TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
VŨ THỊ THANH MAI
ỨNG DỤNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
SỨC MẠNH TỐC ĐỘ NHẰM NÂNG CAO
THÀNH TÍCH CHẠY 200M CHO NỮ
ĐỘI TUYỂN ĐIỀN KINH TRƢỜNG THPT
NGÔ GIA TỰ - VĨNH PHÖC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CNKHSP TDTT-GDQP
Hƣớng dẫn khoa học
ThS. HÀ MINH DỊU
Hµ Néi - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là
: VŨ THỊ THANH MAI
Lớp
: K36 GDTC - GDQP
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
5. XPC
: Xuất phát cao
6. TTN
: Trước thực nghiệm
7. STN
: Sau thực nghiệm
8. SMTĐ
: Sức mạnh tốc độ
9. TT
: Thứ tự
10.BXTC
: Bật xa tại chỗ
11. THPT
: Trung học phổ thông
12. NXB
luyện đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự -
27
Vĩnh Phúc.
Bảng 3.2
Bảng 3.3
Kết quả phỏng vấn lựa chọn các tets đánh giá năng lực
SMTĐ trong chạy 200m nữ (n = 10).
Xác định độ tin cậy của Test trên đối tượng nghiên cứu
(n = 10).
29
30
Kết quả kiểm tra năng lực SMTĐ của đội tuyển Điền
Bảng 3.4
kinh trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh Phúc với trường
31
THPT Yên Lạc - Vĩnh Phúc (n = 12).
Bảng 3.5
Bảng 3.6
Bảng 3.7
Bảng 3.8
Bảng 3.9
45
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU..................................... 5
1.1.Những quan điểm của Đảng và nhà nước về công tác GDTC trong
trường học. ..................................................................................................... 5
1.2. Đặc điểm tâm – sinh lý lứa tuổi THPT ................................................... 6
1.3. Cơ sở lý luận của các tố chất sức mạnh tốc độ ..................................... 10
1.4. Cơ sở lý luận để lựa chọn một số bài tập nhằm phát triển sức mạnh
tốc độ............................................................................................................ 17
CHƢƠNG 2: NHIỆM VỤ, PHƢƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC
NGHIÊN CỨU ............................................................................................................... 22
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................. 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 22
2.3. Tổ chức nghiên cứu .............................................................................. 25
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. 27
3.1. Thực trạng việc sử dụng bài tập và đánh giá năng lực SMTĐ trong
chạy 200m của nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự Vĩnh Phúc. ................................................................................................... 27
3.2. Nghiên cứu lựa chọn và đánh giá hiệu quả một số bài tập phát triển
SMTĐ cho nữ đội tuyển Điền kinh trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh
Phúc. ............................................................................................................ 32
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................... 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 48
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Điền kinh là môn thể thao rất đa dạng và phong phú bao gồm các hoạt
động tự nhiên của con người: Đi bộ, chạy nhảy, ném đẩy và nhiều môn phối
hợp, ở nước ta môn Điền kinh đã có lịch sử phát triển từ lâu đời, với các hình
thức tập luyện đa dạng đã thu hút đông đảo mọi tầng lớp, đối tượng quần
chúng tham ra tập luyện và thi đấu. Khi chạy tất cả các nhóm cơ cùng tham
gia hoạt động nhưng chủ yếu là cơ quan nội tạng. Việc gắng sức luân phiên
với thả lỏng tích cực tạo điều kiện cho việc phát triển các tố chất sức nhanh,
mạnh, bền, sự mềm dẻo, khéo léo và khả năng phối hợp của con người. Môn
chạy nói chung và chạy nhanh nói riêng là biện pháp tốt nhất để rèn luyện
nâng cao sức khoẻ, ngoài ra còn trang bị cho người tập những phẩm chất đạo
đức ý chí cũng như tăng cường vốn kỹ xảo vận động cơ bản quan trọng trong
cuộc sống.
Điền kinh giữ vai trò quan trọng trong nền giáo dục thể chất trong
trường học nói chung và trong các trường phổ thông trung học nói riêng, đặc
biệt là trường THPT. Ngày nay phong trào TDTT nói chung và Điền kinh nói
riêng trong chạy cự ly 200m đang được phát triển mạnh mẽ ở các trường cơ
sở và ở các địa phương.
