Chuyên đề tốt nghiệp
2
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả các thầy cô trong suốt thời
gian bốn năm Đại học vừa qua đã luôn luôn nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt những
kiến thức của các môn học cũng như kinh nghiệm sống đến với em. Từ những kiến
thức và kinh nghiệm đã được học, hôm nay với một sinh viên Đại học năm thứ tư
được trang bị những kiến thức và kinh nghiệm sống của các thầy cô đã giúp em
trưởng thành lên rất nhiều. Đó sẽ là hành trang hết sức hữu ích và hiệu quả để giúp
em có thể thành công trong sự nghiệp và cuộc sống sau này.
Tiếp đến em xin gửi lời cảm ơn đến cô, là giáo viên hướng dẫn thực tập cho em.
Với sự hướng dẫn khoa học, tận tình trong suốt thời gian thực tập vừa qua, đã giúp
em hoàn thành chuyên đề một cách hết sức thuận lợi.
Em xin cảm ơn Ban lãnh đạo cùng toàn thể các cán bộ trong Công ty TNHH
Một thành viên Xuất nhập khẩu 2/9 ĐăkLăk, trong quá trình thực tập tại công ty đã
giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề và học hỏi được nhiều kinh nghiệm làm việc.
Trong thời gian thực tập và hoàn thành chuyên đề không tránh khỏi những thiếu
sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để chuyên đề ngày càng hoàn
thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn
Chuyên đề tốt nghiệp
3
MỤC LỤC
ngành luật, chuyên ngành luật kinh doanh, kiến thức học được ở trường, trên sách
vở là cơ sở, nền tảng cho sinh viên, song thực tế áp dụng vẫn là những điều mới mẻ
và đa dạng. Chính vì vậy, thực tập có một vai trò quan trọng đó là: giúp cho sinh
viên có cái nhìn thực tế hơn về các vấn đề đã được tiếp thu trong quá trình học tập.
Đối với sinh viên chuyên ngành luật kinh doanh, thực tập giúp sinh viên có điều
kiện tiếp cận thực tế, vận dụng những kiến thức đã được trang bị trong nhà trường
vào thực tiễn, củng cố những kiến thức đã học, đi sâu tìm hiểu và nắm bắt cách thức
tổ chức hoạt động trong doanh nghiệp cụ thể. Từ đó, sinh viên có một cái nhìn tổng
thể, toàn diện cả trên khía cạnh lý luận và khía cạnh thực tiễn áp dụng. Bên cạnh đó,
sinh viên còn được học hỏi, rèn luyện phong cách làm việc, ứng xử trong các mối
quan hệ tại cơ quan giúp cho sinh viên hội nhập môi trường làm việc doanh nghiệp
tốt hơn sau khi ra trường và đi làm. Chính vì vậy, em nhận thấy, quá trình thực tập
của em tại Công ty TNHH một thành viên Xuất nhập khẩu 2-9 Đắk Lắk (Simexco
Daklak) là một cơ hội tốt cho em nâng cao tầm hiểu biết và có thêm những kinh
nghiệm thực tế quý báu làm hành trang cho mình sau khi ra trường. Qua quá trình
thực tập, Chuyên đề thực tập tốt nghiệp này của em chính là sự đúc kết những trải
nghiệm, những điều đã thấy, đã tìm hiểu, thu thập và học hỏi được trong quá trình
tiếp xúc với thực tiễn hoạt động tại doanh nghiệp giúp cho em có được cảm quan
toàn diện về kiến thức đã học và thực tiễn áp dụng.
Thuế là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn
tài chính quốc gia hình thành quỹ Ngân sách nhà nước nhằm điều tiết các hoạt động
kinh tế - xã hội. Theo hình thức thu sẽ gồm hai loại là thuế trực thu và thuế gián
thu.Trong đó thuế gián thu là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế không
cùng là một, người nộp thuế có thể chuyển dịch số thuế phải nộp sang cho người mua
hàng hóa và dịch vụ bằng cách cộng số thuế vào giá bán hàng hóa và dịch vụ. Do đó,
người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ.
