TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THẺ CHẤT
DOÃN THỊ OANH
LựA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
•
•
•
sức
BÈN TỐC Đ ộ NHẰM NÂNG CAO THÀNH
TÍCH CHAY 800M CHO NỮ VÃN ĐÔNG
•
VIÊN ĐỘI TUYỂN ĐIÈN KINH TRƯỜNG
THPT KHOÁI CHÂU - HƯNG YÊN
KHOÁ LUẬN
• TÓT NGHIỆP
• ĐẠI
• HỌC
•
HÀ NỘI - 2011
•
HÀ NỘI - 2011
•
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Doãn Thị Oanh
Sinh viên lớp k33 GDTC - GDQP Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Toàn bộ
nhưng vấn đề được đua ra bàn luận,nghiên cứu đều mang tinhd cấp thiết và
đúng với thực tế khách quan trường THPT Khoái Châu - Hưng Yên.
Hà nội, ngày 25 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Doãn Thị Oanh
DANH MỤC VIẾT TẮT
1
CĐTĐ
Cường độ tối đa.
2
THPT
Trung học phổ thông.
8
TDTT
Thể dục thể thao.
9
TTN
Trước thực nghiệm
10
TN
Thực nghiệm
11
TĐC
Tốc độ cao.
12
Nội dung
Trang
Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT của trường THPT
22
Số bảng
biểu
Bảng 3.1
Khoái Châu
Bảng 3.2
Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho học tập, giảng
23
dạy của trường THPT Khoái Châu
Bảng 3.3
Bài tập phát triển sức bền tốc độ trong chạy 800m đang
24
được trường THPT Khoái Châu - Hưng Yên áp dụng
Bảng 3.4,
Kết quả của các test kiểm tra sức bền tốc độ cho nữ đội 2 5 -2 6
34
Bảng 3.10
Kết quả kiểm tra sau TN của 2 nhóm TN và ĐC
35
Bảng 3.11
Kết quả kiểm tra TNT và STN của nhóm TN
36
Bảng 3.12
Kết quả kiểm tra TNT và STN của nhóm ĐC
37
Biểu đồ 3.1
Biểu đổ thể hiện thành tích chạy 100m trước và sau TN
37
Biểu đồ 3.2
Biểu đồ thể hiện thành tích chạy 400m trước và sau TN
của nữ VĐV chạy 800m trường THPT Khoái Châu.
trường THPT; Khoái Châu.................................................................................21
3.2. Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá bài tập phát triển sức bền tốc độ nhằm
nâng cao thành tích chạy 800m cho nữ VĐV đội tuyển Điền kinh trường
THPT Khoái Châu - Hưng Yên.........................................................................27
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ....................................................................... 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................41
PHỤ LỤC
1
ĐẶT VẤN ĐỂ
Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, một
hình thức hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực để nhằm tăng
cường thể chất con người, nâng cao thành tích thể thao góp phần làm phong
phú sinh hoạt văn hóa và gia đình con người phát triển cân đối hợp lý. Mặt
khác, TDTT là một bộ phận không thể thiếu được ữong sự nghiệp GD - ĐT,
giúp cho việc giáo dục lên những con ngưòi phát triển toàn diện về Đức - Trí Thể - Mĩ và Lao động, đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước.
Ở nước ta, ngay từ những ngày đầu cách mạng tháng Tám thành công,
Bác đã nêu rõ tầm quan trọng của TDTT đối với việc “Giữ gìn dân chủ, xây
dụng nước nhà, gây đời sôhg mới” [6] coi đó là một công tác cách mạng. Bản
thân Người đã nêu gương 'T ự Tôi ngày nào cũng tập” [6]. Và thòi gian sau
đó, Bác còn nêu tấm gương sáng trong việc tập luyện liên tục, bền bỉ ở nhiều
môn như Bóng chuyền, TD dưỡng sinh, Thái cực quyền...
