TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
ĐỖ THỊ HUYỀN TRANG
ỨNG DỤNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
SỨC MẠNH TỐC ĐỘ NHẰM NÂNG CAO
THÀNH TÍCH CHẠY 100M CHO NỮ ĐỘI
TUYỂN ĐIỀN KINH TRƢỜNG
THPT YÊN LẠC - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI
HỌC
HÀ NỘI, 2012
ĐỖ THỊ HUYỀN TRANG
ỨNG DỤNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
SỨC MẠNH TỐC ĐỘ NHẰM NÂNG CAO
THÀNH TÍCH CHẠY 100M CHO NỮ ĐỘI
TUYỂN ĐIỀN KINH TRƢỜNG
THPT YÊN LẠC – VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CNKHSP TDTT GDQP
Hƣớng dẫn khoa học
TH.S HÀ MINH DỊU
: Trung học phổ thông
5. XPT
: Xuất phát thấp
6. XPC
: Xuất phát cao
7. BXTC
: Bật xa tại chỗ
8. TTN
: Trước thực nghiệm
9. STN
: Sau thực nghiệm
10. CNH – HĐH
: Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
11. NXB
: Nhà xuất bản
Vĩnh Phúc
Bảng 3.2
Kết quả phỏng vấn lựa chọn các test đánh giá năng
lực SMTĐ trong chạy 100m Nữ (n = 10)
Bảng 3.3
Kết quả kiểm tra năng lực SMTĐ của đội tuyển điền
kinh trường THPT Yên Lạc – Vĩnh Phúc (n = 12).
Bảng 3.4
Kết quả phỏng vấn lựa chọn các bài tập phát triển
SMTĐ trong cự ly chạy 100m Nữ (n = 10)
Bảng 3.5
Nội dung bài tập phát triển SMTĐ
Bảng 3.6
Kết quả kiểm tra 2 nhóm trước thực nghiệm
(nA = nB = 6)
Bảng 3.7
Tiến trình thực nghiệm
1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN
CÁC VẤN ĐỀ
4
1.1. Đặc điểm tâm - sinh lý lứa
tuổi THPT
4
1.2. Cơ sở lý luận của tố chất
SMTĐ
7
1.3. Đặc điểm cơ bản trong
huấn luyện SMTĐ
13
CHƢƠNG 2: NHIỆM VỤ,
PHƢƠNG PHÁP VÀ TỔ
CHỨC
18
NGHIÊN CỨU
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
18
2.2. Phương pháp nghiên cứu
18
2.3. Tổ chức nghiên cứu
21
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
23
NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng việc sử dụng
bài tập và đánh giá năng
CNH - HĐH đất nước. Chúng ta đã và đang đạt được những thành tựu to lớn
về kinh tế, chính trị, quốc phòng, cùng với sự chuyển mình của đất nước, thể
thao Việt Nam đã có những bước tiến vuợt bậc trên đấu trường khu vực cũng
như trên thế giới. Mặt khác TDTT Việt Nam đã khẳng định vị thế của mình
trên trường quốc tế và đã để lại nhiều tình cảm tốt đẹp với bạn bè khắp năm
châu.
Ngày nay được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, TDTT Việt Nam
đã có bước khởi sắc mới và đang trên đà phát triển nhanh chóng từng bước
hội nhập với nền thể thao khu vực, châu lục cũng như các nước trên thế giới,
nước ta đã có những VĐV tham gia Olympic, Asiad thế giới, đặc biệt trong
vài thập niên trở lại đây Việt Nam đã liên tục tham gia các kỳ đại hội thể thao
Đông Nam Á (Seagames) và luôn có thứ hạng cao, tuy nhiên để so sánh với
các quốc gia có nền thể thao phát triển thì TDTT nước ta cần nỗ lực hơn nữa.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh có dạy: “Vì lợi ích mười năm trồng
cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Thấm nhuần lời dạy đó ngày nay Đảng
và Nhà nước ta đã quán triệt tư tưởng ấy làm nền tảng cho công tác giáo dục
thế hệ trẻ trở thành những con người phát triển toàn diện, xứng đáng kế tục sự
nghiệp cách mạng của đất nước, của dân tộc mà cha ông ta đã dày công vun
đắp để sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Vì vậy công tác GDTC trong
trường học là một bộ phận không thể tách rời mục tiêu giáo dục và đào tạo từ
nhà trường tiểu học tới các trường đại học. Với mục đích nhằm hình thành và
phát triển nhân cách cho học sinh, nhằm trang bị cho các em những kiến thức
hiểu biết để bồi dưỡng kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết phục vụ học tập,
lao động, xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Từ đó Đảng và Nhà nước cùng với các
cấp các ngành đã quan tâm đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất trang thiết bị giảng
dạy phục vụ công tác giáo dục thể chất trong các trưòng phổ thông.