So với thuế trực thu thì thuế gián thu dễ thu hơn vì tránh được quan hệ giữa
người chịu thuế với cơ quan thuế đồng thời dễ điều chỉnh tăng hơn thuế trực thu vì
người chịu thuế không cảm nhận đầy đủ gánh nặng của các loại thuế này. Tuy nhiên
thuế gián thu mang tính luỹ thoái vì đánh như nhau trên cùng một loại hàng hóa và
khẩu 2-9 Đăk Lăk.
Do sự hạn chế về kiến thức và thời gian thực tập ngắn nên trong quá trình
hoàn thành chuyên đề em không tránh khỏi những sai sót. Em mong nhận được sự
góp ý của các thầy, các cô và của các cô chú, anh chị tại nơi thực tập để em có kết
tốt hơn trong những bài viết sau.
Em mong rằng những giải pháp mà em đưa ra sẽ giúp công ty TNHH
một thành viên Xuất nhập khẩu 2-9 Đăk Lăk hoạt động có hiệu quả cao hơn.
Chuyên đề tốt nghiệp
7
CHƯƠNG I
PHÁP LUẬT VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU
I. KHÁI NIỆM THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU:
1. Khái niệm:
Pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là danh từ dùng để chỉ tập hợp các
quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp sinh
trong quá trình đăng ký ,kê khai,nộp thuế, tính thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế,
miễn giảm thuế và xử lý các vi phạm , tranh chấp về thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu, phát sinh giữa Nhà nước và người nộp thuế.
Xét từ phương diện hình thức, pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao
gồm các văn bản quy phạm pháp luật như văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội,
nghị định và nghị quyết của Chính phủ; quyết định và chỉ thị của Thủ tướng Chinh
phủ; quyết định,chỉ thị và thông tư của các bộ...Còn xét về phương diện nội dung
pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu lại bao gồm những vấn đề sau : phạm
vi áp dụng ( được thể hiện thông qua các quy định về chủ thể nộp thuế và đối tượng
chịu thuế, đối tượng không chịu thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu); căn cứ tính thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thủ tục thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; chế độ miễn
hàng hoá là nhu yếu phẩm cần thiết cho quân đội và nhân dân. Phương châm đấu
tranh kinh tế với địch là đẩy mạnh xuất khẩu, tranh thủ nhập khẩu các loại hàng hoá
cần thiết cho kháng chiến, sản xuất và đời sống nhân dân. Do đó, nhà nước miễn
thuế xuất khẩu cho tất cả các loại hàng hoá của vùng tự do. Mặt khác, hạn chế nhập
khẩu hàng hoá từ vùng địch. Thuế suất áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu là từ 30
% trở lên.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch được Quốc hội nước ta
ban hành ngày 29 -12 -1987. Ðạo luật này chỉ điều chỉnh quan hệ thu nộp thuế phát
sinh từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng mậu dịch. Do đó có sự phân biệt trong áp
dụng chế độ thu thuế giữa hàng hoá mậu dịch với các loại hàng hoá phi mậu dịch khác.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1998 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã được Quốc hội thông qua ngày 26 -12
-1991 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
đã được Quốc hội thông qua ngày 5 -7- 1993. Luật này được Quốc hội thông qua
ngày 20 -5-1998 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 -1- 1999.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 được thông qua vào ngày
14- 6-2005 có hiệu lực từ ngày 1/1/2006. Luật này thay thế cho Luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu 1998, được đánh giá là hoàn chỉnh nhất so với các luật trước
và đã đáp ứng được yêu cầu khi Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành có phạm vi điều chỉnh rộng
hơn so với Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng hoá mậu dịch ban hành năm
1987. Theo đó, Nhà nước thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu không phân biệt tính
chất hàng hoá là xuất khẩu, nhập khẩu mậu dịch hay phi mậu dịch.
