TIẾP CẬN CẠNH TRANH TRONG XÂY DỰNG QUY HOẠCH VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ Ở HUYỆN ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM - Pdf 37

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

TIẾP CẬN CẠNH TRANH TRONG XÂY DỰNG QUY HOẠCH
VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ Ở
HUYỆN ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM
TS. Nguyễn Ngọc Hiếu
Khoa QLNN về Đô thị - Nông thôn
Tóm tắt: Bối cảnh cạnh tranh ảnh hưởng sâu sắc tới sự chọn lựa chiến lược phát
triển, bao gồm cả quy hoạch, đầu tư và tổ chức định cư của mỗi đô thị hay vùng định cư.
Bài vết này thảo luận về việc đối mặt với vấn đề cạnh tranh nhằm cung cấp một số gợi ý
cho việc chuẩn bị xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển đô thị ở Điện Bàn.
Từ khóa: Cạnh tranh đô thị và vùng, đô thị sống tốt, chiến lược và quy hoạch phát
triển địa phương, Điện Bàn, tiếp cận cạnh tranh và chiến lược.
Abstract: Competitive context affects profoundly to the development options,
especially investment and settlement in each territory. This article discusses about how to
face this issue that may provide some options for the local authorities to prepare local
development plans and strategies in Điện Bàn.
Keywords: Urban and regional competitiveness, local development plan and
strategy, Điện Bàn, competitive and strategic approach.
1 Giới thiệu
Huyện Điện Bàn là một đơn vị hành

đến trong việc lập quy hoạch, kế hoạch,
và chiến lược phát triển địa phương xét

chính lãnh thổ, một khu vực sản xuất và
tiêu thụ, và là một khu vực định cư đang
chuyển thành đô thị nằm trong vùng phát

cả từ góc độ đô thị hay vùng định cư và
sản xuất. Bài viết nhấn mạnh việc xem


Nội san Khoa QLNN về Đô thị và Nông thôn

1


NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

Bối cảnh cạnh tranh có thể được hiểu

sư Michael Porter, chiến lược cạnh tranh

là bối cảnh mà mỗi sản phẩm hay dịch vụ
cung cấp đều có các lựa chọn thay thế,
có các đối thủ khác và tiềm tàng có thể
giành thị phần của mình, giá bán quy
định bởi mặt bằng các nhà cung cấp, và

cần được hiểu là chiến lược để làm cho
lợi thế cạnh tranh của mình được phát
huy hoặc sự khác biệt và vượt trội về sản
phẩm của mình so với các đối thủ khác
được duy trì (Porter 2008). Điều này

không phải những gì đã đúng trong quá
khứ với mình sẽ tiếp tục đúng mãi 2. Bản

cũng có nghĩa là họ phải tạo điều kiện để
đô thị hay vùng đó khai thác được các lợi
thế cạnh tranh của địa phương đó trước

vùng đã tối ưu hóa theo vùng đất. Các

khác, sự cạnh tranh diễn ra trên các địa
bàn khác nhau hay cách xa nhau hàng
ngàn cây số nhưng cùng cung cấp các
mặt hàng hay dịch vụ tương đồng hay
‘thú vị vì sự khác biệt’ cho những khách
hàng có sự lựa chọn giữa các địa điểm
khác nhau về mặt địa lý nói trên.
Các đô thị hay vùng cạnh tranh nhau

điều kiện sản xuất (kể cả hạ tầng khung),
thói quen và phong cách tiêu dùng, hay
nhu cầu thị trường tại chỗ và sức mua

bằng cách tối ưu hóa trên nhiều giác độ
để doanh nghiệp trên địa bàn đó có thể
sản xuất ra các sản phẩm rẻ hơn và khác
biệt về giá trị xứng đáng hơn. Theo Giáo

trường. Đây là những yếu tố có thể thay

thời gian.

2

Tuy nhiên, việc khai thác tính duy
nhất cũng như thay đổi để tạo ra lợi thế

Định nghĩa của tác giả.

hay phát triển lĩnh vực gì là tương đối

trên thị trường. Đối với từng sản phẩm
riêng lẻ thì đây là việc của doanh nghiệp
nhưng việc định vị sản phẩm của vùng
thường đòi hỏi vai trò lãnh đạo và hỗ trợ
của các hiệp hội và đặc biệt là chính

xác định đối với nhiều doanh nghiệp hay
chủ thể phát triển khác. Vị trí đó trở
thành độc quyền hoặc ngược lại, là vị trí
bất lợi phải hứng chịu khó khăn và ít có
những lựa chọn khác tương đương. Môi

quyền các cấp.
Sau khi tìm được đúng lĩnh vực, cần
phải duy trì thế mạnh này bởi các hoạt
động dẫn đến ảnh hưởng lợi thế cạnh