Ngày nay Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác TDTT nói
chung và GDTC trong nhà trường nói riêng, coi sức khỏe là một vốn quý của
con người, là một tài sản quốc gia vô cùng quan trọng. Sự quan tâm đó được
800m cho nữ vận động viên đội tuyển Điền kinh trường THPT Khoái Châu
- Hưng Yên".
Mục đích nghiên cứu:
Lựa chọn ứng dụng một số bài tập nhằm phát triển sức bền tốc độ cho
nữ VĐV trường THPT Khoái Châu - Hưng Yên. Đồng thòi, góp phần cung
cấp những VĐV có thành tích cao cho đất nước.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VAN ĐỂ NGHIÊN cứu
1.1. ĐẶC ĐIỂM TÂM, SINH LÝ CỦA HỌC SINH THPT
1.1.1. Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT
Tâm lý của con người rất phong phú và đa dạng, trong thể thao khi tham
gia các hoat động tập luyện và thi đấu tâm lý của mỗi người cũng được biểu
hiện khác nhau. Có người tâm lý rất tốt là điều kiện thực hiện các hoạt động
theo ý muốn, ngược lại có người tâm lý không vững vàng thường biểu hiện
run, sốt trước vận động sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới thành tích thi đấu. Vì vậy,
trong quá trình giảng dạy, huấh luyện đòi hỏi ngưòi giáo viên, HLV thể thao
phải nắm được các quy luật, đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh mà mình
giảng dạy và huấn luyện để có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp.
Ở lứa tuổi này các em thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn để cho
mọi người tôn trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất đinh, có khả năng
phân tích tổng hợp, hiếu động ham học hỏi, tìm tòi, có nhiều hoài bão nhưng
còn nhiều nhược điểm và thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống.
Ở độ tuổi này chủ yếu hình thành thế giới quan, tự ý thức, hình thành
tính cách của mỗi học sinh. Đó cũng là tuổi của lãng mạn, mơ ước độc đáo và
mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn, đầy nhu cầu sáng tạo, nảy nở những tình
phát triển theo chiều cao nhiều hơn nhưng khi đến tuổi cấp THPT lại phát
triển theo chiều ngang nhiều hơn, chiều cao cũng phát triển nhưng chậm dần.
Sự phát triển của cơ thể nam và nữ khác nhau rõ rệt hơn về hình thái và khả
năng hoạt động thể lực, tâm lý. Vì vậy, chúng ta cần phải có phân biệt tính
chất, cường độ, khối lượng luyện tập TDTT hợp lý để cơ thể có điều kiện phát
triển một cách toàn diện cân đối.
Hệ thần kinh: Các tổ chức thần kinh của học sinh THPT đang tiếp tục
phát triển để đi tới hoàn thiện. Tuy nhiên, khối lượng ở vỏ não không tăng,
chủ yếu cấu tạo bên trong vỏ não phức tạp hơn, khả năng tư duy nhất là khả
5
năng phân tích tổng hợp phát triển manh, rất thuận lợi cho sự hình thành phản
xạ có điều kiện. Đây là đặc điểm thuận lợi để các em nhanh chóng tiếp thu và
hoàn thiện kỹ thuật động tác trong môn thể dục. Tuy nhiên, đối với một số bài
tập đơn điệu cũng dễ làm cho học sinh nhanh mệt mỏi, cần thay đổi nhiều
hình thức tập luyện, vận dụng linh hoạt các hình thức thi đấu trò chơi.
Ngoài ra, do sự hoạt động của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên
làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế, giữa hưng phấn và ức
chế không cân bằng gây ảnh hưởng đến hoạt động thể lực. Ở các em nữ tính
nhịp điệu giảm sút nhanh chóng, khả năng chịu đựng lượng vận động yếu.
Do vậy, trong quá trình giảng dạy, huấn luyện người giáo viên, huấn luyện
viên cần sử dụng các bài tập thích hợp với đặc điểm giới tính, lứa tuổi và
thường xuyên quan sát phản ứng của cơ thể người tập để có biện pháp giải
quyết kịp thời.
