TIẾP cận dạy học TÍCH hợp của SINH VIÊN địa lí TRƯỜNG đại học THỦ đô hà nội - Pdf 37

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

TIẾP CẬN DẠY HỌC TÍCH HỢP CỦA SINH VIÊN
ĐỊA LÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

TS. Phạm Minh Tâm
Trường ĐH Thủ đô Hà Nội
Tóm tắt: Một trong những nhiệm vụ khó khăn hiện nay của ngành giáo dục
Việt Nam là chuyển đổi từ nền giáo dục định hướng nội dung sang định hướng phát
triển năng lực cho học sinh. Để phát triển năng lực học sinh, đội ngũ giáo viên cần có
năng lực dạy học tích hợp. Tuy nhiên, từ trước đến nay ở các trường Sư Phạm, việc
đào tạo giáo viên vẫn có tính chất đơn môn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển
năng lực dạy học tích hợp. Phát triển năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên sư phạm
là nhiệm vụ quan trọng không những của trường sư phạm, mà còn của các trường phổ
thông, các cấp quản lý giáo dục và toàn xã hội.
Từ khoá: giáo dục năng lực, năng lực dạy học tích hợp, sinh viên sư phạm, bài
học tích hợp liên môn.
Abstract: One of the diffchlt tasks of education Vietnam is shifting from
content – oriented education to capacity development orientation for the students. To
develop the capacity of students, teachers need to have integrated teaching capacity.
However, to date in the fields of pedagogy, teacher training single subjects in nature
still do not meet the requyrements of developments of integrated teaching capacity.
Capacity development of integrated teaching for students of pedagogy is not the
important mission of the school, but also of the schools, level of management
education and society as a whole.
Key words: education, teaching competence, pedagogical students, lesson
integrates related dubjects
1. Mở đầu
Dạy học tích hợp đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại trên thế giới. Ở Việt
Nam, trào lưu sư phạm hiện đại này đã ảnh hưởng mạnh mẽ vào nước ta trong lộ trình
đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá ở các trường phổ thông

nhau nhằm giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ học tập; thông qua nó hình thành
những kiến thức kỹ năng mới; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng
lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống.
Trong dạy học các bộ môn: tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội
dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (Theo cách hiểu truyền thống từ
trước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào
những nội dung vốn có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung GD dân số, GD môi
trường, GD an toàn giao thông trong các môn học Đạo đức, Tiếng Việt hay Tự nhiên
và xã hội… xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống.
2.1.2. Đặc trưng của dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp hướng tới việc tổ chức các hoạt động học tập, trong đó HS
học cách sử dụng phối hợp các kiến thức và kĩ năng trong những tình huống có ý nghĩa
gần với cuộc sống. Trong quá trình học tập như vậy, các kiến thức của HS từ các môn
học khác nhau đuợc huy động và phối hợp với nhau, tạo thành một nội dung thống

476


HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học
đó.
Trong dạy học tích hợp, người học được đặt vào những tình huống của đời
sống thực tế, họ phải trực tiếp quan sát, thảo luận, làm bài tập, giải quyết nhiệm vụ đặt
ra theo cách nghĩ của mình, tự lực tìm kiếm nhằm khám phá những điều mình chưa rõ
chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp xếp. Người học
cần phải tiếp nhận đối tượng qua các phương tiện nghe, nhìn,...và phân tích đối tượng
nhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu của sự vật, hiện
tượng. Từ đó, người học vừa nắm được kiến thức vừa nắm được phương pháp thực
hành. Như vậy, người dạy không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

