Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy - học giải toán có lời văn ở lớp năm .
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
I. Lý do chọn đề tài
.................................................................. 2
II. Mục đích đề tài ............................................................................... 3
III. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................. 3
IV. Phương pháp nghiên cứu ............................................................. 4
V. Lịch sử đề tài ............................................................................... 4
VI. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu ................................................ 5
....................................................................................................................
PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở chỉ đạo việc dạy-hoc giải toán có lời văn ở lớp năm. .......
II. Thực trạng của việc dạy giải toán có lời văn lớp năm ở trường .
III. Nội dung cần giải quyết
IV . Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy-học giải toán có lời văn ở lớp
năm .
IV. Kết quả chuyển biến ...................................................................
6
7
8
23
PHẦN KẾT LUẬN
I. Tóm lược giải pháp ......................................................................... 24
II. Phạm vi đề tài ................................................................................ 26
môn toán là bộ môn không thể thiếu được trong nhà trường, nó giúp con
người phát triển toàn diện, nó góp phần giáo dục tình cảm, trách nhiệm, niềm
tin và sự phồn vinh của quê hương đất nước.
Cho nên ở học sinh lớp 5, khả năng nhận thức của các em đã được hình
thành và phát triển ở các lớp trước, tư duy đã bắt đầu có chiều hướng bền
vững và đang ở giai đoạn phát triển. Tuy nhiên trình độ nhận thức của học
sinh không đồng đều, yêu cầu đặt ra khi giải các bài toán có lời văn cao hơn
những lớp trước, các em phải đọc nhiều, viết nhiều, bài làm phải trả lời chính
xác với phép tính, với các yêu cầu của bài toán đưa ra nên thường vướng mắc
về vấn đề trình bày bài giải: sai sót do viết không đúng chính tả hoặc viết
Người thực hiện : Phạm Như An
Trang
2
Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy - học giải toán có lời văn ở lớp năm .
thiếu, viết từ thừa. Một sai sót đáng kể khác là học sinh thường không chú ý
phân tích theo các điều kiện của bài toán nên đã lựa chọn sai phép tính.
Trong giải toán, học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt,
huy động tích cực các kiến thức và khả năng đã có vào tình huống khác nhau,
trong nhiều trường hợp phải biết phát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa
được nêu ra một cách tường minh và trong chừng mực nào đó, phải biết suy
nghĩ năng động, sáng tạo. Vì vậy có thể coi giải toán có lời văn là một trong
những biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ của học sinh.
2. Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, các nhà trường đang tích cực đẩy mạnh đổi mới PPDH ở các
Trang
4
Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy - học giải toán có lời văn ở lớp năm .
toán có lời văn là phải lược bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất
toán học của bài toán, hay nói cách khác là chỉ ra các mối quan hệ giữa các
yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và nêu ra phép tính thích hợp để từ
đó tìm được đáp số bài toán.
VI. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
+ Phạm vi nghiên cứu: Giải toán có lời văn ở lớp năm .
+ Đối tượng: Nghiên cứu dạy- học theo phương pháp dạy- học tích
cực
+ Thời gian thực hiện : Từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 4 năm
2016
Người thực hiện : Phạm Như An
Trang
5
Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy - học giải toán có lời văn ở lớp năm .
Phần thứ hai
NỘI DUNG
6
Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy - học giải toán có lời văn ở lớp năm .
đại lượng. Giải toán là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa
toán học với các môn học khác.Vì vậy, lớp năm là lớp cuối cấp học sinh cần
phải nắm vững các bước giải một bài toán có lời văn từ đơn gỉan đến phức
tạp.
Chính vì vậy, việc chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy toán có lời văn ở
cấp Tiểu học nói chung và ở lớp năm nói riêng là một việc rất cần thiết mà
mỗi giáo viên cần phải thực hiện để nâng cao chất lượng dạy học toán cho học
sinh lớp mình .
II.. Thực trạng của việc dạy – học giải toán có lời văn ở lớp năm .