Ðối tượng điều chỉnh của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là quan hệ
thu nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giữa nhà nước với các tổ chức và cá nhân
Chuyên đề tốt nghiệp
9
được sự ủng hộ của nhiều người. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cấu thành trong
giá cả hàng hoá, làm tăng giá hàng hoá, do đó có tác dụng điều tiết xuất khẩu, nhập
khẩu và hướng dẫn tiêu dùng; bởi vì lượng hàng hoá xuất khẩu hay nhập khẩu phụ
thuộc vào sức tiêu thụ hàng hoá, yếu tố này lại phụ thuộc vào giá cả. Giá cả hàng
Chuyên đề tốt nghiệp
10
hoá cao hay thấp sẽ quyết định việc giảm hoặc tăng sức cạnh tranh của hàng hoá đó
trên thị trường. Thông qua thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhà nước điều tiết việc
xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá . Hơn nữa, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sẽ hạn
chế việc tiêu dùng hàng hoá xa xỉ hoặc các loại hàng hoá không được khuyến khích
sử dụng như thuốc lá, rượu, bia…
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác dụng bảo hộ nền sản xuất trong nước.
Việc đánh thuế cao vào hàng hoá nhập khẩu sẽ giúp các nhà sảnxuất trong nước có
thể cạnh tranh được với hàng hoá nhập khẩu. Ðặc biệt thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu giúp cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các ngành còn non trẻ trong
nước có thời gian trưởng thành và sinh lời để từ đó có thể cạnh tranh với hàng hoá
nhập khẩu. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác dụng giảm bớt nạn thất nghiệp vì
việc đánh thuế nhập khẩu cao thì hàng hoá nhập khẩu sẽ giảm; để bù vào lượng
hàng hoá nhập khẩu đó nhà nước ta phải mở rộng đầu tư, phát triển sản xuất, tạo ra
nhiều công ăn việc làm cho người lao động từ đó góp phần giải quyết nạn thất
nghiệp trong nước. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ để nhà nước thực
hiện chính sách phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại đối với các nước
Chẳng hạn Mỹ đòi EU phải giảm từ 30 – 50% trợ cấp cho nông nghiệp, nếu
không Mỹ sẽ tăng mức thuế đánh vào hàng hoá nông sản của EU nhập khẩu vào thị
trường Mỹ.
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngọai
trong chương (nhóm thứ 2 cuả chương).
- Mỗi phân nhóm hàng trong nhóm được xác định bằng 6 chử số. Có hai cách phân
loại và mã hiệu cho các phân nhóm hàng, gọi l;à phân nhóm cấp 1 và phân nhóm cấp 2.
- Một số nhóm hàng không được phân chia thành nhiều phân nhóm hàng khác
nhau thì sẽ được thêm hai chử số 00 vào sau cùng.
- Một số phân nhóm hàng trong biểu thuế được phân chia tiếp thành nhiều mặt
hàng khác nhau. Mỗi mặt hàng trong phân nhóm được xác định bằng 8 chử số.
- Tuy nhiên cũng có một số trường hợp các phân nhóm hàng được phân chia
tiếp thành nhiều mặt hàng khác nhau nhưng không xác định mã số cho chúng.
Theo cách sắp xếp danh mục và mã số cuả nhóm hàng, phân nhóm hàng, mặt
hàng nói trên thì biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành được phân thành 3
cột, trong đó:
- Cột thứ nhất là cột mã số của nhóm hàng, phân nhóm hàng và mặt hàng.
- Cột thứ hai là cột mô tả tên nhóm hàng, phân nhóm hàng và mặt hàng.
- Cột thứ 3 là cột quy định mức thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cho
nhóm hàng; hoặc cho phân nhóm hàng; hoặc cho mặt hàng. Do đó khi tra cứu mã số
và mức thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cuả một mặt hàng cụ thể nào đó
cần xem nhóm hàng và mặt hàng này nằm trong đó được chia chi tiết đến mức độ
nào: Nhóm , phân nhóm cấp 1, phân nhóm cấp 2 hay mặt hàng để xác định chính
xác mức thuế cuả mặt hàng này trong biểu thuế.
