Tiểu luận môn luật cạnh tranh đề tài cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại và thực tiễn tại việt nam - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
KHOA: LUẬT KINH DOANH

Tiểu luận
ĐỀ TÀI: CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TIẾN

SĨ. TRẦN THĂNG LONG.

SINH VIÊN THỰC HIỆN:
NGUYỄN HỮU NGUYÊN

MSSV: 33141021446

VŨ TẤN PHƯƠNG

MSSV: 33141021412

NGUYỄN LONG GIANG

MSSV: 33141021153

NGUYỄN THÀNH TIẾN

MSSV:3313102376
1



Xuất phát từ tính chất đa dạng, phức tạp của quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi
luật cạnh tranh, Pháp luật cạnh tranh truyền thống được chia thành hai lĩnh vực với
cách tiếp cận khác nhau, dựa trên tính chất và đặc điểm của hành vi cạnh tranh, đó
là pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh và pháp luật về chống cạnh tranh không
lành mạnh.
Và việc cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo và thực tiễn tại Việt Nam sẽ cho
ta thấy được các vấn đề đang tồn tại trong xã hội Việt Nam, các hành vi cạnh tranh
được phép và Không được phép

3


B. giải quyết vấn đề:
I. khái niệm và đặc điểm của quảng cáo thương mại:
1. Khái niệm:
Quảng cáo là hình thức tuyên truyền được trả phí hoặc không để thực hiện
việc giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tưởng, quảng cáo là
hoạt động truyền thông phi trực tiếp giữa người với người mà trong đó người muốn
truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện truyền thông đại chúng để đưa thông
tin đến thuyết phục hay tác động đến người nhận thông tin.
Quảng cáo là những nỗ lực nhằm tác động tới hành vi, thói quen mua hàng
của người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp bán
hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán
2. Đặc điểm của quảng cáo thương mại:
Theo luật quảng cáo 2012 định nghĩa về quảng cáo: “Quảng cáo là việc sử
dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ có mục đích sinh lợi hay sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi. Tổ
chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ, hàng hóa, sản phẩm được giới thiệu, trừ tin
thời sự. Chính sách xã hội. Thông tin cá nhân”
Như vậy, có thể hiểu đối tượng của hoạt động quảng cáo có thể là hoạt động

mại, thương nhân sử dụng sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại để
thông tin về hàng hóa dịch vụ đến khách hàng. Những thông tin bằng hình ảnh,
tiếng nói, chữ viết về hàng hóa dịch vụ cần giới thiệu… được truyền tải đến công
chúng thông qua các phương tiện truyền thanh, truyền hình, ấn phẩm. Đặc điểm
này là đặc điểm riêng biệt của quảng cáo thương mại với hình thức xúc tiến thương
mại cũng có mục đích giới thiệu hàng hóa, dịch vụ như trưng bày, hội trợ triển lãm.

5


Thứ tư , mục đích trực tiếp của quảng cáo thương mại. Mục đích là giới
thiệu về hàng hóa, dịch vụ để xúc tiến thương mại, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và
mục tiêu lợi nhuận của thương nhân. Thông qua các hình thức truyền đạt thông tin,
thương nhân giới thiệu về một loại hàng hóa, dịch vụ mới, tính ưu việt về chất
lượng, giá cả, khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng… Như vậy, thương nhân có thể
tạo sự nhận biết và kiến thức về hàng hóa, dịch vụ, có thể thu hút khách hàng đang
sử dụng hàng hóa, dịch vụ của công ty khác thông qua việc nhấn mạnh đặc điểm và
lợi ích của một nhãn hiệu cụ thể hoặc thông qua việc so sánh tính rất lớn trong việc
định hướng nhu cầu tiêu dùng xã hội bao gồm nhu cầu tiêu dùng cá nhân và sản
xuất.
II. Những điểm mới của luật quảng cáo 2012
1.

Quản lý nhà nước về hoạt động quàng cáo.