Qua nhiều năm quản lí, điều hành hoạt động chuyên môn ở khối lớp
năm, tôi đã tích cực nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa, dự giờ
về dạy – học toán có lời văn ở lớp năm nhận thấy như sau :
Môn Toán là môn học khó, học sinh dễ chán. Trình độ nhận thức học sinh
không đồng đều. Một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài
toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán dẫn tới
thường nhầm lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát
vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính. Kĩ năng tính
nhẩm với các phép tính (hàng ngang) và kĩ năng thực hành diễn đạt bằng lời
còn hạn chế. Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài máy móc
nên còn chóng quên các dạng bài toán hợp vì thế dẫn đến học sinh còn nhiều
hạn chế trong học tập đặc biệt là giải toán có lời văn .
Vì vậy qua kiểm tra chất lượng học kỳ I ( năm học : 2015 – 2016 ) vào
thời điểm tháng 12/2015, chất lượng về giải bài toán có lời văn ở lớp năm đạt
kết quả như sau:
làm được bài
phép tính
TL% TL%
3
9,4
4
TL%
12,5
TL%
59,4
về giải lý
SL
SL
6
18,8
Năm
32
SL
19
SL
5
15,6
4
12,5
4
12,5
3
Tổng
98
58
59,2
16
16.3
11
11,22
13
Tuy đa số giáo viên lớp năm đều tâm huyết với nghề, luôn tìm tòi, học
hỏi để nâng cao tay nghề song vẫn còn giáo viên mới ra trường vài năm kinh
nghiệm giảng dạy mạch kiến thức này chưa nhiều, sự đầu tư thời gian để
nghiên cứu và tìm hiểu sách giáo khoa, sách tham khảo cũng như việc vận
dụng phương pháp lấy học sinh làm trung tâm giáo viên còn lúng túng, chưa
để học sinh tự phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề. Vì vậy, hiệu quả giờ dạy
trên lớp chưa cao ( khảo sát qua dự giờ lớp năm 1, năm 2, năm 3).
Với thực trạng trên, việc dạy- học giải toán có lời văn ở trường chúng tôi
được cần được đặt ra để giáo viên cùng nghiên cứu và trao đổi về phương
pháp dạy học để đạt được hiệu quả cao nhất. Và chính vì thế, là người quản lí,
Tôi đã mạnh dạn đưa ra một số nội dung và biện pháp chỉ đạo về dạy- học
giải toán có lời văn ở lớp năm theo phương pháp dạy- học tích cực .
III. Nội dung cần giải quyết
1. Việc nắm chắc nội dung trọng tâm giải toán có lời văn ở lớp năm theo
chuẩn kiến thức kĩ năng .
2/ Việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy – học môn toán nói chung và
dạy – học giải toán có lời văn ở lớp năm nói riêng.
3/ Nắm vững nội dung dạy-học giải toán có lời văn .
4/ Hướng dẫn cách giải và trình bày bài giải các dạng toán có lời văn ở
lớp năm.
5/ Hướng dẫn GV lập kế hoạch bài dạy dạng giải toán có lời văn.
6/ Thực hiện các hình thức tổ chức dạy học giải toán có lời văn theo
hướng tích cực hóa học sinh .
IV. Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy-học giải toán có lời văn ở lớp năm .
Trong các kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học thì một trong kiến
thức "Giải toán" là kiến thức khó khăn nhất đối với học sinh. Thực tế hiện nay
cho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải toán. Một số em chưa biết tóm tắt
bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra đường lối giải, chưa biết tổng
Người thực hiện : Phạm Như An
giải toán có lời văn nói riêng. Nhằm tạo điều kiện cho giáo viên khối năm có
cơ hội cùng trao đổi giao lưu với nhau, Tôi đã tổ chức một số hoạt động như
: sinh hoạt chuyên đề: Dạy học toán có lời văn theo phương pháp tích cực
được tham gia tập huấn ở SGD năm 2012, hội thi tìm hiểu kiến thức về môn
Toán( bài trắc nghiệm), giao lưu giáo viên khác khối lớp.