Chuyên đề tốt nghiệp
12
II. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THUẾ XUẤT
NHẬP KHẨU:
1.Lịch sử luật thuế xuất nhập khẩu qua các lần ban hành:
1.1.Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch 1987:
Chuyên đề tốt nghiệp
13
thường, còn thuế suất ưu đãi là thuế suất áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập
khẩu đối với các nước có ký kết điều khoản ưu đãi trong quan hệ mua bán với Việt
nam và những trường hợp khác do Hội đồng Bộ trưởng quyết định (Ví dụ trường
hợp không có ký kết nhưng Chính phủ ta đơn phương cho một nước nào đó được
hưởng mức thuế ưu đãi này trong quan hệ buôn bán với ta). Theo Nghị định số 110HĐBT ngày 31/3/1992 thì thuế suất ưu đãi được áp dụng thống nhất bằng 70% thuế
suất thông thường ghi trong biểu thuế. Các trường hợp áp dụng thuế suất ưu đãi
khác với quy định trên sẽ do Hội đồng Bộ trưởng quyết định cụ thể theo đề nghị của
Bộ Tài chính và các Bộ có liên quan.
1.3. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1993:
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1993 không có những thay đổi lớn về mặt
chính sách mà chỉ có những sửa đổi bổ sung một số điều.
1.4. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1998:
Việc áp dụng Luật thuế giá trị gia tăng (bắt đầu từ 1/1/1999) cả đối với hàng
nhập khẩu đòi hỏi Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (thuế XNK) phải được sửa
đổi, bổ sung để bảo đảm tính đồng bộ trong các chính sách thuế áp dụng đối với
hàng nhập khẩu, không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các
doanh nghiệp. Đồng thời phải phát huy tác dụng của thuế xuất khẩu, nhập khẩu
khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu, bảo hộ hợp lý
sản xuất trong nước theo tinh thần bảo hộ có chọn lọc, có điều kiện, có thời hạn,
phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế.
Mặt khác, Việt nam đã là thành viên của ASEAN, tham gia vào khu vực mậu
dịch tự do của ASEAN (AFTA), đã ký Hiệp định thương mại với Liên hiệp Châu
âu, chuẩn bị trở thành thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình
Dương (APEC) và chuẩn bị điều kiện gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
(WTO)- Hoàn cảnh đó đòi hỏi Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu của ta phải có những
nước xuất khẩu, gây khó khăn cho sự phát triển ngành sản xuất hàng hoá tương tự
của Việt nam;
+ Có xuất xứ từ nước có sự phân biệt đối xử về thuế nhập khẩu hoặc có những
biện pháp phân biệt đôí xử khác đối với hàng hoá của Việt nam.
- Luật sửa đổi, bổ sung về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn quy định thêm
một số nguyên tắc, thẩm quyền của cơ quan thuế về kiểm tra, truy thu thuế xuất
khẩu, nhập khẩu nếu phát hiện có sự khai man, trốn thuế hoặc nhầm lẫn trong việc
tính thuế để có căn cứ pháp lý giải quyết trường hợp sau khi thu, nộp thuế xong mới
phát hiện khai man, trốn thuế, nhầm lẫn về thuế, một vướng mắc thường phát sinh
vì chưa có qui định rõ ràng, đầy đủ trong Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu trước
đây.
1.5. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005:
Một trong những nội dung quan trọng nằm trong dự án sửa đổi lần này là về
thời hạn nộp thuế. Tại Khoản 3, Điều 17 của Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu hiện
hành quy định cho phép doanh nghiệp được hưởng một thời gian ân hạn thuế nhất
Chuyên đề tốt nghiệp
15
định là 15 ngày, 30 ngày hoặc 275 ngày sau khi xuất, nhập khẩu hàng hóa, tùy theo
tính chất vào loại hình xuất, nhập khẩu. Chỉ riêng đối với loại hàng tiêu dùng nhập
khẩu thì phải nộp xong thuế trước khi nhận hàng. Các quy định trên đã có tác dụng
tích cực, giảm bớt khó khăn về vốn, giúp các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất nhập
khẩu và phát triển sản xuất, kinh doanh.