trường không cạnh tranh hoàn hảo cũng
là một yếu tố phải tính đến trong lập các
bài toán phát triển.
Việc lựa chọn đúng lĩnh vực có tính

tranh như xâm hại tài nguyên ảnh hưởng
thế mạnh của vùng, làm giả thương hiệu
vùng v.v.. diễn ra thường xuyên đỏi hỏi

cạnh tranh và duy trì nó là việc làm quy
hoạch và chiến lược hành động cùng với

cạnh tranh luôn không hoàn hảo. Luôn

hiện trạng và lập quy hoạch dựa trên các

có sự bất đối xứng về thông tin, về không
cân bằng trong quyền lực chính trị, về

phân tích dự báo căn bản như tăng trưởng
dân số và mục tiêu tăng trưởng GDP kỳ

nhận thức và khả năng hiện thực hóa mục

vọng. Các yếu tố tăng trưởng khác như

tiêu của từng địa phương, hay sự khác
biệt về văn hóa, về cơ hội phát triển. Sự

nguồn lực đất đai, vốn đầu tư cho hạ tầng
cơ sở và lao động thường được phân bổ

Nội san Khoa QLNN về Đô thị và Nông thôn

3


NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

xuôi chiều3 nhằm hiện thực hóa mục tiêu

tố con người như quyết tâm của lãnh đạo

năng điều chỉnh thường xuyên của các
đối thủ cạnh tranh khác trong lĩnh vực,
trong khu vực, hay trong từng giai đoạn
cụ thể cũng là thiếu sự liên hệ với bối

Thứ nhất, quá trình lập quy hoạch ít
đầu tư phân tích xác định rõ các mặt
hàng của địa phương mình cạnh tranh với

cảnh cạnh tranh.
Muốn kế hoạch phát triển gần với
thực tiễn hơn, các bản quy hoạch và kế

ai. Nếu thị trường tiêu thụ hoặc cấu phần
quan trọng của sản phẩm địa bàn tham
gia gia công không nằm trong địa bàn thì

hoạch hay chiến lược cần tiếp cận từ bản
chất cạnh tranh của thực tiễn phát triển –
khi các chủ thể phát triển không phải chỉ

phải làm rõ những chủ thể nào khác cũng
có thể làm ra sản phẩm tương tự hoặc
cũng có thể trở thành đối thủ cạnh tranh

có duy nhất một lựa chọn. Tiếp cận này
đòi hỏi các kịch bản tăng trưởng và dự
báo phải làm giống phân tích cạnh tranh

khi các nhà đầu tư lựa chọn;

Nội san Khoa QLNN về Đô thị và Nông thôn


NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

4 Tính cạnh tranh của đô thị
trung bình

giá trị cảnh quan tự nhiên, sự trong sạch
của môi trường, hệ sinh thái, hình ảnh đô

Điện Bàn sẽ cạnh tranh từ giác độ

thị, hay thậm chí nét đẹp văn hóa ứng xử
bản địa. Trong nhiều trường hợp, giá trị

một đô thị trung bình.
Nếu nhấn mạnh khía cạnh kinh tế thì

của các tài sản này có sự khác biệt lớn

cạnh tranh được hiểu là sự cạnh tranh về

giữa các bên trong định giá. Việc định

sức mạnh kinh tế giữa các đô thị và vùng

giá đúng sẽ giúp đem lại đánh giá đúng

đô thị hay thậm chí quốc gia trong kỷ


trường sống, việc duy trì chất lượng môi

thông, an ninh trật tự, và chi phí đắt đỏ

trường sống tốt (livable cities) đã phản

về nhà ở và sinh hoạt. Ngược lại, đô thị

ánh đầy đủ ý nghĩa của cạnh tranh.

nhỏ thường bất lợi hơn về cơ hội việc

Những nỗ lực cải thiện điều kiện cho

làm và thu nhập cao và tiếp cận đến các

những ai đang ở trên địa bàn của mình

dịch vụ cao cấp như giải trí, chữa bệnh.

làm cho cư dân muốn chuyển đến sinh

Trên thực tế, chất lượng sống cao nhất

sống, muốn phát triển lâu dài bởi sự đảm

không ở các siêu đô thị mà thường ở các

bảo về tương lai. Qua đó, người dân và


hạ tầng, nhưng đặc biệt đó cũng là những

(Mercer Surveys 2014):

Nội san Khoa QLNN về Đô thị và Nông thôn

5


NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

1.
2.
3.
4.