Điền kinh bao gồm nhiều môn thi đấu. Trong đó, chạy nói chung và
chạy cự li 200m nói riêng, là môn học được tập luyện và thi đấu khá phổ biến
và rộng rãi ở các trường phổ thông, các hội khoẻ Phù đổng từ trung ương đến
địa phương. Tuy nhiên thành tích chạy 200m của học sinh Việt Nam so với
khu vực và thế giới còn khá khiêm tốn. Bởi vậy mà việc giảng dạy môn chạy
cự li ngắn cho học sinh trong nhiều năm qua đã được chú trọng song vẫn còn
phải khắc phục khá nhiều khó khăn.
3
Từ thời cổ xưa con người đã biết sử dụng chạy để đuổi bắt con vật hay
chạy trốn khi bị chúng tấn công. Qua nhiều năm tháng, chạy trở thành môn
thể thao hấp dẫn chinh phục thời gian trên những đoạn đường quy định, thể
ly ngắn (200m) trong tập luyện và thi đấu. Vì vậy chúng tôi mạnh dạn chọn
đề tài: “Ứng dụng bài tập phát triển sức mạnh tốc độ nhằm nâng cao
thành tích chạy 200m cho nữ đội tuyển Điền kinh trƣờng THPT Ngô Gia
Tự - Vĩnh Phúc”.
* Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài lựa chọn và ứng dụng các bài tập phát
triển SMTĐ nhằm nâng cao thành tích chạy 200m nữ đội tuyển Điền kinh
trường THPT Ngô Gia Tự - Vĩnh Phúc.
5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về công tác GDTC trong
trƣờng học.
Ngay từ ngày đầu thành lập nước Bác Hồ đã phát động lời kêu gọi toàn
dân tập thể dục. Bác luôn cho rằng việc rèn luyện TDTT là rất cần thiết đối
với mọi người dân và đặc biệt là những lực lượng vũ trang Bác Hồ nói: Mỗi
một người dân yếu ớt là làm cho cả nước yếu ớt, mỗi người dân khỏe mạnh là
góp phần làm cho cả nước khỏe mạnh. Vậy nên tập thể dục bồi dưỡng sức
khỏe là bổn phận của những người dân yêu nước [6]. Lời kêu gọi của Bác đã
được toàn Đảng, toàn dân toàn quân hưởng ứng và thực hiện. Các hoạt động
TDTT được phát triển mạnh mẽ cả về chiều sâu và chiều rộng. Thấy rõ được
lợi ích to lớn mà việc rèn luyện TDTT mang lại nên trong hiến pháp của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại điều 41 đã quy định: “Nhà
nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển TDTT, quy định chế độ GDTC
bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức
TDTT tự nguyện của nhân dân tạo điều kiện để không ngừng mở rộng các
hoạt động TDTT chuyên môn, bồi dưỡng các tài năng TT” [7].
Chỉ thị 36 CT/TW ngày 24/ 03/ 1994 của Ban bí thư trung ương Đảng
Các em đã có thái độ tích cực trong học tập. Tình cảm của các em được
hiểu biết rõ ràng hơn, tình cảm yêu quý và gắn bó với mái trường mà các em
sắp giã từ, đặc biệt đối với giáo viên chủ nhiệm của các em. Điều này giúp
giáo viên thuận lợi trong quá trình giảng dạy. Nó thúc đẩy các em tự giác, tích
cực trong học tập.
