận động viên thấp và từ từ
nâng dần trọng tâm cơ thể lên. Bước chạy ở giai đoạn này dài hơn. Nhiệm vụ của
chạy lao là đưa cơ thể con người từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động và tăng tốc
tối đa ở cuối giai đoạn này.

10


- Chạy giữa quãng: Tính từ khi kết thúc giai đoạn chạy lao, ở giai đoạn này
khi chạy thân người của vận động viên tương đối thẳng, bước sải đều, duy trì tốc
độ. Nhiệm vụ của giai đoạn này là giữ được tốc độ duy trì về đích.

- Về đích: Tính từ khi một bộ phận đầu tiên của cơ thể chạm dây đích.


Sức mạnh trong khi xuất phát được tính bằng công thức:
I=

F max
t

Trong đó: I: là chỉ số sức mạnh tốc độ.
Fmax: Lực tối đa trong khi thực hiện động tác.
t: Là thời gian đạt được chỉ số tối đa.
+ Tốc độ: Là khả năng thực hiện động tác trong khoảng thời gian ngắn nhất.
+ Yếu tố quyết định đến tốc độ là độ linh hoạt của quá trình thần kinh và tốc
độ co cơ.
+ Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanh
chóng giữa hưng phấn và ức chế trong các trung tâm thần kinh.
+ Tốc độ co cơ phụ thuộc vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong bó cơ.
Trong TDTT sức mạnh và tốc độ có quan hệ mật thiết với nhau. Cho nên những
hoạt động có liên quan đến sức mạnh và tốc độ được gọi là hoạt động sức mạnh tốc
độ.
Sức mạnh tốc độ là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh, nhóm sức
mạnh này được chia thành sức mạnh động lực và hoãn xung, chúng có liên quan và
ảnh hưởng đến việc quyết định thành tích chạy 100m.
Lực tối đa mà con người có thể tạo ra, một mặt phụ thuộc vào đặc tính sinh
cơ của động tác (độ dài cánh tay đòn, khả năng thu hút các nhóm cơ lớn nhất hoạt
động…). Mặt khác phụ thuộc vào mức độ hoạt động của từng nhóm cơ riêng biệt
và sự phối hợp giữa chúng.
* Mức độ hoạt động của cơ được quy định bởi 2 nhân tố:
- Xung động từ các nơron thần kinh vận động trong sừng trước tủy sống đến
cơ.
- Phản ứng của cơ (tức là lực do nó sinh ra để đáp lại xung động thần kinh).


Vì vậy chúng ta muốn phát triển sức mạnh tốc độ phải có phương pháp giảng
dạy và huấn luyện hợp lý khối lượng và cường độ phù hợp với khả năng chức phận
và đặc điểm trình độ phát triển thể lực của các em.
Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi:
Lứa tuổi này cơ thể các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, các bộ phận
cơ thể vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ chậm dần. Chức năng sinh lý đã tương
đối ổn định, khả năng hoạt động của các hệ thống, cơ quan của cơ thể cũng được
nâng cao hơn. Ở lứa tuổi này cơ thể các em đang chuyển dần từ phát triển theo
chiều cao nhiều hơn sang phát triển theo chiều ngang nhiều hơn, chiều cao vẫn phát
triển nhưng chậm. Vì vậy các giáo viên, HLV cần căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý
lứa tuổi và giới tính để đưa ra những bài tập có cường độ, khối lượng sao cho đảm
bảo tính hợp lý, tạo sự phát triển một cách toàn diện.
a, Đặc điểm tâm lý:
Về tâm lý các em tỏ ra mình là người lớn, muốn để cho mọi người tôn trọng
mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích tổng hợp, muốn
hiểu biết nhiều, có nhiều hoài bão, nhưng còn nhiều nhược điểm và thiếu kinh
nghiệm trong cuộc sống.
Tuổi này chủ yếu là tuổi hình thành thế giới quan, tự ý thức, hình thành tính
cách và hướng về tương lai. Đó cũng là tuổi của lãng mạn, mơ ước độc đáo và
mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn, đó là tuổi đầy nhu cầu sáng tạo, nảy nở những
tình cảm mới, trong đó có mối tình đầu thường để lại dấu vết trong sáng trong suốt
cuộc đời. Thế giới quan không phải là một niềm tin lạnh nhạt, khô khan, trước hết
nó là sự say mê ước vọng nhiệt tình.
- Hứng thú: Các em đã có thái độ tự giác tích cực trong học tập xuất phát từ
động cơ học tập đúng đắn và hướng tới việc lựa chọn nghề sau này sau khi đã học
xong phổ thông trung học. Song hứng thú học tập vẫn còn nhiều động cơ khác như:
Giữ lời hứa với bạn, đôi khi do tự ái, hiếu danh.
15