Môi trường chính trị và xã hội (ổn định chính trị, tội phạm và cưỡng chế pháp luật)
Môi trường kinh tế (các điều khoản quy định về tỉ giá ngoại hối, dịch vụ, và ngân hàng)
Môi trường văn hóa-xã hội (mức độ kiểm duyệt, hạn chế tự do cá nhân)
Sức khỏe và vệ sinh (dịch vụ y tế, bệnh truyền nhiễm, hệ thống thoát nước và quản

5.
6.

lý chất thải rắn)
Trường học và giáo dục (tiêu chuẩn và sự sẵn có của các trường quốc tế)
Chất lượng dịch vụ công và giao thông (điện, nước, giao thông công cộng, và tắc

7.


Bảng 1: Xếp hạng 10 đô thị có chất lượng sống tốt nhất năm 2012 và 2014
Xếp hạng
2012

Thành phố

Quốc gia

Xếp hạng
2014

Austria
Switzerland
New
Zealand
Germany
Canada
Germany
Germany
Switzerland

1
2
3

Vienna
Zurich
Auckland


8
9
10

Munich
Vancouver
Düsseldorf
Frankfurt
Geneva
Copenhagen Denmark
Switzerland
Bern

Thành phố

Quốc gia
Austria
Switzerland
New
Zealand
Germany
Canada
Germany
Germany
Switzerland
Denmark
Australia

Nguồn: />6


hình dưới). Hệ thống này áp dụng ở diện
rộng cũng cho phép đánh giá so sánh về
mức độ cạnh tranh giữa các đô thị về

phương áp dụng hieu (Hieu 2012).
Gần đây, việc áp dụng hệ thống đánh
giá nỗ lực quản lý và đánh giá cạnh tranh

chất lượng sống và nhiều mặt khác.

Hồ sơ rút gọn đô thị Sơn Tây (số liệu 2006 & 2010)

Mức độ hiệu quả của ban Thanh tra
nhân dân

10
8
tỉ lệ xử lý chất thải rắn (cho đô thị loại 1
trở lên)

6
4

Mức độ hiệu quả của Ban Giám sát
đầu tư cộng đồng
Công khai ngân sách của chính quyền
địa phương

2
tỉ lệ thu gom chất thải rắn


Tuy nhiên, dù cho còn có những

nghiệp hoạt động, mà là tạo điều kiện để

khiếm khuyết mặt này hay khác thì
không nên coi các tiêu chí trở thành chỉ
tiêu đạt tới như một hình tròn, phải tốt
đều mọi hướng. Trên thực tế, rất khó có
thể đảm bảo các yếu tố tốt như nhau bởi

cư dân ở đây có cuộc sống tốt hơn, đáng
sống hơn, bảo vệ và gia tăng giá trị ‘tài
sản đô thị’, và giúp doanh nghiệp kinh
doanh tốt hơn. Các đô thị và vùng định
cư phát triển sau có tính kết nối như Điện

nguồn lực là có hạn. Hơn nữa, mỗi đô
thị có bản sắc riêng và từng địa phương
sẽ luôn có những thứ mà họ tự hào và
làm cho du khách đáng nhớ.

Bàn là đô thị mới, đi sau thì sự khác biệt
và sáng tạo có lợi thế về mặt ít bị ràng
buộc bởi những giá trị cũ nhưng cũng là
thách thức bởi không dễ tạo dựng những
giá trị mới.

5 Kết luận
Một số vấn đề gợi ý trong tiếp cận

tranh thực sự khi khai thác vị trí này
thông qua sản phẩm cụ thể. Đặc biệt là

lược đã tính đến các yếu tố cạnh tranh.
Cách thức để cạnh tranh có nhiều,
xong quản lý đô thị để cạnh tranh chính
là tự hoàn thiện cách thức quản lý, huy
động và sử dụng nguồn lực; tìm ra sự

sản phẩm ít gắn với quy mô kinh tế. Bên
cạnh đó, Điện Bàn khó có thể cạnh tranh
về tính mới so với Đà Nẵng hay tính cổ
kính của Hội An nên sự khác biệt, giá trị
‘tài sản’ và điểm nổi trội có những khó

khác biệt và sáng tạo để phát huy tốt nhất

khăn nhất định. Muốn tạo ra và giữ lợi

lợi thế sẵn có cũng như thu hút các nguồn
lực ‘động’ để có được khách hàng và vị

thế cạnh tranh, Điện Bàn cần có các hệ
thống theo dõi và đánh giá cập nhật, so

thế tốt hơn trên các ‘sân chơi’ trong nước

sánh với các đô thị khác bằng con số và

và quốc tế. Sự hoàn thiện mình ở đây

chính quyền đô thị hay Thị trưởng bầu
trực tiếp đi vào cuộc sống, chính quyền

Harris, N. 1997. Cities in a global
economy: structural change and policy

cấp thị xã cần có sự liên kết và tranh thủ
sự ủng hộ của cấp trên và liên minh với
các đô thị lân cận một cách chủ động để
đảm bảo lợi thế từ sự khác biệt của địa
phương phát huy. Đương nhiên, chính
quyền không trực tiếp cạnh tranh mà chỉ
tạo điều kiện để doanh nghiệp phát
huy khả năng cạnh tranh ở các sân
chơi tiềm năng. Dù sao, thẩm quyền để
thực hiện các nhiệm vụ này cũng vẫn là
điểm lưu tâm trong câu chuyện chính
sách và thể chế hiện nay.
Hà Nội, 4/3/2014