triển như vũ bão trong khi quỹ thời gian cũng như kinh phí để HS ngồi trên ghế nhà
trường là có hạn, thì không thể đưa nhiều môn học hơn nữa vào nhà trường cho dù
những tri thức này là rất cần thiết. Chẳng hạn, ngày nay người ta nhận thấy cần thiết
phải trang bị nhiều kĩ năng sống cho HS (các kiến thức về an toàn giao thông, về bảo
vệ môi trường sống, về năng lượng và sử dụng năng lượng, về định hướng nghề
nghiệp...) trong khi những tri thức này không thể tạo thành môn học mới để đưa vào
nhà trường vì lí do phải đảm bảo không quá tải trong học tập để phù hợp với sự phát
triển của HS.
Dù khác nhau về đặc trưng bộ môn, song các môn học trong nhà trường phổ
thông hiện nay đều có chung nhiệm vụ là hiện thực hoá mục tiêu phát triển toàn diện
HS. Có thể nêu những nét chung cơ bản của nhiệm vụ các môn học được dạy trong nhà
trường như sau: hình thành hệ thống tri thức, kĩ năng theo yêu cầu khoa học bộ môn;
phát triển tư duy, năng lực sáng tạo cho học sinh phù hợp với đặc trưng môn học; giáo
dục HS thông qua quá trình dạy học bộ môn (như hình thành thế giới quan duy vật
biện chứng, nhân sinh quan và thái độ, phẩm chất nhân cách của người lao động
mới...); góp phần giáo dục HS và chuẩn bị cho HS tham gia lao động sản xuất...
Các nhiệm vụ trên chỉ có thể thực hiện được thông qua các môn học. Quá trình
xây dựng chương trình, sách giáo khoa các môn học đã tích hợp nhiều tri thức để thực
hiện các nhiệm vụ trên, song không thể đầy đủ và phù hợp với tất cả đối tượng HS. Vì
vậy, trong quá trình dạy học, GV phải nghiên cứu để tích hợp các nội dung này một
cách cụ thể cho từng môn học và phù hợp với từng đối tượng HS ở các vùng miền
khác nhau. Mặt khác, do cùng chung nhau các nhiệm vụ dạy học nêu trên, nên các
môn học cũng có nhiều cơ hội để liên kết với nhau, tạo ra mối quan hệ liên môn.
Do bản chất của mối liên hệ giữa các tri thức khoa học: Lí do cần dạy học tích
hợp các môn học trong nhà trường còn xuất phát từ chính yêu cầu phát triển của khoa
học. Các nhà khoa học cho rằng khoa học hiện nay đã chuyển từ giai đoạn phân tích
cấu trúc lên giai đoạn tổng hợp hệ thống làm xuất hiện các liên ngành (như sinh thái
học, tự động hoá...). Vì vậy, xu thế dạy học trong nhà trường là phải làm sao cho tri

Nội dung các kiến thức tích hợp chứa đựng trong các bài học, các môn học khác
nhau. Do đó, GV phải xác định được nội dung cần tích hợp trong kiến thức môn học,
biết cách lựa chọn, phân loại các kiến thức tương ứng, phù hợp với các mức độ tích
hợp khác nhau để đưa vào bài giảng, ngoài ra do thời gian một giờ giảng trên lớp có
hạn, nên GV phải biết chọn những vấn đề quan trọng, mấu chốt nhất để dạy học theo
cách tích hợp, còn phần kiến thức nào dễ hiểu nên để HS tự đọc SGK hoặc các tài liệu
tham khảo.
Việc đưa ra các kiến thức tích hợp vào kế hoạch dạy học cần dựa vào các
nguyên tắc sư phạm sau:
– Không làm thay đổi tính đặc trưng của môn học, như không biến bài dạy địa
lí thành bài giảng lịch sử, vật lí, sinh học học hay thành bài giáo dục các vấn đề khác
(Môi trường, dân số, sức khỏe sinh sản, phòng chống HIV/AIDS…), nghĩa là các
kiến thức được tích hợp vào phải được tiềm ẩn trong nội dung bài học, phải có mối
quan hệ logic chặt chẽ trong bài học.
– Khai thác nội dung cần tích hợp một cách có chọn lọc, có tính hệ thống,đặc
trưng: Theo nguyên tắc này, các kiến thức tích hợp được đưa vào bài học phải có hệ
thống, được sắp xếp hợp lí làm cho kiến thức môn học thêm phong phú, sát với thực

479


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

tiễn, tránh sự trùng lặp, không thích hợp với trình độ của HS, không gây quá tải, ảnh
hưởng đến việc tiếp thu nội dung chính.
– Đảm bảo tính vừa sức: dạy học tích hợp phải phát huy cao độ tính tích cực và
vốn sống của HS. Các kiến thức tích hợp đưa vào bài học phải làm cho bài học rõ ràng
và bài học tường minh hơn, đồng thời tạo hứng thú cho người học.