Đối với quy định về thông báo thuế, dự án Luật sửa đổi đề nghị bỏ thông báo
thuế, thay vào đó đối tượng nộp thuế sẽ thực hiện nghĩa vụ thuế của mình trên cơ sở
căn cứ vào tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Theo hướng này, thời điểm tính
thuế là thời điểm đối tượng nộp thuế đăng ký tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập
lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư; Danh mục các nhóm trang thiết bị chỉ được
miễn thuế Nhập khẩu một lần.
Luật thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu hiện hành quy định việc miễn thuế nhập
khẩu đối với đầu tư nước ngoài theo Danh mục lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư tại
các Phụ lục hành kèm theo Nghị định (NĐ) số 35/2002/NĐ-CP ngày 29-3-2002 của
Chính phủ. Nhiều ý kiến cho rằng, quy định về miễn thuế NK được áp dụng theo
các Danh mục lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của Luật đầu tư
chung (đã được Quốc hội thông qua vào kỳ họp thứ 8 vừa qua) là phương án tối ưu
nhất. Tuy nhiên, Luật đầu tư chung lại có hiệu lực thi hành kể từ sau ngày 1-7-2006,
vì vậy, Bộ Tài chính đã chủ động dự thảo các Phụ lục về Danh mục lĩnh vực và địa
bàn ưu đãi đầu tư để ban hành kèm theo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế Xuất
khẩu, thuế Nhập khẩu sửa đổi. Và sau này khi Luật Đầu tư chung có hiệu lực, việc
ban hành các Phụ lục mới cần được nghiên cứu để khớp các Phụ lục về một đầu
mối. Việc xây dựng các Phụ lục về Danh mục lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư hiện
tại có 2 loại ý kiến: Phần lớn ý kiến cho rằng việc xây dựng các Phụ lục trên nên
dựa theo tinh thần của Luật mới tức là lấy mức ưu đãi cao nhất của Luật đầu tư.
nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước, do đó các Phụ lục nêu trên sẽ
được tổng hợp dựa trên các Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 24, Nghị định
số 27 (Đầu tư nước ngoài) và Nghị định số 35 (Đầu tư trong nước) theo hướng lấy
quy định cao nhất hoặc rộng hơn tại các Phụ lục, vì vậy chủ yếu sẽ dựa trên nền
tảng là Nghị định 24 và Nghị định 27, bởi vì quy định tại 2 Nghị định này rộng mở
hơn so với Nghị định 35.
Một số ý kiến khác cho rằng có thể dựa trên nền tảng là các Phụ lục ban hành
kèm theo Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo ý kiến này, điểm thuận lợi
là có thể sử dụng được ngay bởi vì các Phụ lục này đã được xây dựng để áp dụng
thống nhất cho cả đầu tư trong nước và tư nước ngoài. Tuy nhiên, về bản chất giữa
thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu có những điểm
khác nhau, do vậy nếu sử dụng các Phụ lục này để áp dụng cho thuế Xuất khẩu,
các Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31-7-2000, NĐ
số 27/2003/NĐ-CP ngày 19-3-2003 của Chính phủ; việc miễn thuế nhập khẩu đối
với đầu tư trong nước theo Danh mục lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư tại các Phụ
lục ban hành.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện nay được đánh giá là hoàn chỉnh
nhất và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Nó được ví như
đòn bẩy cho hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh
tế quốc tế hiện nay.
2.Sự cần thiết sửa đổi luật thuế xuất nhập khẩu:
Có 4 mục tiêu cơ bản gồm: thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế theo hướng ổn định công khai minh bạch, không phân biệt đối xử giữa các
thành phần kinh tế; đảm bảo phù hợp với tiến trình cải cách đồng bộ hệ thống chính
sách thuế; khuyến khích phát triển sản xuất và xuất khẩu, và ổn định nguồn thu cho
ngân sách Nhà nước.