reactions. Urban Studies, 34, (10) 1693
Hieu, N. N. 2011, Building criteria
for assessing urban management
performance, Academy of Public
Administration, Hanoi, Vietnam.
Hieu, N.N. 2012. Canh tranh do thi.
Quy hoach do thi, 11, Hoi quy hoach va
phat trien do thi Vietnam.
Mercer Surveys 2014, 2014-global
quality-of-living report London.


thềm lục địa, thực hiện chủ quyền đối với
vùng đặc quyền kinh tế”.
Ngày 22/9/1997, Bộ Chính trị ban
hành Chỉ thị số 20-CT/TW về đẩy mạnh

trường. Sau gần 30 năm thực hiện công
cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng,
tiềm lực kinh tế biển của đất nước ta đã

phát triển kinh tế biển theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Những quan
điểm cơ bản của Chỉ thị này nhấn mạnh

không ngừng lớn mạnh, phát triển với tốc
độ khá nhanh và đã có những đóng góp
quan trọng vào nhịp độ tăng trưởng kinh

cùng với việc tiếp tục chủ trương lớn xây
dựng Việt Nam trở thành một nước mạnh
về biển, phát triển kinh tế - xã hội vùng

tế - xã hội của đất nước theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Giai đoạn 1976
- 1986: đất nước ta đã định hình một

biển, hải đảo, ven biển phải gắn kết với
yêu cầu bảo vệ đất nước.
Để tiếp tục phát huy các tiềm năng


vùng biển, ven biển, hải đảo với phát
triển vùng nội địa theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.

137/2007/QĐ-TTg ngày 21 tháng 8 năm
2007 Phê duyệt Đề án tổ chức thông tin
phục vụ công tác phòng, chống thiên tai
trên biển; Quyết định số 1041/QĐ-TTg
ngày 22/7/2009 Phê duyệt Đề án đảm

Ba là, khai thác mọi nguồn lực để
phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi
trường biển trên tinh thần chủ động, tích
cực mở cửa, phát huy đầy đủ và có hiệu

bảo mạng lưới thông tin biển, đảo;
Quyết định số 373/QĐ-TTG ngày
23/3/2010 Phê duyệt Đề án đẩy mạnh
công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ

quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ
hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các nguồn
lực bên ngoài theo nguyên tắc bình

và phát triển bền vững biển và hải đảo
Việt Nam...
Chiến lược biển Việt Nam ra đời

đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc
lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của

làm cho đất nước giàu mạnh. Triển khai
thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW,

bền vững biển, hải đảo Việt Nam là trách
nhiệm của cả hệ thống chính trị, cả trước

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số

mắt và lâu dài, nhằm nâng cao ý thức

27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 ban
hành Chương trình hành động của Chính

vươn ra biển, làm giàu từ biển trong cộng
đồng người Việt Nam; khẳng định việc

Nội san Khoa QLNN về Đô thị và Nông thôn

11


NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

thực hiện chủ quyền, quyền chủ quyền và

ninh quốc phòng vùng biển; xây dựng cơ

quyền tài phán quốc gia của Việt Nam
trên các vùng biển, hải đảo trong khu vực
Biển Đông. Tinh thần của Nghị quyết


nghệ, chống đói nghèo, phòng chống
thiên tai, bảo vệ môi trường biển; Huy
động mọi nguồn lực và phát huy sức

2. Ban hành các văn bản pháp luật
về biển và hải đảo

mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và
cộng đồng xã hội tham gia.
Trên tinh thần của đó, Các cơ quan ở

2.1. Yêu cầu xây dựng pháp luật về
biển đảo
Việt Nam là một quốc gia ven biển,
có bờ biển dài trên 3.200 km, kinh tế

Trung ương và địa phương đã chủ động
xây dựng kế hoạch, trực tiếp triển khai
chương trình hành động cùng với sự nỗ

biển và các ngành liên quan đến biển
đóng góp lớn vào nền kinh tế đất nước.
Ngay sau khi Công ước Luật Biển 1982

lực của các cấp, các ngành, toàn dân và
đã đạt được những kết quả quan trọng:
Kinh tế biển, ven biển được quan tâm
đầu tư, phát triển theo hướng khai thác có
hiệu quả nguồn tài nguyên biển kết hợp



NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

dù là nước có biển hay không có biển.