Độ tuổi này chủ yếu hình thành thế giới quan, tự ý thức hình thành tính
cách và hướng về tương lai. Đó cũng là lứa tuổi của lãng mạn, độc đáo và
7
mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Đó là tuổi nhu cầu sáng tạo, nảy nở những
tình cảm mới. Thế giới quan không phải là một niềm tin lạnh nhạt mà đó là sự
say mê ước vọng nhiệt tình. Các em có thái độ tự giác tích cực trong học tập,
xuất phát từ động cơ học tập đúng đắn và hướng tới việc lựa chọn nghề
nghiệp sau này. Do đó quá trình hưng phấn cao hơn quá trình ức chế nên các
em tiếp thu nhanh nhưng cũng chóng chán. Khi đạt được một số kết quả sẽ
dẫn đến tự mãn, điều đó có tác động không tốt đến tập luyện cũng như thi đấu
thể thao. Vì vậy khi tiến hành tập luyện, huấn luyện cho các em ở lứa tuổi này
cần phải uốn nắn nhắc nhở chỉ bảo tận tình định hướng và động viên các em
hoàn thành tốt nhiệm vụ, có hình thức khen thưởng động viên đúng lúc kịp
thời. Trong quá trình huấn luyện dần dần từng bước động viên các em tiếp thu
chậm. Từ đó làm các em không cảm thấy chán có định hướng phấn đấu và
hiệu quả bài tập được nâng cao.
* Đặc điểm tâm lý của học sinh nữ khi tập luyện chạy 200m.
Do đặc điểm của nữ giới khác nam giới nên lượng vận động cũng khác.
Đặc điểm sinh lý của nữ yêu cầu phải xây dựng lượng vận động một cách
thận trọng, hợp lý. Đặc biệt là các bài tập sức mạnh, bài tập bật nhảy, chạy tốc
độ cao, chức năng của cơ quan nội tạng và cơ bắp phụ nữ kém hơn ở nam và
khác nhau, khi đặt kế hoạch phải chú ý đến đặc điểm của khung chậu, các cơ
bụng, cơ vùng hông rất yếu, ngay từ khi bắt đầu tập phải thường xuyên củng
* Hệ tuần hoàn: Ở lứa tuổi này, hệ tuần hoàn đang trên đà phát triển
để kịp thời phát triển toàn thân, tim lớn hơn, khả năng co bóp của cơ tim phát
triển mạnh, do đó nâng cao khá rõ lưu lượng máu/phút. Mạch lúc bình thường
chậm hơn (tiết kiệm hơn), nhưng khi vận động căng thì tần số nhanh hơn.
Phản ứng của tim đối với các lượng vận động thể lực đã khá chính xác, tim
trở nên hoạt động dẻo dai hơn [7].
9
* Hệ xƣơng: Xương giảm tốc độ phát triển, sụn ở xương có độ dài
nhưng chuyển thành sương ụ. Cột sống đã ổn định về hình dáng nhưng chưa
được củng cố dễ bị cong vẹo [7].
* Hệ máu: Ở lứa tuổi này các em hoạt động cơ bắp cho nên hệ máu có
những thay đổi nhất định. Hàm lượng hêmôglôbin cũng như hàm lượng trong
máu đều tăng làm cho dung dịch ôxy trong máu cũng tăng lên, sau các hoạt
động kéo dài thì hồng cầu sẽ giảm đi và quá trình hoạt động xảy ra nhanh [7].
* Hệ hô hấp: Ở lứa tuổi này, phổi các em phát triển mạnh nhưng chưa
đều, khung ngực còn nhỏ, hẹp nên các em thở nhanh và lâu không có sự ổn
định của dung tích sống, không khí, đó chính là nguyên nhân làm cho tần số
hô hấp của các em tăng cao khi hoạt động và gây nên hiện tượng thiếu ôxi,
dẫn đến mệt mỏi [7].
* Trao đổi năng lƣợng: Ở giai đoạn này đòi hỏi về các chất đường,
đạm, mỡ và muối khoáng rất lớn, quá trình chuyển hóa xảy ra rất nhanh lượng
tế bào tăng một mặt chuyển hóa cho quá trình trưởng thành cơ thể, mặt khác
để cung cấp cho quá trình vận động thể lực [7].
Như vậy tất cả các bộ phận cơ quan trong cơ thể ở lứa tuổi này vẫn
đang phát triển và dần đi đến hoàn thiện. Do đó việc huấn luyện, giảng dạy
phải hết sức lưu ý để làm sao tạo điều kiện tốt nhất để các em tiếp tục phát
triển cân đối và hoàn thiện.