Hệ vận động (hệ xương - cơ)
Hệ xương'. Bắt đầu giảm tốc độ phát triển, sụn ở hai đầu xương dài
nhưng lượng sụn chuyển thành xương ít. Mỗi năm nữ cao thêm khoảng 0,5 -1,0
cm. Tập luyện TDTT một cách khoa học thường xuyên làm cho bộ xương khỏe
manh hơn, ở lứa tuổi THPT các xương nhỏ từ xương cổ tay, xương bàn tay hầu
tuổi trưởng thành. Dung lượng phổi tăng nhanh chóng lúc 15 - 16 tuổi là 2 2,5 lít đến 16-18 tuổi là khoảng 3 - 4 lít, tần số hô hấp gần giống như người
lớn là 10 - 20 lần/phút.
Tuy nhiên, các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sự co giãn của lổng ngực
nhỏ, chủ yếu là co giãn cơ hoành. Trong tập luyện cần thở sâu và tập trung thở
bằng ngực, các bài tập boi, chạy cự ly trung bình, việt dã có tác dụng tốt đến
sự phát triển của sự hô hấp.
Trao đổi chất và năng lượng: Đặc điểm chính là quá trình đổng hóa
chiếm ưu thế so với quá trình dị hóa do nhu cầu phát triển và hình thành cơ
thể, một phần đáng kể năng lượng ở độ tuổi này được sử dụng để thỏa mãn
nhu cầu đó.
7
1.2. NHỮNG QUAN ĐIỂM
v ề h u ấ n l u y ệ n sứ c b e n
Tốc ĐỘ CHO VĐV
CHẠY Cự LY 800M
Huấn luyện thể thao là một quá trình giáo dục chuyên môn của HLV
cho VĐV, nhằm không ngừng nâng cao trình độ thể thao, góp phần giáo dục
con người phát triển toàn diện. Thực chất, đó là quá trình giáo dục mang tính
đặc thù, đặc điểm nổi bật là hoạt động thể lực (vận động) rất căng thẳng và
nhằm mục đích trực tiếp nâng cao thành tích thể thao.
Huấn luyện thể thao có nhiệm vụ:
Tăng cường sức khỏe, cải thiện về hình thái thân thể, không ngừng nâng
cao năng lực chức năng cùng với sự phát triển các tố chất thể lực chung và thể
lực chuyên môn.
mức độ phát triển của tố chất thể lực phụ thuộc vào trạng thái chức năng của
cơ thể. Vì vậy, quá trình huấn luyện chính là quá trình hoàn thiện các chức
năng đó, cho nên giáo viên, HLV trong qúa trình huấn luyện phải nắm vững
quy đinh phát triển tự nhiên, đặc biệt là quy luật nhạy cảm (thời kỳ thuận lợi
nhất trong việc phát triển tố chất thể lực). Điều ghi nhận của Nabatnhicoba,
Ozolin là “Việc huấn luyện tố chất thể lực chung cần được luyện tập liên tục,
nhiều năm suốt trong quá trình đào tạo VĐV, tuỳ thuộc mục đích từng giai
đoạn huấn luyện thể lực được xác định cho phù hợp” [4], [7].
Giáo sư, HLV Cộng hòa liên bang Nga N.G.Ozolin cho rằng: “Qúa trình
huấn luyện thể lực cho VĐV là hướng đến củng cố các hệ thống cơ quan của
cơ thể, nâng cao khả năng chức phận của chúng, đồng thòi là việc phát triển
các tố chất sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khéo léo” [7].
Qua tham khảo tài liệu và các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều
chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực lý luận và phương pháp huấn luyện thể
thao trong nước: PGS - TS Lê Bửu, GS - TS Dương Nghiệp Chí, GS - TS Phạm
Ngọc Thanh, PGS - TS Nguyễn Toán, PGS - TS Nguyễn Thế Truyền, GS - TS
Lê Văn Lẫm, các nhà khoa học cho rằng quá trình huấn luyện thể lực cho
VĐV là hướng tói việc củng cố và nâng cao khả năng chức phận của hệ thống
cơ quan trước lượng vận động. Đồng thời, đã tác động đến quá trình phát triển
các tố chất vận động. Đây có thể coi là xu hướng sư phạm trong quá trình giáo
dục các tố chất vận động.