Luật quy định Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước
Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về quảng cáo; Quy định về sản phẩm, hàng
hóa, dịch vụ cấm quảng cáo bao gồm: thuốc lá, rượu có nồng độ cồn từ 15 độ, sữa
dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi, sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ dưới 6 tháng
tuổi, bình vú, vú ngậm nhân tạo; thuốc kê đơn, thuốc được cơ quan nhà nước

Hoạt động quảng cáo.

Hoạt động quảng cáo gồm 6 Mục, 22 Điều (từ Điều 17 đến Điều 38) quy
định những nội dung về phương tiện quảng cáo; tiếng nói, chữ viết trong quảng
cáo; yêu cầu đối với nội dung quảng cáo; điều kiện quảng cáo; quảng cáo trên báo
in, báo nói, báo hình; quảng cáo trên báo điện tử và trang thông tin điện tử, trên
phương tiện điện tử, thiết bị đầu cuối và các thiết bị viễn thông khác; quảng cáo
trên các sản phẩm in, trong bản ghi âm, ghi hình; quảng cáo trên bảng quảng cáo,
băng-rôn, màn hình chuyên quảng cáo; quảng cáo trên phương tiện giao thông;
quảng cáo bằng loa phòng thanh; biển hiệu của tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất
kinh doanh; các yêu cầu đối với hoạt động quảng

7


cáo thông qua chương trình văn hoá, thể thao, hội nghị, hội thảo, hội chợ,
triển lãm, tổ chức sự kiện, đoàn người thực hiện quảng cáo, vật thể quảng cáo.
Quy định về một số thủ tục hành chính: Bãi bỏ Giấy phép thực hiện quảng
cáo trên bảng, băng-rôn thay bằng thủ tục thông báo sản phẩm quảng cáo đến cơ
quan quản lý nhà nước về quảng cáo trước khi thực hiện quảng cáo; Bãi bỏ Giấy
phép ra phụ trương quảng cáo thay bằng thủ tục thông báo cho cơ quan quản lý nhà
nước về báo chí; Bãi bỏ Giấy tiếp nhận hồ sơ quảng cáo (hoặc thủ tục đăng ký nội
dung quảng cáo) đối với hàng hóa, dịch vụ trong lĩnh vực y tế, nông nghiệp và phát
triển nông thay bằng quy định điều kiện phải thực hiện theo Điều 20 Luật quảng
cáo và các nội dung bắt buộc quy định tại Nghị định của Chính phủ; Tiếp tục duy
trì cấp phép đối với việc ra kênh, chương trình chuyên quảng cáo (Bộ Thông tin và
Truyền thông cấp phép) và cấp phép xây dựng đối với màn hình quảng cáo từ 20
mét vuông trở lên; bảng quảng cáo 20 m vuông gắn vào công trình đã có trước;
bảng quảng cáo đứng độc lập từ 40 m vuông trở lên (Bộ Xây dựng cấp phép).
Điều chỉnh diện tích quảng cáo trên báo chí, cụ thể:

cho sách không được vượt quá 5% tổng thời lượng nội dung chương trình.
Bên cạnh đó, chương này cũng đưa ra các quy định về việc viết, đặt biển
hiệu, nội dung thể hiện trên biển hiệu của tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất kinh
doanh; quy định về công tác xây dựng quy hoạch quảng cáo tại địa phương với yêu
cầu của nội dung quy hoạch và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước ở
địa phương trong việc xây dựng quy hoạch quảng cáo để đảm bảo cảnh quan môi
trường, mỹ quan đô thị và trật tự an toàn xã hội; quy định về hồ sơ thông báo sản

9


phẩm quảng cáo trên bảng quảng cáo, băng rôn; trình tự thông báo sản phẩm quảng
cáo trên bảng quảng cáo, băng rôn; cấp giấy phép xây dựng công trình quảng cáo.
b.

Quảng cáo có yếu tố nước ngoài.

