Bài tiểu luận sinh thái nhân văn ô nhiễm môi trường ở nông thôn - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG

BÀI TIỂU LUẬN SINH THÁI NHÂN VĂN

Đề tài:

“Ô nhiễm môi trường ở nông thôn”

Sinh viên thực hiện:
1. Phạm Thị Oanh (532262)
2. Phan Thị Huyên (532237)
3. Ngô Phương Thanh (532269)
4. Nguyễn Thị Thu (532278)

1


MỤC LỤC
MỤC LỤC ..................................................................................................................2
I.

MỞ ĐẦU. ..........................................................................................................3

II. NỘI DUNG..........................................................................................................4
1. Ô nhiễm môi trường hoạt động sản xuất nông nghiệp. ......................................4
1.1. Thực trạng. ........................................................................................................4
1.2. Nguyên nhân .....................................................................................................5
1.3. Hậu quả ............................................................................................................76
1.4. Biện pháp khắc phục. .......................................................................................8
2. Ô nhiễm môi trường nông thôn do rác thải sinh hoạt. ................................. 1110

trường đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, tác động xấu đến hệ sinh thái nông nghiệp, ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân. Vì vậy, bảo vệ môi trường nông thôn đang là một
vấn đề cấp bách.
Bài tiểu luận dưới đây của chúng tôi sẽ đến một cái nhìn khái quát về thực trạng ô
nhiễm môi trường ở nông thôn, nguyên nhân, hậu quả và những giải pháp. Rất mong nhận
được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của quý bạn đọc.

Nhóm thực hiện.

3

Comment [2lnd1]: ĐVĐ rất hay nhưnng bỏ
cuâu cuối


II. NỘI DUNG
Ô nhiễm môi trường hiện nay không riêng gì ở thành phố và các khu, cụm công nghiệp
mà còn ở các vùng nông thôn. Theo chúng tôi, có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm, song chủ yếu
là 3 nguồn chính:
1. Ô nhiễm môi trường hoạt động sản xuất nông nghiệp.
1.1. Thực trạng.
Những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ, tăng diện tích cũng như do thay đổi cơ cấu
giống cây trồng nên tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn. Vì vậy số lượng và chủng loại
thuốc BVTV sử dụng cũng tăng lên. Nếu như trước năm 1985, khối lượng thuốc BVTV dùng
hàng năm khoảng 6.500 - 9.000 tấn thành phẩm quy đổi và lượng thuốc sử dụng bình quân
khoảng 0,3 kg hoạt chất/ha thì thời gian từ năm 1991 đến nay lượng thuốc sử dụng biến động
từ 25.000 - 38.000 tấn và lượng thuốc sử dụng cũng tăng lên 0,67 - 1,01 kg hoạt chất/ha.

(bao bì thuốc BVTV vứt bừa bãi).



Comment [2lnd2]: Những số liệu này nguồn ở
đâu


(Thuốc BVTV không được quản lý về nguồn gốc, xuất xứ, thành phần).
Kết quả kiểm tra dư lượng thuốc BVTV cũng cho thấy, có 33/373 mẫu rau chiếm
13,46% vượt mức dư lượng cho phép.Mặt khác, kết quả điều tra 156 hộ nông dân ở Tiền
Giang, 200 hộ ở Đan Phượng (Hà Tây) và 200 hộ ở Từ Liêm (Hà Nội) cho thấy, có 80% số hộ
vứt luôn bao bì thuốc tại ruộng, mương nước nơi sử dụng. Thói quen rửa bình bơm và dụng cụ
pha chế thuốc BVTV không đúng nơi quy định.
Sử dụng phân bón thừa thãi gây tồn đọng trong đất, nước, ảnh hưởng đến sức khoẻ con
người. Việc sử dụng “phân chuồng tươi” liều lượng lớn, không tuân thủ quy trình kỹ thuật, các
mẫu đất, nước, rau quả được nghiên cứu đều còn tồn dư lượng Fecal Coliorm. Khi lạm dụng
phân hóa học, đặc biệt là phân đạm, khiến tồn dư Nitrate, có thể dẫn đến 2 bệnh hiểm nghèo là
kìm hãm sự phát triển của trẻ dưới 1 tuổi, làm trẻ xanh xao, gầy yếu và ung thư dạ dày, vòm
họng ở người lớn (Theo GD&KH).


Sự thờ ơ của các cấp chính quyền địa phương trong việc xử lý vi phạm gây ô nhiễm.



Việc khắc phục, xử lý ô nhiễm chưa nhận được sự quan tâm từ các ban ngành chức
năng.

6

Formatted: Highlight


nông sản, hàng hóa trên thị trường và cũng là nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến sức khỏe cộng đồng.