480


HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

Cách 2: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở những
thời điểm đều đặn trong năm học. Ví dụ: Các môn địa lý, lịch sử, GDCD... vẫn được
giảng dạy riêng rẽ, nhưng chương trình có bố trí xen kẽ một số chương tích hợp liên
môn vào chỗ thích hợp nhằm làm cho HS quen dần với việc sử dụng kiến thức những
môn học gần gũi nhau.
Cách 3: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề tài tích
hợp. Cách 3 có giá trị chủ yếu ở tiểu học.
Cách 4: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các tình
huống tích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn học, tạo thành
môn học tích hợp. Ví dụ: môn tự nhiên và xã hội ở tiểu học hoặc môn khoa học tự
nhiên ở trung học cơ sở, tuy rằng ở trung học cơ sở việc áp dụng cách 4 cũng gặp
không ít khó khăn.
2.2. Bài học tích hợp liên môn
2.2.1.Thế nào là bài học tích hợp?
Hình thức cơ bản của việc tổ chức quá trình dạy học trong nhà trường phổ
thông là bài học (còn gọi là bài lên lớp...), thông qua bài học để dạy cho học sinh kiến
thức, kĩ năng, kĩ xảo và phát triển những năng lực nhận thức của các em.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về bài học, các nhà LLDH bộ môn thì xem xét
bài học về mặt phương pháp, khi nghiên cứu những vấn đề của bài học với đặc thù của
bộ môn cụ thể; Các nhà tâm lí học thường xem bài học về phương diện những động cơ
và cơ chế của việc học tập...Nếu xét về phương diện các thành phần cấu tạo bài học
thì ta có thể hiểu một cách đơn giản: bài học được cấu thành bởi các thành tố: chủ đề
học tập - nội dung học tập – Các kĩ năng, kĩ xảo... cần đạt, được biểu hiện bởi sơ đồ
sau:


Chủ đề bài
học

Bài học tích hợp

Quy định logic khoa học của Quy định logic khoa học của nội
nội
dung đề tài bài học liên quan đến
dung đề tài bài học của một nhiều môn học
môn học

Nội dung học
tập
Kĩ năng, kĩ
xảo
Mục tiêu dạy
học

Mang đặc trưng kiến thức của Mang đặc trưng kiến thức có tính
bộ môn
liên môn
Chủ yếu mang đăc trưng của
Mang tính xuyên môn
bộ môn
Trang bị cho người học những
Hình thành các năng lực cho
kiến thức, kĩ năng học tập của
người học
bộ môn


Bước 6: Xây dựng kế hoạch bài học tích hợp (chú ý tới các phương pháp dạy
học nhằm phát huy tính tích cực của người học).
2.3.2. Thiết kế bài học tích hợp liên môn theo chủ đề “Chất thải nguy
hiểm”lấy môn Địa lí làm chủ đạo
a. Cơ sở tích hợp
STT Môn học

1

2

Tên bài

Bài - lớp

Kĩ năng cần đạt

Địa lí

Nhận biết tác động của con người
Con người và Bài 21 - thông qua hoạt động sản xuất
môi trường địa lí lớp 8
nông nghiệp và công nghiệp tới
môi trường: đất, nước, không khí.

Lịch sử

Các nước Anh,
Nhận biết sự phát triển của một số
Pháp, Đức, Mĩ Bài 6 - ngành sản xuất (nông nghiệp,

bảo vệ không khí trong lành

b. Nội dung
Hoạt động 1:Khởi động
GV đặt vấn đề: Môi trường nơi chúng ta đang sinh sống, không chỉ là nơi
cung cấp điều kiện vật chất cho sản xuất và đời sống, mà môi trường còn là nơi chứa
các chất thải do con người thải ra. Mọi phế liệu phế thải của sinh hoạt và sản xuất
đều thải vào môi trường. Các chất thải này có thể là: chất thải sinh hoạt của con
người - chất thải công nghiệp - chất thải nông nghiệp - chất thải giao thông vận tải.
Trong đó có nhiều chất thải rất nguy hiểm ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của con
người. Đây cũng chính là nội dung của bài học mà chúng ta nghiên cứu trong giờ
học này với chủ đề:
CHẤT THẢI NGUY HIỂM
Hoạt động 2: Tìm hiểu các chất thải nguy hiểm trong sản xuất
GV đặt vấn đề:Hoạt động sản xuất nông nghiệp và công nghiệp bên cạnh tác
động tích cực là thúc đẩy xã hội loài người không ngừng phát triển, thì phế thải
củacác hoạt động này cũng đã tác động không nhỏ đến môi trường tự nhiên và đời
sống của con người. Đây cũng chính là nội dung sản phẩm mà nhóm 1 sẽ trình bày:
Hoạt động của GV - HS

Nội dung

- Sử dụng kiến thức môn I. Các chất thải nguy hiểm trong sản xuất
Địa lí để tìm hiểu các chất 1. Hoạt động nông nghiệp với môi trường địa lí
thải nguy hiểm trong sản - Nội dung bức ảnh a: hoạt động trồng lúa mì ở
xuất
vùng thảo nguyên ôn đới.
- Nhóm 1 trình bày sản - Nội dung bức ảnh b: hoạt động trồng chuối trong
phẩm của dự án
các trang trại vùng nhiệt đới ẩm.