2/ Việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy – học môn toán nói chung và
dạy – học giải toán có lời văn ở lớp năm nói riêng.
Người thực hiện : Phạm Như An
Trang
10
Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy - học giải toán có lời văn ở lớp năm .
2.1. Các phương pháp dạy - học truyền thống .
Việc nắm nội dung về giải toán có lời văn chính là nền tảng để giúp giáo
viên định hướng được phưong pháp dạy học toán ở Tiểu học mà trong đó có
phương pháp dạy-học giải toán có lời văn .Tùy theo nội dung, tính chất của
từng bài, giáo viên có thể lựa chọn phương pháp dạy - học cho phù hợp trình
độ với từng đối tượng học sinh của lớp. Vì vậy, giáo viên cần nắm vững đặc
điểm của các phương pháp dạy-học truyền thống thường được sử dụng trong
dạy học toán ở tiểu học hiện nay, cụ thể như sau :
a. Phương pháp trực quan :
Khi dạy phương pháp này, Giáo viên cần lưu ý :
+ Phương pháp trực quan tuy có tầm quan trọng đối với trẻ trong việc học
tập môn Toán nhưng không lạm dụng. Không sử dụng ĐDTQ khi biết chắc
rằng HS đã có thể dựa vào suy nghĩ để giải quyết vấn đề đặt ra.
+ Đồ dùng trực quan phải phong phú , đa dạng dễ sử dụng, dễ thao tác, dễ
Khi đưa ra câu hỏi , giáo viên phải đưa ra đáp án ( dự kiến trước)
+ GV không đưa ra những câu hỏi học sinh chỉ cần trả lời : có , không,
đúng, sai. Ví dụ : 2giờ15 phút cộng 3 giờ bằng 5giờ 15phút đúng không ?
Ngoài ra, khi sử dụng phương pháp này, Giáo viên phải đưa ra câu hỏi trước
cho học sinh suy nghĩ rồi mới yêu cầu học sinh trả lời. Đồng thời giáo viên cần
giải quyết bình đẳng và triệt để ở các tình huống đúng, tình huống sai vì sau
một phép tính có nhiều kết quả .
c. Phương pháp giảng giải-minh họa .
Đây là một phương pháp dễ làm cho học sinh thụ động, không tích cực nên
giáo viên hạn chế dùng phương pháp này. Giáo viên chỉ sử dụng khi cần thiết.
Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần chú ý :
+ Phải chuẩn bị cách giảng giải thật đơn giản , ngắn gọn.
+ Khi cần mới dùng phương pháp này như tổ chức học cá nhân, nhóm HS
có nhu cầu hoặc phát hiện có vấn đề cả lớp chưa giải quyết được.
+ Lời nói của giáo viên cần mạch lạc, rõ ràng, dễ hiểu , không giảng giải
quá 5 phút.
d. Phương pháp luyện tập thực hành .
Đây là phương pháp được sử dụng thường xuyên vì hoạt động thực hành
trong môn Toán ở tiểu học chiếm đến 70% tổng số thời gian học toán. Cho nên
khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần:
+ Phải có sự chuẩn bị chu đáo cho việc thực hành và trước khi thực hành
có thể cho học sinh nhắc lại lý thuyết .
Người thực hiện : Phạm Như An
Trang
12
Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy - học giải toán có lời văn ở lớp năm .
Người thực hiện : Phạm Như An
Trang
13
Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy - học giải toán có lời văn ở lớp năm .
Để giúp HS giải quyết vấn đề này, GV nên làm thế nào để mất dấu
phẩy ? GV phải gợi ý cho HS : chuyển đơn vị từ m
cm hoặc đưa về phân
số thập phân : 19,2 = 192/10
Để thực hiện tốt việc dạy-học đặt và giải quyết vấn đề, người GV phải
tạo những tình huống có vấn đề. Dưới đây là các cách để GV có thể tạo ra tình
huống có vấn đề :
+ Dự đoán nhờ nhận xét trực quan, đo , thực nghiệm.