9
Theo quan điểm y sinh học, các nhà khoa học cho rằng huấn luyện thể
lực chuyên môn trong huấn luyện thể thao là nói tới sự biến đổi thích nghi về
mặt sinh học diễn ra trong cơ thể VĐV dưới tác dụng của bài tập thể chất
được biểu hiện ở năng lực cao hay thấp...?
Dưới góc độ tâm lý, một số chuyên gia Việt Nam đã đề cập đến vấn đề
này PGS - TS Lê Văn Xem và PGS - TS Phạm Ngọc Viễn cho rằng: “Quá trình
lượng vận động của VĐV sức bền phát triển cũng là một điều quan trọng để
hồi phục nhanh. Khi nói đến sức bền trong hoạt động TDTT chủ yếu người ta
nói đến sức bền trong bài tập đòi hỏi hầu hết các nhóm cơ tham gia hoạt động
như chạy, bơi, đua xe đạp đường dài..., trong các bài tập này cơ chế của mệt
mỏi (cũng chính là cơ chế của sức bền) cũng khác nhau tuỳ thuộc vào cường
độ thực hiện bài tập. Các yếu tố tâm lý đối với sức bền phụ thuộc chủ yếu vào
thời gian hoạt động. Trong thi đấu cần chọn thời gian kéo dài của thi đấu làm
điểm chính để phân loại và cần phân biệt sức bền trong thời gian dài, sức bền
trong thời gian ngắn và sức bền trong thời gian trung bình.
Sức bền trong thời gian trung bình là cần thiết để vượt qua một cự ly mà
VĐV thực hiện bài tập không bị giảm sút tốc độ ở cuối cự ly, ở đây đòi hỏi một
tỷ lệ phần trăm cao về các quá trình trao đổi chất. Trình độ sức bền trong thời
gian trung bình cũng phụ thuộc vào các quyết đinh phát triển sức manh bền và
sức nhanh bền (vì sức bền luôn là thành phần của nhân tố thành tích thể lực nên
có quan hệ chặt chẽ với các tố chất thể lực như sức manh và sức nhanh).
Giáo dục sức bền là quá trình tác động hoàn thiện các cơ chế cung ứng
năng lượng cho vận động.
Sức bền phát ừiển trong trường hợp VĐV phải chịu đựng mệt mỏi ở
mức độ nhất định khi đó cơ thể thích nghi với trạng thái mệt mỏi và biểu hiện
bên ngoài là sức bền tăng lên.
Do đó phải yêu cầu cơ bản của giáo dục sức bền là phải tập luyện với
khối lượng vận động lớn, đơn điệu và phải dùng ý chí để khắc phục mệt mỏi...
giáo dục sức bền phải kết hợp với giáo dục các đức tính cần cù lao động, sắn
sàng vượt khó. Chạy cự ly trung bình (vùng công suất gần cực đại) tạo nên kích
thích lớn ở các trung khu thần kinh, những biến đổi hoá học ở các tế bào thần
kinh cũng như ừong cơ bắp rất cao. Sức bền ữong chạy cự ly trung bình có tính
chuyên biệt và luôn có liên quan trực tiếp đến thành tích chạy cự ly 800.
и
12
1.5. NHỮNG PHƯƠNG PHÁP HUẤN l u y ệ n
sứ c b ể n
Tốc ĐỘ
Để phát triển sức bền thì việc lựa chon các bài tập nhằm phát triển sức
bền tốc độ của YĐV chạy cự ly trung bình nói chung và cự ly 800m nói riêng,
ngoài việc củng cố và hoàn thiện của các hệ thống tim mạnh, hô hấp còn cần
phải hoàn thiện quá trình trao đổi chất, làm tăng hệ số sử dụng oxy. Chạy
800m đòi hỏi phải sử dụng tốc độ tương đối cao trên cả cự ly. Bởi vậy, nó là
một hoạt động bao gồm cả quá trình ưa khí và yếm khí. Yì thế trong huấn
luyện sức bền tốc độ, việc nâng cao khả năng ưa khí và yếm khí là điều kiện
không thể thiếu được.