Hoạt động TDTT vô cùng phong phú và đa dạng mỗi môn thể thao đều
mang sắc thái thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, mang tính thẩm mỹ và
cứu về SMTĐ cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Lạc – Vĩnh
Phúc.
* Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu đánh giá thực trạng tố chất sức mạnh tốc độ của nữ đội tuyển
điền kinh trường THPT Yên Lạc - Vĩnh Phúc.
- Trên cơ sở phân tích tài liệu chung và tài liệu chuyên môn có liên quan.
Đề tài tiến hành nghiên cứu lựa chọn áp dụng bài tập một cách khoa học hợp
lý để phát triển sức mạnh tốc độ nhằm đạt hiệu quả cao trong chạy 100m đối
với nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Yên Lạc - Vĩnh Phúc.
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi THPT
1.1.1. Đặc điểm tâm lý
Về mặt tâm lý các em thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn để mọi
người tôn trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng
phân tích, tổng hợp, muốn hiểu biết, nhiều hoài bão, nhưng vẫn còn nhiều
nhược điểm và kinh nghiệm cuộc sống còn ít.
Độ tuổi này chủ yếu là hình thành thế giới quan, tự ý thức hình thành
về tính cách và hướng về tương lai. Đó cũng là lứa tuổi của lãng mạn, độc đáo
và mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Đó là tuổi nhu cầu sáng tạo, nảy nở
những tình cảm mới. Thế giới quan không phải là một niềm tin lạnh nhạt mà
nó là sự say mê ước vọng nhiệt tình. Các em có thái độ tự giác tích cực trong
học tập, xuất phát từ động cơ học tập đúng đắn và hướng tới việc lựa chọn
nghề nghiệp sau này. Do đó quá trình hưng phấn cao hơn quá trình ức chế nên
các em tiếp thu nhanh nhưng cũng chóng chán. Khi đạt được một số kết quả
sẽ dẫn đến tự mãn, điều đó có tác động không tốt đến tập luyện cũng như thi
đấu thể thao. Vì vậy khi tiến hành tập luyện, huấn luyện cho các em ở lứa tuổi
này cần phải uốn nắn nhắc nhở chỉ bảo tận tình định hướng và động viên các
hưởng đến hoạt động thể dục thể thao, các bài tập đơn điệu làm
cho học sinh nhàm chán mệt mỏi. Vì vậy cần phải thay đổi nhiều
hình thức tập luyện.
* Hệ cơ: Ở lứa tuổi này đang phát triển nhưng chậm hơn so với hệ
xương, số lượng sợi cơ tăng chậm nhưng chiều dài sợi cơ phát triển
nhanh. Đàn tính cơ tăng nhưng không đều, do đó để củng cố và phát
triển sức nhanh, mạnh cần phát triển sức bền và sức mạnh bền. Khi
áp dụng các bài tập cần
tăng dần lượng vận động, tránh tăng lượng vận động đột ngột dễ dẫn tới chấn
thương. Cơ không đều chủ yếu là cơ nhỏ dài, do đó cơ hoạt động sớm dễ dẫn
tới mệt mỏi.
* Hệ tuần hoàn: Tiếp tục phát triển toàn diện. Tim đập 70 – 80 lần/
phút
Phản ứng của hệ tuần hoàn tương đối rõ rệt. Sau vận động mạch đập và
huyết áp phục hồi tương đối nhanh chóng, cho nên có thể tập các bài tập
mạnh, tốc độ hay dai sức. Ở lứa tuổi này diện tích tiếp xúc phổi khoảng 100 –
2
200cm . Dung lượng phổi tăng nhanh, tần số thở 10 – 20 lần / phút. Tuy nhiên
cơ vẫn còn yếu.
* Hệ xƣơng: Xương giảm tốc độ phát triển, sụn ở xương có độ dài nhưng
chuyển thành xương ụ. Cột sống đã ổn định về hình dáng nhưng chưa được
củng cố dễ bị cong vẹo.
* Hệ máu: Ở lứa tuổi này các em hoạt động cơ bắp cho nên hệ máu có những
thay đổi nhất định. Hàm lượng hêmôglôbin cũng như hàm lượng trong máu
đều tăng làm cho dung dịch ôxy trong máu cũng tăng lên, sau các hoạt
động kéo dài thì hồng cầu sẽ giảm đi và quá trình hoạt động xảy ra nhanh.