biển và các hoạt động kinh tế biển, tạo

Công ước Luật Biển 1982 đã trở thành cơ
sở pháp lý quan trọng để điều phối các
vấn đề liên quan đến biển, một công cụ
pháp lý quan trọng để giải quyết, xử lý
các tranh chấp biển và được coi là “Hiến

điều kiện thuận lợi cho quá trình hội
nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với
các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu
vực và trên thế giới.
Trên thực tế, các nước ven biển đều

pháp của đại dương.” Trong 30 năm tồn
tại, Công ước Luật Biển 1982 đã được
vận dụng khá hiệu quả để giải quyết nhiều
tranh chấp biển phức tạp kéo dài, tránh
được những nguy cơ xung đột tiềm tàng.

có các luật về biển, luật về lãnh hải, vùng
tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh
tế, thềm lục địa… Trong khi đó Việt
Nam mới chỉ có một số văn bản pháp

Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải,

vùng biển đó; góp phần bảo vệ chủ
quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán
và các lợi ích của Việt Nam. Đây cũng

quyền chủ quyền và quyền tài phán đối
với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam
trên cơ sở các quy định của Công ước
Luật Biển 1982 và các nguyên tắc của

trở thành nhu cầu tất yếu nhằm phục
vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ
các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế
biển của Việt Nam; tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và

pháp luật quốc tế; yêu cầu các nước khác

tăng cường hợp tác với các nước trong

tôn trọng các quyền nói trên của Việt
Nam. Vận dụng các quy định của Công

khu vực và trên thế giới. Do đó, yêu
cầu xây dựng pháp luật biển và hải đảo

ước Luật Biển 1982, Việt Nam đã từng


quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh

quốc tế, năm 1977 Việt Nam ban hành
“Tuyên bố của Chính phủ về các vùng

Tuy nhiên, các quy định liên quan
đến xác định biên giới trên biển, quản lý,
sử dụng biển chỉ nằm rải rác trong các

biển Việt Nam” xác lập vùng đặc quyền
kinh tế rộng 200 hải lý, cho phép mở

Nam... Tất cả các văn bản pháp lý này
đều khẳng định: Việt Nam có chủ quyền
đầy đủ và toàn vẹn trong vùng nội thủy,

thổ không thể tách rời của Việt Nam.

rộng quyền của Việt Nam ra biển, không
chỉ giới hạn trong quyền đánh cá mà còn

luật liên quan như: Luật biên giới quốc
gia năm 2003; Luật thủy sản năm 2003;
Bộ luật Hàng hải năm 2005, Luật Dầu

có các quyền chủ quyền và quyền tài
phán khác. Bên cạnh đó, chúng ta đã có
một số văn bản pháp luật quy định về

khí 1993, Luật Tài nguyên nước 1998,


Nghị

định

số

161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của
Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới
biển; Thông tư số 60/1980/TT - TTg
ngày 19/2/1980 của Thủ tướng Chính
phủ hướng dẫn việc thực hiện Nghị định
ban hành quy chế cho tàu thuyền nước
14

tranh chấp xảy ra, đặc biệt những vấn đề
liên quan đến yếu tố nước ngoài.
- Sau khi Luật Biển ra đời
Luật Biển Việt Nam được Quốc hội
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua
ngày 21/6/2012, chính thức công bố vào
ngày 16/7/2012 và có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/01/2013. Việc thông qua Luật

Nội san Khoa QLNN về Đô thị và Nông thôn


NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI


ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm
1982, cũng như yêu cầu phát triển của
đất nước. So với các văn bản pháp luật có
nội dung liên quan đến biển nêu trên,
Luật Biển Việt Nam có một số điểm mới
quan trọng sau:

Luật biển Việt Nam quy định một
cách đầy đủ hơn về phạm vi, chế độ pháp
lý của các vùng biển, thềm lục địa Việt
Nam, phù hợp với quy định tương ứng
trong Công ước của Liên hợp quốc về
Luật Biển năm 1982.
Luật biển Việt Nam quy định rõ
về quyền tự do hàng hải, hàng không trên
vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa
Việt Nam.
Luật biển Việt Nam quy định chi
tiết về việc đi qua không gây hại của tàu
thuyền nước ngoài trong lãnh hải Việt
Nam. Với quy định này của Luật biển
Việt Nam, ta đã bỏ quy định trước đây
yêu cầu tàu quân sự nước ngoài phải xin
phép trước khi vào vùng tiếp giáp lãnh
hải của Việt Nam.
Luật biển Việt Nam quy định các
nguyên tắc lớn về giải quyết tranh chấp
liên quan đến biển, đảo với các nước,
hợp tác quốc tế về biển, quản lý và bảo
vệ biển, phát triển kinh tế biển, tuần tra


phần giữ vững ổn định và phát triển đất
nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển
kinh tế – xã hội với đảm bảo quốc phòng,
an ninh và bảo vệ môi trường; có chính
sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn

định: Việt Nam là một thành viên có
trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tôn
trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, các
điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên, trong đó có Công ước Luật Biển

lực cho phát triển kinh tế biển; xây dựng
các trung tâm kinh tế lớn vùng duyên hải
gắn với các hoạt động kinh tế biển làm
động lực quan trọng đối với sự phát triển
của cả nước

năm 1982, quyết tâm phấn đấu vì hòa
bình, ổn định, hợp tác và phát triển của
khu vực và trên thế giới.