1.5.1.
Phương pháp nâng cao khả năng ưa khí
Khả năng ưa khí của cơ thể là khả năng tạo ra nguồn năng lượng cho
hoạt động cơ bắp thông qua quá trinh oxy hóa các chất giàu năng lượng trong
cơ thể. Để nâng cao khả năng ưa khí của cơ thể cần giải quyết 3 nhiệm vụ:
Nâng cao khả năng ưa khí tối đa.
Nâng cao khả năng kéo dài thời gian duy trì hấp thụ oxy tối đa.
Làm cho hệ tuần hoàn và hô hấp nhanh chóng đạt được mức hoạt động
với hiệu suất tối đa.
Để giải quyết các nhiệm vụ trên, nguyên tắc chung của các phương
pháp tập luyện nâng cao khả năng ưa khí là sử dụng các bài tập, trong đó có
công suất hô hấp và tuần hoàn cơ thể đạt mức tối đa và duy trì được mức hấp
lúc nghi giữa quãng chứ không phải trong lúc thực hiện bài tập. Chính vì vậy
người ta gọi là phương pháp giãn cách.
Việc sắp xếp ừình tự các bài tập trong mỗi buổi tập có ý nghĩa quan
trọng, thông thường các bài tập nâng cao sức bền ưa khí được bố trí vào
cuối buổi tập để sử dụng được hiệu quả của các bài tập trước đó. Cũng cần
chú ý xây dựng các loại bài tập này theo một cấu trúc tương đối ổn định và
đa dạng hoá để tránh sự đơn điệu gây nhàm chán nhưng chỉ là thay đổi hình
thức bài tập.
+ Cường độ hoạt động (tốc độ di chuyển) cao hơn mức độ tới hạn
khoảng 75% tốc độ tối đa, sao cho cuối mỗi lần lặp lại tần số manh đạt xấp xỉ
180 lần/ phút, đây là tần số nhịp tim có hiệu suất cao nhất.
+ Độ dài cự ly tập luyện phải được lựa chọn sao cho thời gian thực
hiện không quá 1 - 1 ,5 phút. Chỉ trong trường hợp này hoạt động mới diễn
14
ra trong điều kiện yếm khí và mới đạt được mức hấp thụ tối đa hai lần nghỉ
giữa quãng.
+ Khoảng cách nghỉ giữa quãng: Tuỳ theo trình độ tập luyện của VĐV
dao động từ 45 - 120 giây để cho lần lặp lại tiếp theo được bắt đầu trong lúc
thể tích tâm thu và mức độ hấp thụ oxy tối đa ở mức cao (tần số nhịp tim 120 140 lần/phút). Trong mỗi trường hợp quãng nghi không vượt quá 3 - 4 phút,
khi mà hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp giảm nhiều.
Trong quãng nghỉ nên tiếp tục hoạt động với cường độ thấp để
tránh chuyển đột ngột từ trạng thái động sang trạng thái tĩnh và ngược
lại, tăng nhanh quá trình hồi phục tạo điều kiện để thực hiện được khối
lượng vận động.
+ Số lần lặp lại cần tính toán sao cho đảm bảo duy trì được trạng thái
ổn định trong sự phối hợp hoạt động của các hệ thống cơ thể, thực hiện ở khả
năng hấp thụ oxy ổn định ở mức tương đối cao. Cụ thể là có hiện tượng giảm
mức hấp thụ oxy thì đó là tín hiệu để ngừng bài tập. Trong thực tế, cơ thể dựa
giảm đi. Để khắc phục hiện tượng này ta chia tất cả bài tập thành 2 - 3 nhóm,
mỗi nhóm gồm 3 - 5 lần lặp lại, thòi gian nghỉ giữa các nhóm kéo dài từ 7 - 10
phút.