Chuyên đề tốt nghiệp
18
Luật được ban hành từ năm 1991, một số quy định chưa phù hợp với với nội
dung cam kết trong đàm phán quốc tế mà chúng ta đang thực hiện. Luật sửa đổi bổ
sung đảm bảo được tính minh bạch, đồng bộ và đề cao được vai trò quản lý của Nhà
nước trong chống gian lận thương mại, chống thất thu thuế, đồng thời tạo điều kiện
thuận lợi cho Việt Nam khi gia nhập WTO.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (cũ) ban hành năm 1991, có hiệu lực thi
hành từ năm 1992. Qua 13 năm thực hiện, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã
phát huy mặt tích cực, đạt được nhiều kết quả quan trọng: góp phần bảo hộ và thúc
đẩy sản xuất trong nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo đảm nguồn
thu quan trọng trong ngân sách nhà nước; góp phần thực hiện có kết quả đường lối
Ba là, có những quy định trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành
chưa phù hợp với quy định cña Luật hải quan và chưa phù hợp với yêu cầu đẩy
mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế và hải quan, như:
- Quy định về thông báo thuế;
- Quy định về truy thu, truy hoàn thuế;
- Quy định về thẩm quyền ban hành biểu thuế và thuế suất;
- Một số cụm từ và việc sắp xếp thứ tự nội dung quy định trong một số
chương, điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cần sửa đổi, bổ sung cho phù
hợp giữa Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và Luật hải quan; đồng thời phù hợp
với các Luật thuế khác mới ban hành trong thời gian gần đây.
3.Những điểm khác biệt về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong luật
thuế xuất nhập khẩu 2005 so với luật thuế xuất nhập khẩu 1998:
Theo quy định của luật hiện hành về thuế nhập khẩu có một số điểm mới sau:
3.1. Về đối tượng chịu thuế:
Theo quy định tại điều 1, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm
1991, đối tượng chịu thuế nhập khẩu là hàng hoá được phép nhập khẩu
qua của khẩu biên giới Việt Nam, kể cả hàng hoá từ khu chế xuất đưa ra
thị trường trong nước. Nhưng trong thực tế, bên cạnh những khu chế xuất được
quy định trong luật, ở nước ta lại hình thành nhiều khu ưu đãi thuế quan khác
được hưởng cơ chế ưu đãi thuế quan tương tự như khu chế xuất, như khu thương
mại và phát triển kinh tế Lao Bảo, khu kinh tế mở Chu Lai,…quan hệ trao đổi
hàng hoá giữa các khu này với thị trường trong nước được xem là quan hệ
xuất nhập khẩu. Do đó, Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu hiện hành, đã quy định tại
điều 2, theo đó đối tượng chịu thuế nhập khẩu là hàng hoá nhập khẩu qua cửa
khẩu, biên giới Việt Nam, và hàng hoá được đưa từ khu phi thuế
quan vào thị trường trong nước. Khu phi thuế quan là khu vực kinh tế nằm
trong lãnh thổ Việt Nam, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quyết
định của Thủ tướng chính phủ. Quy định như vậy sẽ bao quát hết các đối tượng
chịu thuế.
3.2. Về đối tượng không chịu thuế.
- Nghi định số 89/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 quy định chi tiết thi
hành một số điều của Pháp lệnh chống trợ cấp hàng nhập khẩu vào Việt Nam.
- Nghị định số 90/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 quy định chi tiết thi
hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng nhập khẩu vào Việt
Nam.