nhiễm môi trường: đất, nước, không khí, biển và
đại dương..
Hoạt động 3: Tìm hiểu sự phát triển một số ngành sản xuất của một số nước tư
bản tiêu biểu cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
GV đặt vấn đề: Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai
đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền hay chủ nghĩa đế quốc, tiêu biểu là Anh, Pháp,
Đức, Mĩ. Tình hình kinh tế của các nước này có nhiều thay đổi. Đây cũng chính là

485


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

nội dung sản phẩm mà nhóm 2 sẽ trình bày.
Hoạt động của GV - HS

Nội dung

- Tích hợp kiến thức môn II. Tìm hiểu tình hình kinh tế của một số nước
Lịch sử - Địa lí để tìm tư bản tiêu biểu cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
hiểu tình hình kinh tế của - Nước Anh:
một số nước tư bản tiêu + Từ vị trí đứng đầu thế giới về sản xuất công
biểu cuối thế kỉ XIX đầu nghiệp tụt xuống trí thứ 3 TG.
thế kỉ XX.
+ Nguyên nhân: do CN phát triển sớm, hàng loạt
máy móc thiết bị dần trở nên lạc hậu. Mặt khác
- Nhóm 2 trình bày sản Anh chú trọng đầu tư vào các nước thuộc địa hơn
phẩm của dự án

trường trong nước mở rộng, nguồn nhân lực dồi
dào có kĩ thuật, ứng dụng KHKT và hưởng nền
hoà bình lâu dài.
Hoạt động 4:Tìm hiểu thành phần không khí và tại sao phải bảo vệ không
khí trong lành
GV đặt vấn đề: Có bao giờ, mỗi chúng ta tự đặt câu hỏi: “Không khí bao gồm
những thành phần nào? Tại sao chúng ta lại phải bảo vệ không khí trong lành,
tránh ô nhiễm?”. Đây cũng là nội dung sản phẩm của nhóm 3 sẽ trình bày:
Hoạt động của GV - HS

Nội dung

- Tích hợp kiến thức III. Thành phần không khí
môn Hoá học - Địa lí để 1. Thí nghiệm;
tìm hiểu thành phần - Làm thí nghiệm
không khí
- Nhận xét:
+ Mực nước trong ống thuỷ tinh dâng đến vạch
- Nhóm 3 trình bày sản 2tỉ lệ thể tích O có trong không khí là 1/5
2
phẩm của dự án
+ Tỉ lệ chất khí còn lại: chiếm 4 phần trong
không khí.
+ Kết luận: không khí là hỗn hợp khí trong đó
O2 chiếm khoảng 21%, phần còn lại là các khí
khác như: N2, CO2, hơi nước và các khí hiếm
như: neon, agon, bụi khí…
2. Bảo vệ không khí trong lành, tránh ô
nhiễm
- Không khí bị ô nhiễm gây tác hại đến: sức

O2 cho các tế bào và loại CO2 do các tế bào
thải ra khỏi cơ thể.
- Quá trình hô hấp gồm: sự thở, trao đổi khí ở
phổi và trao đổi khí ở tế bào.
- Hệ hô hấp gồm các cơ quan ở đường dẫn khí
và 2 lá phổi. Đường dẫn khí có chức năng: dẫn
khí vào và dẫn khí ra; làm ẩm và làm ấm
không khí đi vào và bảo vệ phổi. Phổi là nơi
trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường ngoài.

3.Kết luận
Dạy tích hợp liên môn là khái niệm được đưa ra bàn luận sôi nổi trong thời gian
vừa qua. Đối với nhiều giáo viên, đây là khái niệm hoàn toàn mới và thật sự gặp nhiều
khó khăn trong việc truyền đạt kiến thức đến cho học sinh … Đây cũng là một câu hỏi
lớn đặt ra đối với các nhà trường Sư Phạm, nơi đang đào tạo những thầy cô giáo trong
tương lai phục vụ cho sự nghiệp đổi mới giáo dục của nước nhà.

488


HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Ban Chấp hành Trung ương. Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
[2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo.Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp ở trường trung học cơ
sở, trung học phổ thông (Dùng cho cán bộ quản lí, giáo viên THCS, THPT).
NXB Đại học Sư Phạm. H 2014.
[3]. Dự án Việt - Bỉ. Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học.
NXB Đại học sư phạm, H.2009.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status