+ Hệ xương: Đã bắt đầu giảm tốc độ phát triển mỗi năm nữ cao thêm 0,5cm1cm, nam cao thêm 1- 3cm. Tập luyện thể dục thể thao một cách thường xuyên liên
tục làm cho bộ xương khỏe mạnh hơn.
Các xương nhỏ như xương cổ tay, bàn tay hầu như đã hoàn thiện nên các em
có thể tập luyện một số động tác treo chống, mang vác vật nặng mà không làm tổn
hại hoặc không tạo sự phát triển lệch lạc của cơ thể. Cột sống đã ổn định hình dáng,
nhưng vẫn chưa được hoàn thiện, vẫn có thể bị cong vẹo. Cho nên việc tiếp tục bồi
dưỡng tư thế chính xác thông qua hệ thống bài tập như: đi, chạy, nhảy, thể dục nhịp
điệu, thể dục cơ bản…. cho các em vẫn cần tiếp và không thể xem nhẹ.
+ Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương nên cơ co vẫn còn
tương đối yếu, các bắp cơ lớn phát triển tương đối nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay) còn
các cơ nhỏ (cơ bàn tay, cơ ngón tay) phát triển chậm hơn. Các cơ co phát triển sớm
hơn các cơ duỗi. Nam từ 14- 16 tuổi là thời kỳ cơ bắp phát triển nhanh nhất.
- Hệ tuần hoàn:
Hệ tuần hoàn đang phát triển và đi đến hoàn thiện buồng tim phát triển tương
đối hoàn chỉnh, mạch đập của nam 70- 80 lần/phút. Hệ thống điều hòa vận mạch
phát triển tương đối hoàn chỉnh. Phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động tương
đối rõ rệt, nhưng sau vận động mạch đập và huyết áp hồi phục tương đối nhanh
chóng. Cho nên lứa tuổi này có thể tập những bài tập dai sức và những bài tập có
khối lượng vận động và cường độ vận động tương đối lớn. Khi sử dụng các bài tập
có khối lượng vận động và cường độ vận động lớn trong các bài tập phát triển sức
bền cần phải thận trọng và thường xuyên kiểm tra theo dõi trạng thái sức khỏe của
học sinh.
- Hệ hô hấp:
Đã phát triển và tương đối hoàn thiện, vòng ngực trung bình của nam từ 6772cm. Diện tích tiếp xúc của phổi khoảng 100- 120cm 2 gần bằng tuổi trưởng thành,
dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng: Lúc 15 tuổi từ 2- 2,5 lít đến 16- 18 tuổi
17


khoảng 3- 4 lít, tần số hô hấp 10- 20 lần/phút. Tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu
nên sức co giãn của lồng ngực ít, chủ yếu là co giãn cơ hoành. Trong tập luyện cần

Lựa chọn các test phù hợp để đánh giá sức mạnh tốc độ cho học sinh nam đội
tuyển điền kinh trường THPT- Ninh Bình, chúng tôi tiến hành phỏng vấn nhằm thu
thập ý kiến của các HLV, giáo viên điền kinh…. số phiếu phát ra là 30, thu về là
30.
Cách trả lời cụ thể như sau:
19


3 điểm: Rất quan trọng.
2 điểm: Quan trọng.
1 điểm: Không quan trọng.
Qua phỏng vấn 30 HLV và giáo viên đã từng huấn luyện VĐV chạy 100m có
đặc điểm trình độ được trình bày ở biểu đồ 1.
Biểu đồ 1: Biểu diễn đặc điểm đối tượng phỏng vấn.

Từ kết quả phỏng vấn chúng tôi sẽ lựa chọn các chỉ tiêu có số điểm đạt từ
70% tổng điểm trở lên để tiến hành các thử nghiệm của đề tài.
Phỏng vấn cho kết quả ở bảng 1.
Bảng 1. Kết quả phỏng vấn lựa chọn một số test đánh giá trình độ sức
mạnh tốc độ cho nam học sinh đội tuyển điền kinh trường THPT- Ninh Bình
(n=30)
T

Các test

T
1
2
3
4

7
14

quan trọng
N
Đ
2
2
9
9
4
4

11

9

10

33

18

10

Tổng
điểm
78
62
75

0,84
< 0,01
2 Chạy 30m tốc độ cao (s).
0,81
< 0,01
Qua bảng 2 chúng tôi thấy lựa chọn được 2 test đều đạt hệ số tương quan r từ
0,81 đến 0,84 ở ngưỡng xác xuất P < 0,01, thoả mãn yêu cầu tính thông báo có r ≥
0,06 với P ≤ 0,05, đó là:
- Bật xa tại chỗ (m).
- Chạy 30m tốc độ cao (s).
Hai test trên vừa đảm bảo độ tin cậy và tính thông báo của test với học sinh nam
đội tuyển điền kinh trường THPT- Ninh Bình.
1.2. Đánh giá huấn luyện sức mạnh tốc độ trong chạy 100m của nam học sinh
đội tuyển điền kinh trường THPT - Tỉnh Ninh Bình.
Để điều tra thực trạng việc sử dụng bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho học
sinh nam đội tuyển điền kinh trường THPT- Ninh Bình, chúng tôi đã trực tiếp
21