Tóm lại: Từ những đặc điểm tâm sinh lý chúng tôi đưa ra phương pháp
quan hệ với các tố chất khác dựa trên cơ sở phân tích khoa học, người ta chia
năng lực phát huy của con người thành các loại sau:
* Sức mạnh đơn thuần: Khả năng sinh lực trong các động tác chậm
hoặc tĩnh.
11
* Sức mạnh tốc độ: Khả năng sinh lực trong các động tác nhanh trong
khi xây dựng hệ thống bài tập phát triển sức mạnh tốc độ.
* Sức mạnh tuyệt đối: Là khả năng khắc phục lực cản lớn nhất trong cơ
thể.
* Sức mạnh sức bền: Là khả năng duy trì sức mạnh trong thời gian dài.
* Sức mạnh bột phát: Là khả năng công phát huy lớn nhất trong thời
gian ngắn nhất.
Để hiểu rõ hơn về SMTĐ chúng tôi đã tham khảo các quan điểm của
các nhà khoa học TDTT trong và ngoài nước.
Theo quan điểm của các nhà tâm lý thì: Sức mạnh tốc độ là khả năng
VĐV vượt qua lực cản bên ngoài với tốc độ co cơ lớn (các môn ném đẩy,
nhảy cao, chạy ngắn) song các môn thể thao khác đặt ra, sức mạnh luôn luôn
có quan hệ với tố chất thể lực cụ thể với sức mạnh và sức bền.
Năng lực sức mạnh tốc độ là khả năng khắc phục các lực cản với tốc độ
co cơ cao của VĐV, việc vận dụng hệ thống các bài tập nhằm phát triển sức
mạnh tốc độ cho những môn thể thao liên quan trước hết là sức mạnh tương
đối cần phải tiến hành sao cho sức mạnh tốc độ được nâng cao mà không có
sự phì đại cơ to quá mức. Đó là trường hợp khi mà người ta hay sử dụng lực
cản trở và trung bình, những lực cản phải được khắc phục bằng tốc độ co cơ
cao. Trong đó sự căng thẳng cơ cần thiết để tăng sức mạnh được tạo nên bằng
sự co cơ nhanh “bột phát”.
- Theo quan điểm của các nhà sinh lý học: Cơ chế sinh lý điều hòa sức
mạnh có cơ sở khoa học. Lực tối đa mà con người ta sản sinh ra một mặt phụ
Như vậy, qua tất cả những điều đã nêu ở trên việc phát triển sức mạnh
tốc độ là hết sức quan trọng và cần thiết trong quá trình huấn luyện cho các
VĐV và nhất là với VĐV chạy 200m thì một số bài tập phát triển sức mạnh
tốc độ có ý nghĩa rất lớn và liên quan trực tiếp đến thành tích. Để tìm hiểu sâu
13
hơn về bài tập sức mạnh tốc độ chúng tôi đi nghiên cứu cơ chế sinh lý của sức
mạnh tốc độ.
Như ta đã biết lực tối đa mà con người có thể sinh ra một mặt phụ
thuộc vào đặc tính sinh cơ của động tác, khả năng thu hút các nhóm cơ lớn
nhất hoạt động. Mặt khác nó còn phụ thuộc vào mức độ hoạt động của từng
nhóm cơ riêng biệt và sự phức tạp giữa chúng, mức độ hoạt động của các cơ
được quy định bởi hai nhân tố sau:
- Xung động từ nơron thần kinh vận động trong sừng trước tủy sống
đến cơ.
- Phản ứng của cơ tức là lực do nó sinh ra để đáp lại xung động thần kinh.
Phản ứng của cơ phụ thuộc vào tiết diện sinh lý đặc điểm cấu trúc của
nó ảnh hưởng dinh dưỡng của hệ thần kinh trung ương thông qua dự phòng
Adrgnalin giao cảm.