3.5. Về trách nhiệm của đối tượng nộp thuế trong việc kê khai, nộp thuế.
Theo quy định cũ thì các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ thực hiện theo cơ
chế “thông báo thuế”. Theo đó, doanh nghiệp kê khai số liệu theo mẫu biểu, sau
đó nộp thuế theo thông báo thuế của cơ quan thuế, việc tính toán số thuế phải nộp
là trách nhiệm của cơ quan thuế. Để nâng cao trách nhiệm của việc chấp hành
pháp luật về thuế, luật hiện hành đã quy định đối tượng nộp thuế nhập khẩu có
trách nhiệm tự kê khai, tự nộp. Có thể nói, sửa đổi này sẽ đảm bảo quyền chủ
động và nâng cao trách nhiệm của đối tượng nộp thuế, hạn chế sự áp đặt và giảm
thiểu rủi ro cho cơ quan hải quan, phù hợp với cơ chế tự khai, tự nộp được quy
định trong Luật Hải quan.
3.6. Về miễn thuế, hoàn thuế
Việc miễn thuế, hoàn thuế tuy đã được quy định trong Luật thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu 1991 và đã được sửa đổi, bổ sung. Nhưng, trong quá trình mở
rộng quan hệ thương mại đã phát sinh một số trường hợp phải hoàn thuế. Do vậy,
để bao quát các trường hợp phải hoàn thuế, luật hiện hành đã bố sung 3 trường
Chuyên đề tốt nghiệp
22
hợp hoàn thuế nhập khẩu: Đó là hàng hoá đã nhập khẩu, đã nộp
Chuyên đề tốt nghiệp
nhân người Việt Nam và người nước ngoài khi xuất nhập cảnh qua cửa khẩu, biên
giới Việt Nam.
Hàng hoá là quà biếu, quà tặng vượt qúa tiêu chuẩn miễn thuế của các tổ chức,
cá nhân ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hoặc gửi về cho
các tổ chức, cá nhân ở Việt Nam và ngược lại.
Chuyên đề tốt nghiệp
24
Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế của công dân
Việt Nam được nhà nước cử đi công tác, lao động và học tập ở nước ngoài, của các
tổ chức quốc tế, cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam và của các cá nhân
người nước ngoài làm việc tại các tổ chức nói trên hoặc tại các hình thức đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam.
Hàng hoá là tài sản di chuyển vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế của các tổ chức,
cá nhân nước ngoài xuất khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam do hết thời hạn cư
trú và làm việc tại Việt Nam và cuả cá nhân người Việt Nam được Chính phủ Việt
Nam cho phép xuất cảnh để định cư ở nước ngoài.
1.3. Đối tượng không chịu thuế:
Hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện chịu thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu là đối tượng của nhiều loại quan hệ kinh tế - xã hội khác nhau như
hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo các hợp đồng giữa các tổ chức kinh tế; hàng
hoá viện trợ hoàn lại và không hoàn lại; hàng hoá là hành lý, quà biếu, quà tặng,
l tài sản di chuyển ...
Ðể động viên hợp lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vào ngân sách nhà nước
và phù hợp với thông lệ quốc tế, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định các
hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu nhưng không thuộc diện chịu thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu sau khi làm đầy đủ thủ tục hải quan trong các trường hợp sau:
a) Đối với mặt hàng áp dụng thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%), căn cứ tính thuế là:
- Số lượng từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu ghi trong Tờ khai hải quan;
- Giá tính thuế từng mặt hàng;
- Thuế suất từng mặt hàng.
b) Đối với mặt hàng áp dụng thuế tuyệt đối, căn cứ tính thuế là:
- Số lượng từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu ghi trong Tờ khai hải quan;
- Mức thuế tuyệt đối tính trên một đơn vị hàng hóa.
c) Đối với mặt hàng có sự thay đổi mục đích đã được miễn thuế, xét miễn
thuế, căn cứ tính thuế là: số lượng, giá tính thuế và thuế suất tại thời điểm có sự
thay đổi mục đích của mặt hàng đã được miễn thuế, xét miễn thuế.
* Phương pháp tính giá.
-
Hàng hoá áp dụng thuế suất tỷ lệ phần trăm
Số lượng đơn vị
từng mặt hàng
Trị giá tính
Số thuế xuất
thực tế xuất
thuế tính trên
nhập khẩu
=
x
nhập khẩu ghi
một đơn vị
phải nộp
trong tờ khai
hàng hoá
hải quan