3.4. Chính sách an ninh, an toàn
trên biển
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII của Đảng (tháng 6-1996), xác định:

3. Xây dựng và tổ chức thực hiện
chính sách biển và hải đảo


3.3. Chính sách tài nguyên – môi
trường biển
Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020 chỉ rõ, phải phấn đấu để nước ta trở
thành một quốc gia mạnh về biển, giàu
lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền,
16

4. Đầu tư các nguồn lực cho khai
thác, bảo vệ và phát triển biển và hải đảo
5. Xây dựng bộ máy quản lý nhà
nước đối với biển, hải đảo
Từ năm 1998 trở về trước, bộ máy
quản lý nhà nước chưa hình thành một cơ
quan chuyên môn nào về biển. Hoạt động
này thường giao cho Chính phủ thống
nhất quản lý; các cơ quan hành chính nhà
nước ở Trung ương (Bộ Nông nghiệp và

Nội san Khoa QLNN về Đô thị và Nông thôn


NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

Phát triển nông thôn, Bộ Công an, Bộ

Đông ở phía Nam bằng một cửa duy nhất

Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Giao

trọng. Từ lâu, nhân dân hai quốc gia đã
tiến hành sử dụng, khai thác vùng biển

quả quản lý về biển, chưa khai thác được
tiềm năng, thế mạnh của biển.
Bảo vệ môi trường biển, hải đảo

trong Vịnh Bắc Bộ. Căn cứ vào Công
ước 1982, giữa hai bên phải vạch đường
biên giới biển trong lãnh hải ở khu vực

ở địa phương theo thẩm quyền được
phân cấp.

cửa sông Bắc Luân, vạch đường ranh
giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm
lục địa trong Vịnh. Nếu hai quốc gia đều

6. Hợp tác quốc tế trong quản lý
biển và hải đảo
6.1. Hợp tác quốc tế trong phân
định biển
Biển và hải đảo ngày càng trở thành
nguồn lực kinh tế to lớn, mở ra một
không gian sinh tồn mới, gắn bó mật
thiết và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh,
bảo vệ môi trường của mỗi nước.
- Phân định Vịnh Thái Lan giữa
Việt Nam – Thái Lan

quốc gia quần đảo.
6.2. Hợp tác quốc tế trong bảo vệ an
ninh, an toàn trên biển
Việc bảo đảm hòa bình, ổn định, an
ninh và an toàn hàng hải ở biển Đông là
mối quan tâm chung của các nước trong
và ngoài khu vực. Trên tinh thần đó, Việt
Nam luôn ý thức cùng với cộng đồng
quốc tế đóng góp xây dựng nhằm bảo vệ
an ninh, an toàn hàng hải và duy trì hòa
bình, ổn định ở khu vực biển Đông.
Những hành vi vi phạm an toàn, an ninh,
trật tự trên biển rất đa dạng. Từ những
hành vi nguy hiểm phức tạp có tính liên
quốc gia như gây phương hại hoặc đe
dọa phương hại đến chủ quyền và an
ninh quốc gia; Hành vi vận chuyển
người, hàng hóa, hành lý, vũ khí, chất
phóng xạ, chất phế thải độc hại, chất ma
túy trái với quy định của pháp luật đến
những hành vi đơn lẻ như: cố ý tạo
chướng ngại vật gây nguy hiểm hoặc làm
cản trở giao thông hàng hải; Sử dụng,
khai thác tàu biển không đăng ký, đăng
kiểm hoặc quá hạn đăng ký, đăng kiểm;
giả mạo đăng ký, đăng kiểm…
6.3. Hợp tác quốc tế trong bảo vệ
môi trường biển
Cho đến đầu thế kỷ XX, con người
vẫn tiếp nhận biển cả như một món quà

chấp chủ yếu:
Một là, tranh chấp chủ quyền lãnh
thổ đối với quần đảo Hoàng Sa và
quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền
Việt Nam.
Hai là, tranh chấp trong việc xác
định ranh giới các vùng biển và thềm lục
địa chồng lấn giữa các nước có bờ biển
liền kề hay đối diện nhau ở xung quanh
Biển Đông.