+ Cần sử dụng hình thức nghỉ ngơi tích cực nhất là thời gian nghỉ giữa
các nhóm ngay sau khi mỗi lần lặp lại, sau đó có thể nghỉ ngơi thoải mái để
cho cơ thể trở về trạng thái tương đối tĩnh ban đầu.
+ Số lần lặp lại tuỳ thuộc vào trình độ tập luyện của VĐV sao cho tốc
độ không bị giảm.
Để hoàn thiện cơ chế Glucô phân (tức là nâng cao khả năng yếm khí
của cơ thể) cần áp dụng các bài tập có đặc điểm sau.
+ Cường độ vận động (tốc độ di chuyển) xấp xỉ tối đa, tức là khoảng
cách 90 - 95 % tốc độ tối đa ở các cự ly tương ứng được sử dụng. Sau một số
lần lặp lại chỉ số tác động tuyệt đối có thể giảm đi một ít nhưng vãn được coi
là xấp xỉ tốc độ tối đa trong trạng thái hiện có lúc đó của cơ thể.
16
+ Thòi một lần lặp lại có thể chia từ 20 giây đến 2 phút.
+ Thời gian nghỉ ngơi được giảm dần sau mỗi lần lặp lại, giữa lần 1 và
lần 2 là từ 5 - 8 phút lần 2 và 3 là 3 - 4 phút.
+ Tính chất nghỉ ngoi: Không cẩn nghỉ ngơi tích cực nhưng tránh trạng
thái tình hoàn toàn.
+ Số lần lặp lại: Trong trường hợp thời gian quãng nghỉ giảm dần
thường không quá 3 - 4 lần lặp lại và chia thành các nhóm, mỗi nhóm từ 15 20 phút để thanh toán phần lớn lượng oxy.
Trong quá trình rèn luyện sức bền cần chú ý thực hiện theo trình tự
trước tiên phát triển khả năng hô hấp (ưa khí), sau đó khả năng Glucô phân và
cuối cùng là khả năng sử dụng năng lượng do phản ứng phân huỷ Phốt pho
Greatin.
1.6. Ý NGHĨA CỦA VIỆC PHÁT TRIEN
nghiên cứu và ứng dụng các bài tập phát triển sức bền tốc độ cho các VĐV
chạy 800m là việc có ý nghĩa quan trọng không thể thiếu trong quá trình huấn
luyện và giảng dạy. Từ đó, đề tài đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này nhằm nâng
cao thành tích chạy 800m.
18
CHƯƠNG 2
NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN c ứ u
2.1. NHIỆM y ụ NGHIÊN c ứ u
Để đạt được mục đích nghiên cứu chúng tôi tiến hành giải quyết 2
nhiệm vụ sau:
- Đánh giá thực ừạng công tác GDTC và việc sử dụng bài tập sức bền tốc
độ của nữ VĐV đội tuyển điền kinh trường THPT Khoái Châu - Hưng Yên.
- Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả bài tập phát triển sức bền tốc
độ trong chạy 800m cho nữ đội tuyển điền kinh trường THPT Khoái Châu.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài chúng tôi sử dụng các
phương pháp sau:
2.2.1. Phương pháp phân tích tổng hợp
Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm tham khảo, tổng hợp hệ
thống các nguồn kiến thức. Hình thành cơ sở lý luận, xây dựng cơ sở khoa
học, mục đích nhiệm vụ nghiên cứu. Đổng thời, qua phương pháp này chúng
tôi có cơ sở để lựa chọn ứng dụng kiểm chứng được hiệu quả của bài tập phát
triển sức bền tốc độ đã đề ra.
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này sử dụng để thu thập thông tin qua việc đưa ra hệ thống
X
ẳ ( x ,- x ) ’
- Tính phương sai: ổ = —----------n -1
;= 1
(n < 30)
- Độ lệch chuẩn (5): 8 =' Ị ỹ
- So sánh hai số trung bình quan sát (t): t = —x A
x B—
ổ 2
n 7 + n
(n < 30)