+ Lật ngược vấn đề
+Khái quát hóa
+ Tìm sai lầm trong lời giải
+ Phát hiện nguyên nhân sai lầm và sửa chữa sai lầm.
Vì vậy, hoạt động của giáo viên trong dạy-học thường được tiến hành 4
bước sau :
Bước 1: GV đưa ra tình huống có vấn đề để HS sau khi tìm hiểu sẽ
phát hiện ra vấn đề hoặc GV trực tiếp đưa ra vấn đề .
Bước 2: GV hướng dẫn học sinh tìm cách giải quyết vấn đề như : phân
tích vấn đề, so sánh, tương tự, khái quát hóa; suy ngược, suy xuối; xét các mối
quan hệ
các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tử sản sinh được kiến
thức, chủ động đạt các mục tiêu học tập. Trên lớp, học sinh hoạt động là chính.
Cho nên khi soạn giáo án, giáo viên cần phải đầu tư công sức thời gian rất
nhiều so với kiểu dạy học thụ động thì giờ dạy mới đạt hiệu quả cao.
Trong dạy-học Toán ở Tiểu học, khi xem xét một hoạt động dạy-học
Toán có phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh ( Tức là dạy –
học theo PPTC) hay không, chúng ta có thể căn cứ vào 3 tiêu chí sau :
Mọi học sinh đều được tham gia hoạt động học tập.
Sau các hoạt động học tập, tự học sinh sản sinh ra kiến thức, kĩ năng
cần học.
Học sinh được học tập trong bầu không khí thoải mái vui vẻ, thân
thiện .
Do đó, Tôi thường xuyên nhắc nhở giáo viên lấy 3 tiêu chí trên để
đánh giá tiết dạy ở trên lớp. Nếu GV nào dạy đảm bảo được 3 tiêu chí đó thì
tiết dạy mới có hiệu quả tốt.
3/ Nắm vững nội dung dạy-học giải toán có lời văn .
Mục tiêu của việc dạy-học giải toán có lời văn ở Tiểu học là hình thành và
phát triển tư duy lôgic ở học sinh . Để đạt được mục tiêu này, giáo viên phải
biết lựa chọn và vận dụng phương pháp dạy-học sao cho phù hợp với nội dung
Người thực hiện : Phạm Như An
Trang
15
Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy - học giải toán có lời văn ở lớp năm .
Người thực hiện : Phạm Như An
Trang
16
Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy - học giải toán có lời văn ở lớp năm .
Mỗi lớp đều có nội dung chương trình giải toán có lời văn và yêu cầu cần
đạt theo chuẩn kiến thức kĩ năng khác nhau
Ví dụ: ( Bài 3 trang 50 SGK- Lớp 5)
Bài toán: Nam cân nặng 32,6kg. Tiến cân nặng hơn Nam 4,8kg. Hỏi
Tiến cân nặng bao nhiêu ki-lô-gam?
- Trước hết cho học sinh đọc kĩ đề và xác định phần cho là 32,6kg và
nặng hơn 4,8kg
- Hướng dẫn HS phân tích đề thông qua hệ thống câu hỏi. Sau đó, Giáo
viên cho 1 học sinh ghi tóm tắt:
Nam nặng : 32,6kg
Tiến nặng hơn Nam : 4,8kg
Tiến nặng: ……kg?
- HS tự suy nghĩ và ghi bài giải
Bài giải
Tiến cân nặng :
32,6 + 4,8 = 37,4 ( kg)
Đáp số: 37,4kg
- Giáo viên tiến hành kiểm tra bài giải của HS và đánh giá bài giải của cá
nhân, toàn lớp và hướng dẫn các em điều chỉnh bài sai cho hoàn thiện.
Tôi nhận thấy: Giáo viên hướng dẫn học sinh giải tốt các bài toán đơn ( có
một phép tính) thì các em sẽ có sự tự tin hơn khi sang dạng giải bài toán hợp
Bước 5 :Đánh giá
Phần này không chỉ đơn thuần là kiểm tra kết quả phép tính , đáp số mà
đánh giá ở đây là nhắm đến phát triển tư duy của trẻ .