Nếu lực do cơ huy động chỉ vào khoảng 20 - 80% khả năng tối đa của
nó thì có thể điều hòa số lượng sợi cơ ý nghĩa cơ bản điều đó có ý nghĩa nếu
lực kích thích nhỏ (trọng lượng nhỏ thì có ít sợi cơ hoạt động tích cực trong
trường hợp đó phát huy đạt trị số tối đa có thể xảy ra các điều hòa thứ ba đồng
bộ các sợi cơ), ở những người không tập luyện thông thường không vượt qua
20% xung động đồng bộ với nhau. Cùng với sự phát triển cả trình độ tập
luyện khả năng điều hòa toàn bộ tăng lên rất nhiều.
Để phát huy sức mạnh, một số vấn đề quan trọng là phải lựa chọn lực
đối kháng bên ngoài là mặt kích thích sinh lý có cường độ nhất định, qua
nghiên cứu về các đặc điểm sinh lý của bài tập với lực đối kháng khác nhau
Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học đi đến một số kết luận có ý
nghĩa cơ bản trong phân loại sức mạnh.
Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt với
trị số lực phát huy trong điều kiện đẳng trường.
15
Trong chế độ nhượng bộ khả năng sinh lực của cơ là lớn nhất đôi khi
gấp hai lần lực phát huy trong điều kiện tĩnh.
Trong các động tác nhanh trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc độ
khả năng sinh lực trong các động tác nhanh tuyệt đối và khả năng sinh lực
trong các động tác tĩnh.
1.3.2. Mối quan hệ giữa tố chất SMTĐ với thành tích chạy 200m
Trong huấn luyện để đạt được thành tích ở cự ly ngắn 200m thì phải
phát triển sức mạnh tốc độ không ngừng nâng cao tốc độ co cơ mà còn phải
làm tăng sức mạnh tốc độ rất có ý nghĩa nhưng nó lại phụ thuộc vào từng
môn. Trong những môn mà sức mạnh tối đa là cơ sở quyết định tốc độ trong
dẫn chứng bằng phương trình (phương pháp này được suy ra từ sự cân bằng
năng lực của giai đoạn cơ sở).
(P +a)(V+b) = không đổi
P: Ngoại lực
V: Tốc độ tối đa của động tác
Cơ là đặc trưng cho mức độ tác động của từng loại cơ. Nếu trong
phương trình giữa P và V là không đổi thì hệ thần kinh co cơ có thể luôn luôn
tạo nên thành tích như nhau mà không phụ thuộc vào độ lớn các ngoại lực.
Điều này có ý nghĩa là ngoại lực nhỏ tạo nên sự co cơ nhanh, trong khi
đó co cơ chậm hơn khi ngoại lực lớn. Từ đó suy ra được kết luận về mặt
phương pháp cho huấn luyện sức mạnh tốc độ là phải nâng cao sức mạnh hoặc
phần sức mạnh một cách có trọng tâm. Nhưng cũng tùy theo nhu cầu ở đây cần
huấn luyện sức mạnh với các lực cản bên ngoài rất lớn thì phù hợp với điều
độ và sự hoàn thiện nó giúp cho thành tích chạy 200m tăng. Nhưng bên cạnh
việc phát sinh cơ học nhằm hoàn thiện các chuyển động của động tác trong kỹ
thuật chạy 200m cho VĐV vô cùng cần thiết. Bởi lẽ muốn thực hiện động tác
nhanh mạnh chuẩn xác về tư thế của giai đoạn kỹ thuật chạy, cần phải sử
17
dụng lực đúng thời điểm và hợp lý mới có hiệu quả cao và chỉ khi nâng cao
mức độ hoàn thiện kỹ thuật mới đảm bảo cho quá trình phát triển thành tích
chạy 200m. Muốn vậy trong quá trình huấn luyện VĐV đạt thành tích cao cần
vận dụng những bài tập phát triển sức mạnh tốc độ, kết hợp với hoàn thiện kỹ
thuật mặc dù đặc trưng là giai đoạn xuất phát thấp và chạy lao xuất phát.
Đánh giá mức độ hoàn thiện kỹ thuật ở các giai đoạn trong chạy 200m
chúng ta có thể thông qua quan sát thực tế thực hiện kỹ thuật động tác. Với cách
này thì người quan sát phải có trình độ chuyên môn tốt và phải có kinh nghiệm.