* Hệ hô hấp: Ở lứa tuổi này làm biến đổi về trạng thái, chức năng của hệ hô
co cơ cao của VĐV, việc vận dụng hệ thống bài tập nhằm phát triển sức mạnh
tốc độ cho những môn thể thao liên quan trước hết là sức mạnh tương đối cần
phải tiến hành sao cho sức mạnh tốc độ được nâng cao mà không có sự phì
đại cơ to quá mức. Đó là trường hợp khi người ta hay sử dụng lực cản trở và
trung bình, những lực cản phải được khắc phục bằng tốc độ co cơ cao. Trong
đó sự căng thẳng cơ cần thiết để tăng sức mạnh được tạo nên bằng sự co cơ
nhanh “bột phát”.
- Theo quan điểm của các nhà sinh lý học: Cơ chế sinh lý điều hoà sức mạnh
có cơ sở khoa học. Lực tối đa mà con người ta sản sinh ra một mặt phụ
thuộc vào đặc tính sinh cơ của động tác, khả năng thu hút các nhóm cơ lớn
tham gia hoạt động, mặt khác phụ thuộc vào mức độ của từng nhóm riêng biệt
và sự phối hợp giữa chúng. Mức độ hoạt động của cơ được quy định bởi hai
nhân tố xung quanh từ các nơron thần kinh vận động trong từng tuỷ sống đến
cơ. Phản ứng của cơ tức là do nó sinh ra để đáp ứng xung động thần kinh, nếu
lực cơ phát huy chỉ khoảng 20 – 80% khả năng tối đa của nó thì cơ thể điều
hoà số lượng sợi cơ có ý thức cơ bản, điều hoà đó có ý nghĩa nội lực, kích thích
nhỏ thì chỉ có ít sợi cơ hoạt động tích cực, trong trường hợp lực co cơ phát huy
giá trị tối đa có thể xảy ra một cách điều hoà thứ ba đồng bộ hoạt động bình
thường không quá 20% xung động là đồng bộ với nhau. Với sự phát triển trình
độ tập luyện khả năng điều hoà đồng bộ tăng lên rất nhiều.
- Theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Toán cho rằng: Sức mạnh tốc độ là
khả năng sinh lực và khắc phục một trọng lượng nào đó với tốc độ
nhanh nhất hay sức mạnh tốc độ là khả năng sinh lực trong động tác nhanh và
với thời gian ngắn.
Như vậy để rèn luyện sức mạnh người ta sử dụng một số bài tập sức
mạnh là các động tác với lực đối kháng, căn cứ vào tính chất lực đối kháng
của một số bài tập sức mạnh được chia thành các bài tập với lực đối kháng
bên ngoài.
lực kích thích nhỏ (trọng lượng nhỏ thì có ít sợi cơ hoạt động tích cực trong
trường hợp đó phát huy đạt trị số tối đa có thể xảy ra các điều hoà thứ ba đồng
bộ hoạt động các sợi cơ), ở những người không tập luyện thường không vượt
quá 20% xung động đồng bộ với nhau. Cùng với sự phát triển cả trình độ tập
luyện khả năng điều hoà toàn bộ tăng lên rất nhiều.
Để phát huy sức mạnh, một số vấn đề quan trọng là phải lựa chọn lực
đối kháng bên ngoài là mặt kích thích sinh lý có cường độ nhất định, qua
nghiên cứu về các đặc điểm sinh lý của bài tập với lực đối kháng khác nhau
cho thấy: Muốn phát triển được sức mạnh thì trước hết phải tạo ra được sự
căng cơ tối đa nếu không tạo ra được sự căng cơ tương đối thì sức mạnh
không phát triển được, tập luyện với mức độ căng cơ quá nhỏ sẽ giảm sút sức
mạnh. Trên thực tế ta thấy có ba cách tạo ra sự căng cơ tối đa đó là:
* Lặp lại cực hạn đối kháng chưa đến mức tối đa
* Sử dụng lực đối kháng tối đa
* Sử dụng trọng lực chưa tối đa độ cực hạn
Để tìm hiểu sâu hơn về cơ sở khoa học của bài tập sức mạnh tốc độ ta
nghiên cứu cơ sở lý luận của bài tập sức mạnh tốc độ.
Sức mạnh tốc độ là khả năng con người thể hiện sự nỗ lực lớn nhất
trong khoảng thời gian ngắn nhất. Ngoài ra để hiểu rõ mối quan hệ giữa sức
mạnh và tốc độ ta cần hiểu rõ tố chất này. Sức mạnh là khả năng con người
sinh lực cơ học bằng sự nỗ lực của cơ bắp. Nói cách khác sức mạnh của con
người là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc để kháng lại bằng
sự nỗ lực của cơ bắp, sức mạnh mà cơ phát ra phụ thuộc vào số lượng đơn vị
vận động tham gia vào sự căng cơ, chế độ của đơn vị vận động của sợi cơ đó
là chiều dài của sợi cơ trước đó.