Quảng cáo có yếu tố nước ngoài gồm 03 Điều (từ Điều 39 đến Điều 41) quy
định những vấn đề liên quan đến hoạt động quảng cáo của tổ chức, cá nhân nước
ngoài tại Việt Nam; hợp tác đầu tư nước ngoài trong hoạt động quảng cáo; văn
phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam.
Trong Pháp lệnh Quảng cáo có quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch
vụ quảng cáo nước ngoài được đặt Chi nhánh tại Việt Nam. Tuy nhiên, khi Việt
Nam trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì tổ chức, cá
nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo nước ngoài được hợp đồng, hợp tác kinh doanh
hoặc liên doanh với đối tác Việt Nam nhưng không được thành lập chi nhánh. Vì
vậy, trong dự thảo Luật đã bãi bỏ việc cho phép thành lập chi nhánh cho phù hợp
cam kết của Việt Nam với WTO.
III. Thực trạng quảng cáo tại việt nam:
Quảng cáo có nền tảng công nghệ số qua internet và các thiết bị di động như

quảng cáo truyền hình vẫn tiếp tục duy trì vị trí hàng đầu của mình với thị phần
quảng cáo ít nhất là trên 70% tổng chi phí quảng cáo tại Việt Nam.
Năm 2015, bức tranh quảng cáo của Việt Nam vẫn tập trung chủ yếu vào các
ngành hàng tiêu dùng nhanh và dược phẩm thì mức độ tăng trưởng của quảng cáo
sẽ tụt giảm hơn nữa so với 2014 do những động thái cắt giảm ngân sách của các
nhà quảng cáo lớn trong ngành hàng tiêu dùng. Ngược lại với việc cắt giảm ngân
sách quảng cáo là thực tế "nở rộ" của nhiều loại hình truyền thông mới, mang tới

11


cho người tiêu dùng nhiều sự lựa chọn hơn, dẫn tới việc tiếp cận và gửi được thông
điệp quảng cáo đến cho đúng đối tượng mục tiêu càng khó và tốn chi phí hơn. Như
vậy, việc cắt giảm ngân sách quảng cáo chỉ khả thi đối với những doanh nghiệp đã
chi quá dư cho quảng cáo, còn đại đa số khách hàng nhỏ và vừa khác sẽ phải đầu
tư nhiều hơn vào quảng cáo nói chung để đạt được cùng hiệu quả như trước đây.
Trong các hội thảo và hội nghị gần đây về mobile marketing, có thể thấy đơn
vị quảng cáo nhiều nhất Việt Nam đang tích cực vận động đầu tư vào mobile
advertising. Từ góc độ của đơn vị nghiên cứu truyền thông đầy đủ nhất Việt Nam
hiện nay, có cơ sở cho rằng, quảng cáo trên điện thoại di động có nhiều tiềm năng,
đặc biệt có thể thay thế loại hình quảng cáo tại điểm bán hết sức hiệu quả ở các
trung tâm mua sắm hay siêu thị nếu doanh nghiệp biết khai thác tốt. Tỷ lệ sở hữu
điện thoại di động thông minh ở Việt Nam tương đối cao là 34%, chỉ đứng sau
Indonesia. Có 91% hộ gia đình ở Việt Nam có ít nhất một điện thoại di động trong
nhà, nên ngay với điện thoại di động thường nếu biết quảng cáo cũng sẽ rất hiệu
quả để đến với người tiêu dùng ở nông thôn.
Nhìn chung, tổng chi phí quảng cáo ở thị trường Việt Nam năm 2015 vẫn
tiếp tục tăng trưởng ở mức 2 con số, ít nhất là trên 25%
Đây là thị trường tiềm năng và đang còn ở giai đoạn ban đầu. Kantar Media
có sẵn những giải pháp nghiên cứu thị trường phù hợp cho loại phương tiện truyền