Nội san Khoa QLNN về Đô thị và Nông thôn


NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

Danh mục tài liệu tham khảo
1. Công ước Luật Biển năm 1982
2. Chương trình Hành động 21
(Agenda 21)
3. Luật Biển Việt Nam 2012
4. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005
5. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày
9/2/2007 Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa X về “Chiến
lược biển Việt Nam đến năm 2020”
6. Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP
ngày 30/5/2007 ban hành Chương trình
hành động của Chính phủ thực hiện Nghị


vùng biển Việt Nam năm 1977

truyền thông, Hà Nội 2012
16. Nguyễn Bá Diến, Chính sách
pháp luật của Việt Nam, NXB Tư pháp,

9. Tuyên bố của Chính phủ về
đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh
hải Việt Nam năm 1982

Hà Nội 2006.
17. Lê Đức Tố – Hoàng Trọng Lập,
Quản lý Biển, NXB ĐHQG, Hà Nội 2005

10. Nghị định số 161/2003/NĐ-CP
ngày 18/12/2003 của Chính phủ về Quy
chế khu vực biên giới biển
11. Thông

26/2010/TTLT-

18. Phạm Văn Đạt, Tạ Quang Ngọc,
Hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng
cao hiệu quả quản lý nhà nước về biển ở
nước ta hiện nay, Tạp chí cộng sản số

BTNMT-BNV của Bộ Tài nguyên – Môi

ngày 22/11/2013


dựng mới trên khu đất chuyển đổi từ
các loại đất khác thành đấtxây dựng
đô thị.
Xuất hiện vào những năm 1990, các
khu đô thị mới (ĐTM)của Việt Namđã
khẳng định một hướng phát triển đúng
đắn theo xu thế chung của thế giới và đã
có những thành công nhất định. Một số
lượng lớn quỹ nhà ở được tạo dựng có cơ
sở hạ tầng đồng bộ, có kiến trúc cảnh
quan hiện đại, các công trình có khối tích
lớn góp phần làm đa dạng sắc thái hình
ảnh đô thị. Bên cạnh đó các tiêu chuẩn về
nhà ở, mức độ tiện nghi và sự đa dạng
hóa của các dịch vụ hạ tầng đô thị được
cải thiện đáng kể so với thời kỳ trước.
Tuy nhiên khi xem xét về chất lượng
sống thực sự của cư dân trong các khu
20

ĐTM này cho thấy còn nhiều vấn đềbất
cập đang tồn tại, diễn ra rất phổ biến
như mật độ xây dựng quá dày, thiếu các
công trình tiện ích xã hội, chất lượng
dịch vụ công ích chưa đảm bảo, ô nhiễm
môi trường đã làm cho cư dân bức xúc
Bước sang thế kỷ XXI, phát triển
bền vững trở thành mục tiêu hàng đầu
cho tất cả các quốc gia, các thành phố và
mọi người dân. Cùng với xu thế chung

bài viết muốn giới thiệu một số các dự án
phát triển khu đô thị mới theo hướng bền
vững khá thành công và nổi tiếng trên thế
giới như những tham khảo có giá trị cho
các nhà quản lý khu đô thị mới của Việt
Nam trong hành trình đi tìm lời giải cho
bài toán này.
1. Tiểu khu ChristieWalk - Úc
Christiewalk là một tiểu khu nằm
trong khu trung tâm buôn bán Adelaide
miền Nam nước Úc.Tiểu khu có diện tích
khoảng 2000 m2 với 27 căn hộ và các
khu công cộng. Dự án xây dựng cải tạo
tiểu khu được khởi xướng vào năm 1999
bởi Tổ chức Sinh thái đô thị Australia.
Nguồn vốn thực hiện dự án được huy
động hoàn toàn từ phía các cá nhân mà
không có sự hỗ trợ tài chính nào từ phía
chính quyền. Ý tưởng về thiết kế, quy
hoạch và quản lý của cộng đồng được
xây dựng từ những phản hồi, đóng góp
của những cư dân tương lai và người
mua căn hộ. Những người này là những
người mua nhà lần đầu hoặc những người
đã từng sở hữu một căn hộ, những nhà
đầu tư, thậm chí là người đứng tuổi mong

muốn khi về hưu được sống trong một
cộng đồng năng động và đa dạng.