phỏng vấn các giáo viên thuộc bộ môn Thể dục của nhà trường và được biết đội
tuyển điền kinh của trường được thành lập chủ yếu dựa trên cơ sở tuyển chọn từ
các đợt kiểm tra môn học thể dục của năm thứ nhất (lớp 10) và thứ hai (lớp 11),
mỗi một nội dung lấy thành tích cao nhất từ 5- 6 em để tham gia tập luyện và chọn
ra em có thành tích tốt nhất, tham gia các giải điền kinh học sinh và hội khỏe Phù
Đổng.
Do đó, việc chuẩn bị thể lực cũng như về kỹ thuật các môn điền kinh của các
em, cũng chỉ được tập luyện trong trường học theo chương trình của bộ môn thể
dục. Vì vậy việc chuẩn bị thể lực, cũng như kỹ thuật còn hạn chế. Trong những
năm gần đây, được phép của ban giám hiệu nhà trường và của bộ môn thể dục đội
tuyển điền kinh của nhà trường đã được thành lập và được tập luyện thường xuyên

Bật xa tại chỗ (m)

Chạy 30m tốc độ

Chạy 100m xuất

cao (s)

phát thấp (s)

2013

2014

2013

2014

2013

2014

2,45
0,11

2,48
0,12

3,67
0,03

trường THPT- Ninh Bình.
1.3. Trình độ phát triển tố chất thể lực sức mạnh tốc độ trước thực nghiệm của
nam học sinh đội tuyển điền kinh môn chạy 100m trường THPT- Ninh Bình.
Trước khi bước vào lựa chọn và ứng dụng bài tập cho đối tượng nghiên cứu,
chúng tôi tiến hành kiểm tra các test đánh giá trình độ sức mạnh tốc độ nhằm nâng
23


cao thành tích chạy 100m của học sinh nam đội tuyển điền kinh (2 nhóm thực
nghiệm và đối chứng) trình bày kết quả ở bảng 4.
Bảng 4: So sánh kết quả các test trước thực nghiệm (nA= nB= 10)
Test
Nhóm
Chỉ số

Bật xa tại chỗ (m)
Đối

Chạy 30m tốc độ

Chạy 100m xuất

cao (s)
Đối
Thực

phát thấp (s)
Đối
Thực


>0,05
Nhìn vào bảng 4 cho thấy thành tích trung bình bật xa tại chỗ của nhóm đối

chứng là 2,55 (m), của nhóm thực nghiệm là 2,63 (m) với ttính= 1,714 < tbảng = 2,101.
Như vậy sự khác biệt thành tích của 2 nhóm là không có ý nghĩa ở ngưỡng xác xuất
P> 0,05. Tương tự ta thấy thành tích trung bình của test còn lại: Chạy 30m tốc độ
cao (s), chạy 100m xuất phát thấp (s), của 2 nhóm trước thực nghiệm là sự khác
biệt không có ý nghĩa, thể hiện ttính < tbảng ở ngưỡng xác xuất 0,05
Như vậy chúng tôi khẳng định trước thực nghiệm trình độ thể lực chuyên môn 2
nhóm là tương đương nhau.
Tóm lại: Qua phần nghiên cứu đánh giá huấn luyện sức mạnh tốc độ trong
chạy 100m của nam học sinh đội tuyển điền kinh trường THPT - Tỉnh Ninh Bình ta
thu được kết quả như sau:
- Lựa chọn được test đánh giá sức mạnh tốc độ cho VĐV chạy 100m trường
THPT- Ninh Bình.
- Đánh giá được trình độ tố chất thể lực sức mạnh tốc độ trước thực nghiệm của
VĐV chạy 100m trường THPT- Ninh Bình.
B. GIẢI PHÁP MỚI CẢI TIẾN

24


2. Lựa chọn và đánh giá hiệu quả bài tập phát triển sức mạnh tốc độ nhằm
nâng cao thành tích chạy 100m cho nam học sinh đội tuyển điền kinh trường
THPT- Tỉnh Ninh Bình.
2.1. Nghiên cứu đưa ra bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho VĐV chạy
100m của đội tuyển điền kinh trường THPT- Ninh Bình.
Phân tích các tài liệu, thông qua nghiên cứu thực trạng việc sử dụng các bài tập
phát triển sức mạnh tốc độ cho VĐV chạy 100m, chúng tôi đưa ra 19 bài tập được
sử dụng để phát triển sức mạnh tốc độ cho học sinh nam đội tuyển điền kinh trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status