Dự đoán, cuộc chiến truyền thông năm sau sẽ diễn ra một cách vô cùng khốc
liệt. thương mại điện tử còn rất nhiều triển vọng
Thực tế, sau 4 năm triển khai và đẩy mạnh Thương mại điện tử, thị trường
Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu trong đó bao gồm cả việc thu hút đầu tư
quảng cáo của các tập đoàn tài chính hàng đầu trên toàn thế giới, đặc biệt là các tập
13


đoàn công nghệ. Thị trường tiêu dùng trong nước vốn rất đa dạng và phát triển một
cách mạnh mẽ. Các tập đoàn nước ngoài không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước
những nhu cầu ngày càng tăng cao của thị trường còn rất năng động này. Và để tiếp
cận một cách chính xác và nhanh chóng, họ sẽ phải nhờ đến truyền thông và quảng
cáo.
Theo báo cáo mới nhất từ hệ thống theo dõi dữ liệu quảng cáo online
iTracker, doanh thu tại thị trường quảng cáo trực tuyến trên 55 website lớn nhất ở
Việt Nam đạt hơn 49 triệu USD. Con số này sẽ là ~125 triệu USD nếu tính thêm
hai đại gia Google và Facebook, tăng gần gấp đôi so với năm 2014. Rõ ràng, với
định mức phát triển như vậy, năm 2016 có thể sẽ tăng cao hơn khi nhiều thông tin
thị trường cho biết Việt Nam nhận thêm những sự đầu tư lớn hơn đồng thời các tập
đoàn, công ty trong nước tiếp tục đẩy mạnh quảng bá hình ảnh của mình.
Cũng theo báo cáo của iTracker, Samsung Vina là công ty đứng đầu trong
top 50 công ty chi nhiều tiền quảng cáo nhất tại Việt Nam chiếm tới 8% thị phần
quảng cáo, tiếp theo là thương hiệu Nokia với 6%, đứng thứ 3 là Honda Vietnam
cùng với 6% thị phần. Trong top 10 công ty quảng cáo nhiều nhất, có tới 4 công ty,
tập đoàn công nghệ và dự đoán con số này sẽ được tăng lên khi các hãng điện thoại
Trung Quốc đang nhắm tới Việt Nam như một mảnh đất màu mỡ cho việc phát
triển và kinh doanh của mình.
Bên cạnh đó, một báo cáo hành vi người dùng online được Google Pacifice
đưa ra mình chứng cho một thị trường thương mại điện tử vào năm sau. Trong 40
triệu người dùng internet Việt Nam, có đến 44% người chưa thực hiện các giao

Tuy nhiên, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp phải bảo đảm nguyên tắc lành
mạnh, công bằng, không có sự “ăn gian” hoặc những “thủ thuật” trái pháp luật. Vì

15


nếu như vậy thì chẳng những doanh nghiệp làm ăn chân chính bị “chơi bẩn” mà
ngay người tiêu dùng cũng chẳng lợi lộc gì.
Điều 39 – Luật cạnh tranh 2004 qui định về các hành vi được xem là cạnh
tranh không lành mạnh, bị cấm. Chủ yếu gồm 9 hành vi sau :
1. Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
2. Xâm phạm bí mật kinh doanh;
3. Ép buộc trong kinh doanh;
4. Gièm pha doanh nghiệp khác;
5. Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;
6. Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
7. Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
8. Phân biệt đối xử của hiệp hội;
9. Bán hàng đa cấp bất chính;
Cụ thể hơn, chúng tôi xin được phân tích như sau :
* Chỉ dẫn gây nhầm lẫn là việc doanh nghiệp sử dụng những thông tin chỉ
dẫn (chẳng hạn trên bao bì, nhãn hàng, các pano quảng cáo ...) gây ra sự nhầm lẫn
về tên thương mại, logo, chỉ dẫn địa lý ... để làm sai lệch nhận thức của khách hàng
về hàng hóa, dịch vụ của mình.
Ví dụ: Sản phẩm trà chanh Nestea của Nestle và trà chanh Freshtea của
Công ty Thuý Hương.
Sản phẩm trà chanh Nestea hiện được ưa chuộng trên thị trường nhưng
không ít khách hàng, nhất là khách hàng ở các tỉnh, bị nhầm lẫn với Freshtea của
công ty Thuý Hương. Theo tài liệu của Công ty sở hữu trí tuệ Banca được công bố
công khai trong cuộc hội thảo do Bộ Công thương tổ chức thì, công ty Thuý