Nhằm thực hiện tốt việc dạy-học giải toán hợp trong nhà trường,Tôi xin
minh họa bằng một số ví dụ sau :
* Bài toán hợp có 2 phép tính
Ví dụ 1: Bài 3 trang 51-SGK
Bài toán : Một hình chữ nhật có chiều rộng 16,34m và chiều dài hơn
chiều rộng 8,32m. Tính chu vi hình chữ nhật đó.
Đây dạng bài toán hợp về yếu tố hình học đã học ở lớp ba nhưng để vận
dụng PP tích cực, GV cần hướng dẫn HS thực hiện các bước sau :
Bước 1 : Học sinh đọc đề bài toán , xác định phần đã cho , phần hỏi bằng
cách gạch đưới từ trọng tâm
Bài toán : Một hình chữ nhật có chiều rộng 16,34m và chiều dài hơn
chiều rộng 8,32 m. Tính chu vi hình chữ nhật đó.
Người thực hiện : Phạm Như An
Trang
18
Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy - học giải toán có lời văn ở lớp năm .
Bước 2: Học sinh tóm tắt đề bài
a:
P ?
8,32m
+
Chiềurộng
Người
thựcrộng
hiện : Phạm Như An
Rộng
+
?
Chiều rộng
Trang
19
Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy - học giải toán có lời văn ở lớp năm .
Trên cơ sở sơ đồ cây, HS biết cách giải và trình bày bài giải .
Bước 4 : HS ghi
Bài giải
Chiều dài hình chữ nhật
16,34 + 8,32 = 24,66 (m)
Chu vi hình chữ nhật
( 24,66 + 16,34) x 2 = 82 (m)
Đáp số: 82 m
Bước 5 : Đánh giá
Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy - học giải toán có lời văn ở lớp năm .
100 m2 thu
: 64,5kg thóc
Cả thửa ruộng thu : ……………kg?
Bước 3: Hướng dẫn học sinh tìm cách giải
Bước này giáo viên cần giúp học sinh hiểu: muốn tính được số thóc cả
thửa ruộng thu được thì phải biết gì? ( diện tích cả thửa ruộng). Muốn biết diện
tích của thửa ruộng, ta phải biết gì? ( đáy lớn, đáy bé, chiều cao) . Đến đây, học
sinh đi tìm độ dài của từng kích thước hình thang dựa vào các điều kiện bài
toán cho và thực hiện bài toán đơn như đã học. Để giúp học sinh nhìn tổng quát
về cách giải bài toán này, giáo viên cần thực hiện vẽ sơ đồ cây :
Số kg thóc cả thửa ruộng thu được
Diện tích thửa ruộng
Đáy
lớn
Đáybé
?
?
Người thực hiện : Phạm Như An
Trang
21
Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy - học giải toán có lời văn ở lớp năm .
Chiều cao thửa ruộng
80 - 5 = 75 (m)
Diện tích thửa ruộng
( 120 +80) x 75 : 2 = 7500 (m 2)
Số kg thóc 1 m 2 thu được
64,5 : 100 = 0,645(kg)
Số thóc cả thửa ruộng thu hoạch được
0,645 x 7500 = 4837,5( kg)
Đáp số: 4837,5 kg
Tóm lại : Bài toán hợp là sự tổng hợp của bài toán đơn nên giáo viên
cần hướng dẫn HS cách giải đúng quy trình và dùng con đường phân tích để
tìm cách giải và dùng con đường tổng hợp để trình bày bài giải. Đây là
phương pháp dạy-học tích cực nhằm phát triển khả năng tư duy cho học
sinh .