2. Khu đô thị Vauban – CHLB Đức
Vauban là một khu đô thị mới, rộng
38 ha, nằm cách trung tâm thành phố
Freiburg (Tây Nam nước Đức) khoảng 3
km về phía nam. Nơi đây vốn là khu căn
cứ quân sự của người Pháp từ thế chiến
thứ hai. Từ giữa thập niên 90, hội đồng
thành phố Freiburg đã quyết định phát
triển Vauban thành một khu dân cư sinh
thái và đưa vào sử dụng từ năm 2010.
Vauban được quy hoạch cho khoảng
5.500 người dân sinh sống trong 2.000
ngôi nhà. Khu ở này đã nhanh chóng trở
nên nổi tiếng trên toàn thế giới vì sở hữu
một không gian sống đô thị chất lượng
cao: thân thiện môi trường với thực phẩm
sạch hữu cơ, tiết kiệm năng lượng tối ưu
bằng việc sử dụng năng lượng tái tạo và
xây dựng những ngôi nhà không có phát
thải carbon.
Vauban có đầy đủ mọi thứ như các
khu đô thị khác như: những con đường
với hàng cây xanh, những căn nhà hoàn
hảo… trừ một điểm đặc biệt: ô tô.
Vauban không hoàn toàn cấm xe ô tô mà
nó chỉ cố gắng làm giảm việc sử dụng ô
tô bằng cách tạo ra một môi trường sống
nói “không” với ô tô và bãi đỗ xe. Ô tô
bắt buộc phải đỗ tại các bãi xe công cộng
với phí khá cao, khoảng 17.500


Trước mỗi căn hộ đều có rất nhiều
cây xanh và tại không gian sinh hoạt cộng

3.5000 người dân sống tại đây. Theo quy
hoạch mới, nguồn điện của thành phố

đồng cũng xanh mướt màu xanh của cây
cối.Công viên, sân chơi cho trẻ em được

được tạo ra từ chất thải, đáp ứng 50%
nhu cầu điện năng của thành phố. Khu đô

thiết kế thân thiện ngay liền kề khu dân cư
thực sự khiến Vauban là một nơi lý tưởng
cho các hộ gia đình có trẻ nhỏ.

thị này cũng có một hệ thống sinh thái
độc đáo thông qua việc tích hợp năng
lượng, chất thải rắn, nước và nước thải để
tạo ra các nguồn năng lượng dùng cho
các tòa nhà văn phòng, khu dân cư và
công trình công cộng. Đây thực sự là mô
hình thành công về hợp tác đầu tư giữa
nhà nước và doanh nghiệp, cụ thể là
chính quyền thành phố Stốckhôm và 25
công ty đã cùng xây dựng khu đô thị
mới. Các công ty đã đóng góp 80% tổng
vốn đầu tư xây dựng. Vật liệu được lựa
chọn kỹ càng dựa trên các tiêu chuẩn quy

* Hàm ý bài học:
-Nhà nước dường như không còn vai
trò tham gia trực tiếp vào sự phát triển
của các khu ở này mà chỉ gián tiếp tham
dự thông qua các định hướng quy hoạch,
các quy định và các tiêu chuẩn xây dựng
cho các khu ở. Khuyến khích và hỗ trợ
các doanh nghiệp tham dự thông qua các
chính sách phù hợp.
-Thực hiện xây dựng phát triển các
khu ở theo hướng bền vững bằng các dự
án độc lập sẽ mang lại cách thức hiệu quả
cho việc cân bằng lợi ích doanh nghiệp
và cộng đồng.
- Các dự án thành công là kết quả

- Cộng đồng cư dân của khu đô thị
cần được nhìn nhận với vai trò là một
chủ thể đích thực. Sự tham gia của cư
dân cần đảm bảo hiệu quả ngay từ khâu
đầu tiên là lập quy hoạch, thiết kế xây
dựng cho đến khâu thực thi họ cũng là
chủ thể trực tiếp góp vốn và công sức.
Cộng đồng cư dân sẽ là người quyết định
chất lượng của khu ở bằng cách tham gia
quản lý ở khâu khai thác, vận hành.
Tài liệu tham khảo:
1.Đề tài NCKH cấp cơ sở : “ Quản
lý khu đô thị mới theo hướng phát triển
bền vững”, năm 2013.


nên các gia đình đồng bào DTTS đều có
đất ở, đất sản xuất. Tuy nhiên do đặc
điểm cư trú là du canh du cư hoặc quá
trình tăng dân số, di dân tự do hoặc do

Trung ương khi phê duyệt kế hoạch và
xác định nguồn lực, địa phương cũng khó
lựa chọn giải pháp tổ chức thực hiện;

nhu cầu phát triển thủy điện, khai
khoáng,… dẫn đến tình trạng ngày càng
nhiều hộ đồng bào DTTS thiếu đất ở, đất

Hai là, hệ thống văn bản hướng dẫn,
triển khai thực hiện chậm, chồng chéo;
công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết

sản xuất. Từ năm 2002 đến năm 2011, cả
nước có 558.485 hộ đồng bào DTTS
nghèo cần được hỗ trợ đất ở, đất sản

quả thực hiện không kịp thời để giải
quyết vướng mắc, nảy sinh. Về giải quyết
đất ở liên quan đến các Quyết định 134,

xuất1. Trước thực tế này, Chính phủ và
các Bộ ngành đã ban hành nhiều chính
sách, quy định về giải quyết đất ở, đất




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status