17


 So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ cùng loại

của doanh nghiệp khác;
Ví dụ về việc quảng cáo so sánh nói xấu đối thủ: Nệm KymDan
Vài năm trước, có chuyện công ty KymDan - là nhà sản xuất nệm cao su tự
nhiên lớn nhất tại TP. HCM đã đăng quảng cáo trên 5 tờ báo lớn với nội dung như
sau: “Đối với nệm lò xo, do tính chất không ưu việt của nguyên liệu sản xuất nên
chất lượng nệm sẽ giảm dần theo thời gian. Nếu độ đàn hồi của lò xo cao, lò xo dễ
bị gãy, gây nguy hiểm cho người sử dụng. Đối với nệm nhựa tổng hợp polyurethane (nệm mút xốp nhẹ) tính dẻo ưu việt nên không có độ đàn hồi, mau bị xẹp.
Chính vì những lý do đó mà KymDan hoàn toàn không sản xuất nệm lò xo cũng
như nệm nhựa poly-urethane. Tất cả các sản phẩm của KymDan đều được làm từ
100% cao su thiên nhiên, có độ bền cao và không xẹp lún theo thời gian...”.
Ngay sau khi mẫu quảng cáo trên phát hành, 3 công ty sản xuất nệm lò xo và
nệm mút đã khởi kiện KymDan ra toà với lý do quảng cáo của KymDan không có
căn cứ, gây thiệt hại đến uy tín sản phẩm của họ.
 Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng;

Ví dụ về nhãn hiệu gây nhầm lẫn: Cà phê Trung Nguyên
Công ty cà phê Trung Nguyên với thương hiệu G7 nổi tiếng cũng bị quy vào
một trong những doanh nghiệp có hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành
mạnh. Công ty Trung Nguyên đã sử dụng nhãn hiệu ba chiều hình cốc đỏ của
Nestlé để so sánh trực tiếp sản phẩm G7 của họ với sản phẩm Nescafé của Nestles.
Đó thực chất là việc so sánh trực tiếp sản phẩm nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
 Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về giá cả, số lượng,

chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử

1. Yêu cầu người tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu
hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
2. Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho
người tham gia để bán lại;
19


3. Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ
yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
4. Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa
cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác
tham gia.
Ví dụ về bán hàng đa cấp bất chính: Công ty Nino Vina phân phối sản phẩm
nước trái nhàu ở Việt Nam.
Nino Vina là một công ty phân phối sản phẩm nước trái nhàu ở Việt Nam.
Công ty này qui định: Để có thể trở thành thành viên cấp I của mạng lưới phân
phối, các phân phối viên phải mua 1 thùng 4 chai nước Tahitian Noni Juice với giá
gốc là 2,7 triệu đồng, giá phân phối là 3,2 triệu đồng. Nếu thành viên cấp I giới
thiệu thêm được 3 người khác tham gia vào mạng lưới (mỗi người lại đóng 2,7
triệu đồng) thì sẽ được hoa hồng 20% tổng số tiền những người này mua sản phẩm.
3 người sau này được coi là thành viên cấp II. Nếu các thành viên cấp II này giới
thiệu thêm được 3 người khác tham gia vào mạng lưới thì thành viên cấp I sẽ tự
động được hưởng thêm 5% tổng số tiền mà 3 thành viên cấp III nộp để mua sản
phẩm.
Theo tính toán, khi mạng lưới phát triển đến tầng thứ 8 thì số tiền hoa hồng
được chuyển về tài khoản của “người lôi kéo” ban đầu là 56,2 triệu đồng mặc dù
người này không phải làm gì ngoài việc rủ rê được 3 người mới tham gia vào mạng
lưới phân phối. Như vậy theo mô hình trả hoa hồng này, thu nhập thu được không
phải xuất phát việc bán sản phẩm mà là do chiếm dụng tiền của các thành viên tiếp
theo trong mạng lưới.