5/ Hướng dẫn GV lập kế hoạch bài dạy dạng giải toán có lời văn
Lập kế hoạch bài dạy chính là lập một kế hoạch tổ chức hướng dẫn học
sinh hoạt động nhằm đạt được mục tiêu dạy học một bài học cụ thể. Vì vậy kế
hoạch bài học cần ngắn gọn, thể hiện rõ, đầy đủ các hoạt động dạy học cụ thể,
để đạt được điều đó giáo viên cần tuân thủ những yêu cầu sau:
- Đọc, nghiên cứu kĩ và hiểu được dụng ý của sách giáo khoa muốn làm
- Nhằm đạt mục tiêu : ………( ví dụ : đạt mục tiêu 1)
- Hoạt động dạy : ………. Ví dụ : Quan sát )
- Hình thức tổ chức : ( Ví dụ : Nhóm đôi )
Hoạt động của GV
Hoạt động của HS
Chỉ ghi câu lệnh và câu hỏi
Ví dụ :
Trả lời : 5 giờ 15 phút
Hỏi : 2giờ15phút cộng 3giờ bằng bao
nhiêu?
Sau khi đạt mục tiêu 1 , GV sẽ chuyển sang hoạt động kế tiếp
Hoạt động 2 :
- Nhằm đạt mục tiêu : ………( ví dụ : đạt mục tiêu 2,3)
- Hoạt động dạy : ………. Ví dụ : luyện tập – thực hành )
- Hình thức tổ chức : ( Ví dụ : cá nhân – cả lớp )
………
III. Chuẩn bị : ( nếu cần )
Bước này cần ghi rõ khâu chuẩn bị của GV , của HS
Giáo viên cần lưu ý :
Trước khi tổ chức hoạt động 2, GV phải tự vấn : HĐ1 đã được xem là
dạy học tích cực chưa, Cụ thể :
- HS có tham gia hoạt động không ? có tự sản sinh kiến thức chưa ?
- Không khí giờ học có thoải mái, thân thiện hay nặng nề .
* Tóm lại : Nếu kế hoạch bài dạy được giáo viên chuẩn bị chu đáo thì giờ
dạy trên lớp sẽ đạt hiệu quả cao .
6/ Thực hiện các hình thức tổ chức dạy học giải toán có lời văn theo
hướng tích cực hóa học sinh .
Người thực hiện : Phạm Như An
HS như : học cá nhân , học theo nhóm, trò chơi học tập v,v…..
Nhằm chỉ đạo tốt việc dạy – học giải toán có lởi văn ở lớp năm, Tôi
còn thực hiện một số biện pháp sau :
Tổ chức dạy thao giảng trong khối theo chuyên đề : Dạy –học giải
toán có lời văn ở Tiểu học (chủ yếu là lớp 5) cho đội ngũ giáo viên.
Tham gia dự giờ ở các trường và về trao đổi thêm với giáo viên lớp
năm để rút kinh nghiệm.
Tham gia sinh hoạt chuyên môn với khối để có biện pháp chỉ đạo
kịp thời về công tác dạy và học nhất là thời điểm sau kiểm tra định kì đối
với môn Toán.
Tổ chức thao – hội giảng về môn Toán để rút kinh nghiệm và có
biện pháp chỉ đạo kịp thời về phương pháp dạy - học giải toán có lời văn
đối với giáo viên để đạt được hiệu quả cao nhất góp phần nâng cao chất
lượng môn Toán ở trường .
Có kế hoạch dự giờ môn Toán nhiều hơn so với môn khác.
IV. Kết quả chuyển biến .
Người thực hiện : Phạm Như An
Trang
24
Một số biện pháp chỉ đạo việc dạy - học giải toán có lời văn ở lớp năm .
Qua thời gian thực hiện các nội dung và biện pháp chỉ đạo việc dạy-học
giải toán có lời văn ở nhà trường, chúng tôi thấy chất lượng giảng dạy của
giáo viên và kết quả học tập của học sinh được nâng lên. Phần lớn các em học
32
34
98
SL
32
32
33
97
TL%
100
100
97,1
99,0
giải lý
SL
TL%
0
0
0
0
1
2,9
1
1,02
SL
0
học
môn học
SL
32
%
100
SL
0
%
0
Trang
25