Tốc độ là khả năng thực hiện động tác trong khoảng thời gian ngắn
nhất yếu tố quyết định đến tốc độ là độ linh hoạt của quá trình thần kinh và
tốc độ co cơ. Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện khả năng biến đổi
(phương pháp này được suy ra từ sự cân bằng năng lượng của giai đoạn cơ
sở).
(P + a)(V+b)= không đổi
P: Ngoại lực
V: Tốc độ tối đa của động tác
Cơ là đặc trưng cho mức độ tác động của từng loại cơ. Nếu trong
phương trình giữa P và V là không đổi thì hệ thần kinh co cơ có thể luôn luôn
tạo nên thành tích như nhau mà không phụ thuộc vào độ lớn các ngoại lực.
Điều này có ý nghĩa là ngoại lực nhỏ tạo nên sự co cơ nhanh, trong khi đó co
cơ chậm hơn khi ngoại lực lớn. Từ đó suy ra được kết luận về mặt phương
pháp cho huấn luyện sức mạnh tốc độ là phải nâng cao sức mạnh hoặc phần
sức mạnh một cách có trọng tâm. Nhưng cũng tuỳ theo nhu cầu ở đây cần
huấn luyện sức mạnh với các lực cản bên ngoài rất lớn thì phù hợp với điều
kiện đặc trưng này, tuy nhiên việc huấn luyện này không có tác dụng nâng
cao tốc độ co cơ nhưng khi nó đặc trưng cho những động tác có lực cản bên
ngoài nhỏ thì sẽ nâng cao được tốc độ co cơ trong những điều kiện như nhau.
Song không nâng cao tốc độ co cơ khó phải khắc phục những lực cản bên
ngoài lớn, từ đó suy ra phải phát triển sức mạnh trong huấn luyện VĐV trẻ.
Bên cạnh đó tốc độ tối đa cũng cần khắc phục nhanh chóng các lực cản bên
ngoài tương đối lớn được nâng lên trước hết là các hình thức của lượng vận
động.
Trong huấn luyện VĐV trẻ sức mạnh tối đa cần thiết để khắc phục
nhanh các lực cản bên ngoài tương đối lớn được nâng cao trước hết thông qua
các hình thức của lượng vận động huấn luyện sức mạnh tốc độ. Trong quá
trình tiếp tục phát triển thành tích, nên phải áp dụng hình thức của lượng vận
động huấn luyện sức mạnh tối đa để tiếp tục nâng cao sức mạnh thì cũng phải
đạt được sự phát triển song song của sức mạnh tối đa và sự co cơ. Huấn luyện
sức mạnh tốc độ yêu cầu sắp xếp chính xác tất cả yếu tố của lượng vận động.
chuẩn xác.
Qua nghiên cứu cho thấy ý nghĩa của sức mạnh tốc độ đối với các môn
chạy cự ly càng ngắn càng có ý nghĩa cao.
1.3. Đặc điểm cơ bản trong huấn luyện sức mạnh tốc độ
1.3.1. Khuynh hướng giáo dục SMTĐ
Sức mạnh tốc độ là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh: Thực
tế cho thấy thành tích đỉnh cao trong chạy cự ly ngắn 100m phụ thuộc rất
nhiều vào các nhân tố như: cơ sở vật chất trang thiết bị tập luyện, điều kiện thi
đấu, trạng thái tâm lý. Đó là các yếu tố quan hệ đến chạy nói chung, chạy
100m nói riêng. Trong đó các tố chất thể lực đóng vai trò quan trọng đến phát
triển thành tích, song yếu tố quan trọng để nâng cao thành tích chạy 100m là
tố chất nhóm nâng cao độ dài bước chạy. Vì khi có độ dài bước tốt thì mức độ
đạp sau cần phải ổn định và phát triển được khả năng phát huy dùng lực, mà
trong đó yếu tố sức mạnh tốc độ luôn đóng vai trò quyết định. Hơn nữa, chỉ
có phát triển sức mạnh tốc độ thì mới nâng cao được hiệu quả của giai đoạn
xuất phát thấp và chạy lao sau xuất phát. Chạy 100m với tốc độ tối đa trong
vòng 10s với tốc độ di chuyển hơn 10m/s. Hơn nữa, chạy 100m cơ thể VĐV
hoạt động ở trạng thái yếm khí và cơ thể chưa hoạt động đến mức tối đa với
các chức phận của cơ thể, cho nên ở giai đoạn chạy giữa quãng và về đích
cũng có sự phân giải và cung cấp ATP một cách nhanh chóng. Chính vì lẽ đó
mà phải giáo dục sức mạnh tốc độ tốt để nâng cao yếm khí và sự thích nghi
trong cơ thể, một mặt khi có độ dài bước tốt sẽ giúp cho quá trình thả lỏng cơ
bắp dài, tạo điều kiện tái tạo lại năng lượng ATP khi cơ bắp hoạt động. Mặt
khác, không tạo ra được sự thích nghi đó thì VĐV chạy về đích xảy ra hiện
tượng đau đầu chóng mặt, hoa mắt và có thể bị ngã do cung cấp và phân giải
ATP không kịp thời, điều này sẽ ảnh hưởng tới thành tích.