nghiệp muốn dùng cách “thông đồng” để thu lợi nhuận lớn ngay trước mắt thay vì
sử dụng chính năng lực cạnh tranh và khả năng thực tế của mình để thu hút khách
hàng.
21


V. Sử lý pháp luật về hành vi cạnh tranh Không lành mạnh
Theo quy định tại Điều 33 của Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014
của Chính phủ "Quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh",
thì hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh bị xử lý như sau: Phạt
tiền từ 60.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng đối với một trong các hành vi
quảng cáo sau đây: So sánh trực tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá,
dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác; Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác
để gây nhầm lẫn cho khách hàng; Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho
khách hàng về một trong các nội dung sau đây: Giá, số lượng, chất lượng, công
dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng
hóa, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công; cách thức sử dụng,
phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành; các thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn
khác.Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các
hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này thuộc một trong các trường hợp sau
đây: Hàng hóa, dịch vụ liên quan là các mặt hàng quy định tại điểm a khoản 2 Điều
10 của Nghị định này; quy mô quảng cáo thuộc phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương trở lên.Ngoài việc bị phạt tiền theo quy định tại khoản 1 và 2
Điều 33 Nghị định số Nghị định số 71/2014/NĐ-CP doanh nghiệp bị phạt tiền theo
quy định thì, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình
thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục sau đây: Tịch thu tang vật, phương
tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản
lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm; buộc cải chính công khai

22


Để chủ động bảo vệ quyền lợi của mình, người tiêu dùng có quyền đòi bồi
hoàn, bồi thường thiệt hại khi hang hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất
lượng, số lượng, giá cả đã công bố hoặc hợp đồng đã giao kết; khiếu nại, tố cáo
khởi kiện theo quy định pháp luật đối với việc sản xuất, kinh doanh hang cấm,
hang giả, hang hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn chất lượng, số lượng và việc
quảng cáo sai sự thật..
4. Xử lí nghiêm minh những vi phạm pháp luật về cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh
vực quảng cáo
Nghị định 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 về xử lí vi phạm trong lĩnh vực
cạnh tranh tại Điều 33 đã quy định cụ thể về mức phạt đối với hành vi quảng cáo
nhằm cạnh tranh không lành mạnh, với mức phạt thấp nhất là 60.000 000 đồng và
cao nhất là 140 000 000 đồng. bên cạnh đó, doanh nghiệp vi phạm còn có thể bị áp
dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả.
Đặc biệt, Bộ luật hình sự còn quy định tại Điều 168 xử lí vi phạm hình sự với tội
quảng cáo gian dối gây hậu quả nghiêm trọng và thực hiện hành vi phạm tội nhiều
lần.
Tuy nhiên, để xử lí hiệu quả những vi phạm pháp luật về cạnh tranh lành
mạnh trong quảng cáo thương mại, Nhà nước cần hoàn thiện quy định pháp luật
cũng như biện pháp xử lí đối với từng đối tượng vi phạm trong từng trường hợp cụ
thể. Cần có quy định cụ thể tạo một hành lang pháp lí hoàn chỉnh đảm bảo cho Cục
quản lí cạnh tranh có thể thực hiện tốt nhiệm vụ chức năng của mình. Đồng thời
cần có chính sách hợp lí nâng cao hiệu quả làm việc của các điều tra viên vụ việc
cạnh tranh cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
5. Hoàn thiện quy định pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
quảng cáo
24


Thứ nhất, cần làm rõ khái niệm cũng như cần có hướng dẫn cụ thể về quảng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status