Mặt khác chúng ta dùng phương tiện máy móc như video kết hợp với máy móc
xác định sinh cơ học để phân tích các giai đoạn kỹ thuật sẽ chuẩn xác.
Qua nghiên cứu cho thấy ý nghĩa của sức mạnh tốc độ đối với các môn
chạy cự ly càng ngắn càng có ý nghĩa cao.
1.4. Cơ sở lý luận để lựa chọn một số bài tập nhằm phát triển sức mạnh
tốc độ
1.4.1. Khuynh hƣớng giáo dục sức mạnh tốc độ
Từ thực tế trong tập luyện và thi đấu trong các môn TT nói chung và
chạy 200m nói riêng đều chịu sự chi phối bởi rất nhiều yếu tố như: cơ sở vật
chất trang thiết bị tập luyện, điều kiện thi đấu, trạng thái tâm lý…. Trong đó
các tố chất thể lực đóng vai trò quan trọng đến thành tích, song yếu tố quan
trọng để nâng cao thành tích chạy 200m là nâng cao độ dài bước chạy. Vì khi
có độ dài bước tốt thì mức độ đạp sau cần phải ổn định và phát huy được khả
năng dùng lực, mà trong đó yếu tố SMTĐ luôn đóng vai trò quyết định. Hơn
nữa, chạy 200m cơ thể VĐV hoạt động ở trạng thái yếm khí và cơ thể chưa
động của sức mạnh tốc độ ảnh hưởng đến chạy 200m ta cần nghiên cứu kỹ
nhiều lần và áp dụng vào thực tiễn cho có hiệu quả cao.
Trong chạy 200m VĐV phải chạy với tốc độ cao nhất của cơ thể hoạt
động ở mức tối đa trong thời gian tối thiểu. Năng lượng sử dụng chủ yếu là
19
ATP CP dự trữ trong cơ. Trong quá trình nợ ôxy lên đến 95% song do thời
gian hoạt động ngắn nên tổng nợ ôxy không lớn lắm. Với tín hiệu xuất phát
VĐV nhanh chóng bước vào hoạt động với cường độ các nhóm cơ nhanh với
chức năng vận động càng nhiều ôxy. Nhưng trong chạy 200m quá trình năng
lượng cơ bản không có sự tham gia của ôxy nên được coi là yếm khí. Nếu
quan sát tập luyện VĐV chạy 200m mà không quan sát đến năng lượng thì nó
sẽ dẫn đến năng lượng cơ bản sau:
* Tăng khối lượng và bảo đảm yếm khí phot pho cho hoạt động cụ thể
* Từ từ tăng năng suất hoạt động trên đoạn đường suất phát và tăng tốc
độ tối đa.
Phương pháp cơ bản nhằm phát triển khả năng yếm khí cho VĐV là bài
tập chạy 30 - 50m với tốc độ tối đa không quá 5 - 6 lần. Nhưng chúng ta đã
biết sức mạnh tốc độ là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh. Lực tối
đa mà con người có thể sinh sản ra một mặt phụ thuộc đặc tính sinh cơ riêng
biệt và sự phối hợp giữa chúng. Do đó, để phát triển sức mạnh thì nhất thiết
phải tạo ra sự căng cơ tối đa và phương pháp tập luyện sức mạnh tốc độ rất
phong phú các bài tập vật nặng các loại, những bài tập mang vật chất nặng
như: Bật xa tại chỗ, Đạp sau tại chỗ cũng có tác dụng tốt đối với việc phát
triển SMTĐ.
Nhiệm vụ cụ thể để rèn luyện sức mạnh là:
* Tiếp tục hoàn thiện khả năng thực hiện các hình thức sức mạnh cơ
bản như: Sức bền, sức mạnh động lực, sức mạnh đơn thuần nhưng điều quan
trọng nhất là SMTĐ.
bài tập phát huy được tốc độ tối đa các bài tập có chu kỳ. Phương pháp sử
dụng ngắn chủ yếu vẫn là phương pháp lặp lại, tăng và biến đổi cự ly. Cần lựa
chọn sao cho tốc độ không giảm đi vào giai đoạn cuối của bài tập.