Như vậy, sức mạnh tốc độ không thể thiếu được trong quá trình đào tạo
VĐV chạy cự ly ngắn. Hay nói một cách khác là tố chất sức mạnh tốc độ có
- Tiếp tục hoàn thiện khả năng thực hiện các hình thức cơ bản như sức mạnh
bền, sức mạnh động lực, sức mạnh đơn thuần nhưng điều quan tâm nhất là
sức mạnh tốc độ.
- Phát triển cân đối các nhóm cơ trong hệ vận động.
- Phát triển năng lực sử dụng khác nhau trong các điều kiện cụ thể mà nhiệm
vụ giáo dục đề ra. Việc sử dụng các bài tập tiện lợi ở các góc độ khác
nhau. Các bài tập có thể tác động tới hầu hết các nhóm cơ tham gia hoạt động
do sự điều khiển của hệ thần kinh trung ương và mức độ hoạt động cơ bắp
được quy định bởi hai nhân tố.
- Xung động từ các nơron thần kinh vận động ở vùng trước tuỷ sống đến cơ.
- Phản ứng của các lực sinh ra để đáp lại xung đột thần kinh, nói ngắn gọn
sức mạnh của cơ phụ thuộc hai nhân tố:
+ Nhân tố 1: Thiết diện sinh lý của hệ cơ
+ Nhân tố 2: Điều hoà thần kinh
Ảnh hưởng dinh dưỡng của thần kinh trung ương thông qua hệ thống
Adrênalin giao cảm. Độ dài của cơ thời điểm đó kích thích một số nhân tố
khác cơ chế chủ tạo cho phép thay đổi tới mức độ hoạt động của cơ là đặc
điểm xung động ly tâm, sự thay đổi mức độ này bằng hai cách.
(Trong đó có thể từ 5 – 6 đến 30 – 40 xung động). Như vậy lực do cơ
phát huy chỉ vào khoảng 20 – 80% sợi cơ có ý nghĩa. Nếu lực kích thích nhỏ
thì chỉ có ít số lượng sợi cơ hoạt động tích cực. Trong trường hợp do cơ phát
huy đạt giá trị tối đa có thể xảy ra một cách điều hoà thứ ba đồng bộ hoá hoạt
động của sợi cơ, ở những người không tập luyện thể dục thể thao không quá
20% xung động đồng thời đồng bộ với nhau cùng với sự phát triển của trình
độ tập luyện khả năng điều hoà đồng bộ tăng lên rất nhiều.
Nhưng nhìn chung xét một cách tổng quát khi huấn luyện sức mạnh tốc
độ cho VĐV muốn phát triển sức mạnh tốc độ đòi hỏi VĐV phải thực hiện
động tác với tốc độ tối đa (nâng cao sự co cơ và nâng cao sức mạnh tốc độ tối
2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp nghiên cứu lí luận còn gọi là phương pháp đọc, phân tích
tài liệu tham khảo, hay phương pháp đọc sách.
Phương pháp nghiên cứu lí luận là phương pháp thu thập thông tin
bằng cách đọc và phân tích tài liệu tham khảo. Chúng tôi đã đọc tìm hiểu và
tổng hợp các tài liệu có liên quan đến việc nghiên cứu làm cơ sở lý luận cho
đề tài. Chúng tôi thu thập cơ sở lý luận, cơ sở sinh lý trong vận động, đặc
điểm tâm lý đối tượng nghiên cứu và một số tài liệu có liên quan đến đề tài.
Qua đó giúp chúng tôi hiểu vấn đề và giải quyết các nhiệm vụ của đề tài một
cách thuận lợi và đảm bảo tính khoa học.
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn - tọa đàm
Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi - trả lời giữa nhà nghiên cứu
với các cá nhân, tổ chức khác nhau về các vấn đề cần quan tâm.