Tên ảnh
1.4. Biện pháp khắc phục.
- Giải quyết hài hòa giữa việc quản lý, sử dụng thuốc BVTV để bảo vệ sản xuất nông
nghiệp với việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường là một đòi hỏi và thách thức lớn đối
với các cơ quan quản lý nhà nước. Để đạt được mục tiêu đó cần có một số giải pháp sau:

8


- Nhà nước cần có chế độ ưu đãi, hỗ trợ cho các chương trình sản xuất và ứng dụng các
sản phẩm hữu cơ, vi sinh vào công tác phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật; chọn lọc
các loại thuốc, dạng thuốc BVTV an toàn có tính chọn lọc cao, phân giải nhanh trong môi
trường; duy trì và mở rộng việc áp dụng IPM vì chương trình này không chỉ tiết kiệm chi phí
cho việc mua thuốc BVTV mà còn góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường; tăng cường
công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm trong lĩnh vực BVTV; phối hợp các lực lượng liên
ngành trong kiểm tra, kiểm soát việc nhập lậu thuốc BVTV; chú trọng việc thu gom và xử lý
bao bì thuốc BVTV sau sử dụng và kiên quyết đình chỉ các cơ sở sản xuất, gia công thuốc
BVTV có dây chuyền công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm.

- Đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong trồng trọt, nâng cao hiểu biết của
người nông dân trong việc sử dụng thuốc BVTV an toàn và hiệu quả, từ đó giảm lượng thuốc
BVTV sử dụng; nghiên cứu ứng dụng và phát triển các dạng thuốc BVTV mới thân thiện với
môi trường, ít ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng; xây dựng và phát triển các vùng chuyên
canh sản xuất các sản phẩm nông nghiệp sạch không dùng phân bón hóa học và thuốc BVTV
nhằm nâng cao chất lượng nông sản phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu.

9


thiếc…rất tiện lợi góp phần làm thay đổi phong cách và tập quán sống của nhiều người dân cư
nông thôn đến thành thị.
Về nông thôn, chúng ta dễ dàng nhận thấy ven làng, các bờ sông, con ngòi, các túi rác,
có khi là cả một tải rác hay đống rác “tự do nhảy dù” chẳng có người nào thu gom, mới đầu
còn là một túi rác nhỏ, dần dà chúng “tập kết” thành đống lớn dần lên qua từng ngày tạo nên
cảnh quan “lạ mắt” ven đường làng, mương máng, có khi còn làm tắc dòng chảy. Bên cạnh đó
rác thải ở các chợ quê đã đến hồi báo động, các đống rác được chất đống lưu cữu rất nhiều
ngày, ngay gần khu dân cư, bốc mùi ô uế.

11


Mỗi năm, trong cả nước có hàng chục tấn rác thải sinh thải sinh hoạt phát sinh và theo
dự báo thì tổng lượng chất thải đó vẫn tiếp tục tăng lên nhanh chóng trong thập kỷ tới. Theo
ông Trương Đình Bắc - Trưởng phòng Sức khoẻ và môi trường, cho biết nếu ở các đô thị lớn,
trung bình một người thải ra 1kg rác/ngày thì vùng nông thôn cũng từ 0,5-0,6kg rác/ngày.
Bình quân mỗi người thải ra 0,7 kg rác/ngày. Như vậy, với khoảng 50 triệu dân vùng nông
thôn, mỗi ngày có gần 50 triệu tấn rác cần được thu gom. Tuy nhiên trên thực tế chỉ thu được
khoảng 50%.

12


(Túi nilon rải đầy ven đường đi).
Tình trạng vứt rác bừa bãi của một bộ phận người dân nông thôn không chỉ làm ảnh
hưởng đến cảnh quan nông thôn tác động xấu đến môi trường sống của người dân mà còn huỷ
hoại môi trường trong lành của làng quê. Do đó, đã nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường nông
thôn.
2.1. Nguyên nhân.



Do không có kinh phí cho việc xử lý rác thải sinh hoạt nên việc xử lý rác thải chưa được
thực hiện như ở thị trấn Liên Quan (Thạch Thất), mặc dù đã ký hợp đồng với công ty MTĐT Xuân Mai nhưng mỗi năm cũng chỉ được tổ chức thu gom, xử lý rác thải được 3-4đợt;
Xã Quang Tiến (Sóc Sơn) người dân tham gia đóng góp để trả công cho việc thu gom rác,
nhưng xã gặp khó khăn về kinh phí vận chuyển nên rác “tồn đọng” tập kết ở gần khu dân
cư.
Theo chúng tôi nguyên nhân chính của ô nhiễm môi trường ở nông thôn do rác thải sinh

hoạt là vì thói quen của người dân đã bao đời nay là “nhắm thấy tiện là quăng” nên quanh nhà
là bãi chứa rác và thiếu ý thức của người dân trong việc xử lý rác.
2.2. Hậu quả.
Rác thải sinh hoạt, đặc biệt là nhựa phế liệu, dân trở thành gánh nặng cho xã hội. Ai
cũng biết đó là rác thải, là thứ bỏ đi. Nhưng không phải ai cũng biết, rác thải ngày càng nhiều
và là hiểm hoạ đối với con người và nguy hại gây ô nhiễm môi trường.
Ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt, nước ngầm: Hầu hết các dòng sông, mương
tiêu huỷ nước, hồ ao ở nông thôn hiện nay đều bị ô nhiễm từ nhẹ tới nặng, tạo điều kiện cho
các sinh vật và tảo lam phát triển làm cho nguồn nước ngọt dần trở lên khan hiếm.
VD:

14


Giao Thuỷ, Nam Định, nước ngầm nhiễm asen: hiểm hoạ cho 200.000 nghìn dân sống
ở khu vực nông thôn của huyện. Họ đang phải đôí mặt với tình trạng sử dụng nước sinh hoạt
không đảm bảo vệ sinh. Trung tâm quan trắc và phân tích tài nguyên môi trường Nam định cho
hay, khi tiến hành điều tra vào tháng 6-2007 và tháng 5-2008 tại các xã, thị trấn trong huyện
đều thấy các mẫu nước ngầm có chứa asen vượt tiêu chuẩn 09/Bộ y tế và một số mẫu vượt
TCVN 5942-1995 về nước mặt và TCVN 5944-1995 về nước ngầm.

Bảng tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch ở các vùng

Đông Nam Bộ

21

5

Đồng bằng Sông Hồng

33

6

Đồng bằng Sông Cửu Long

39

35-36

Qua bảng trên, chúng ta có thể thấy rõ, những người dân ở nông thôn Việt Nam đang
phải sinh hoạt với những nguồn nước như thế nào. Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có
tỷ lệ cao nhất cũng chỉ 39% dân số được sử dụng nguồn nước (tạm coi là) sạch. Còn vùng thấp
nhất là vùng núi phía Bắc.
Ô nhiễm không khí: Thải rác vào môi trường, lượng rác này không được xử lý hợp vệ
sinh sẽ phân huỷ mùi hôi thối gây bệnh về da, mắt viêm xoang đường hô hấp…người dân
không được hưởng bầu không khí trong lành cần thiết cho sự sống.

15


Từ các nguyên nhân trên đã gây ra ảnh hưởng đến sức khoẻ và chất lượng cuộc sống

Khi rác đã đổ trong hố thành một lớp dày chừng 30-40 cm thì rắc từ 2-3 kg supe lân hay apatit,
1-2 kg vôi bột. có thể cho thêm 1kg urê hay 10 kg phân bắc hay gà vịt để tăng thêm đạm. Khi
lớp rác đã cao tới 1,5-2 m thì rắc lên một lớp bột dày 10 đến 15 cm phủ rơm rạ và tưới nước.

17


Sau 40 đến 50 ngày đống phân nóng lên, khối lượng xẹp thì dỡ lớp rơm rạ ra, dẫm chặt và phủ
đất 10- 15 cm và tưới nước đủ ẩm. Mặt trên đống phân, chính giữa lên lõm xuống và moi lỗ để
nước ngấm vào rác. Chừng 1-2 tháng thì có thể đem đi bón ruộng, hố đó lại tiếp nhận rác mới.
đúng với khẩu hiệu “sạch làng, tốt ruộng”
Hiện nay, phần lớn dân cư nông thôn còn thiếu hiểu biết về vệ sinh,nước sạch và bệnh
tật, sức khoẻ; về môi trường sống xung quanh mình cần phải được cải thiện và có thể cải thiện
được.
Kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực cho thấy nếu người nông dân nhận thức rõ được vấn
đề thì với sự giúp đỡ của chính phủ, họ có thể vươn lên khắc phục khó khăn, cải thiện được
môi trường sống cho mình tốt hơn.
Vì vậy, các hoạt động thông tin - giáo dục - truyền thông có tầm quan trọng lớn lao đối
với thành công của mọi chiến lược phát triển và vai trò cơ bản của nhà nước trong tương lai là
tập trung vào các hoạt động Thông tin- Giáo dục-Truyền thông và quản lý. Tăng cường tập
huấn, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ thực hiện công tác quản lý môi trường
từ cấp tỉnh đến cơ sở thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.


Về quy hoạch cơ sở hạ tầng.
Để đảm bảo vệ sinh môi trường, trong quy hoạch cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu dân cư

cần:
Vạch ra được phương hướng xứ lý rác thải.
Chọn mô hình xử lý rác thải phù hợp.

triển bền vững lâu dài của làng nghề. Nhiều khi chỉ vì lợi ích trước mắt mà người ta quên đi
vấn đề bảo vệ môi trường sống của mình.
Theo số liệu công bố mới đây của Cục Cảnh sát môi trường, Bộ Công an, có tới hơn
90% làng nghề vi phạm Luật Bảo vệ môi trường và các quy định an toàn vệ sinh lao động.
Một khảo sát mới đây nhất của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường thuộc Trường
đại học Bách khoa Hà Nội, các chuyên gia đã đưa ra những con số báo động về hiện trạng môi
trường tại các làng nghề: 100% mẫu nước thải ở các làng nghề có thông số vượt quá tiêu chuẩn
cho phép; nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm. Ô nhiễm không khí chủ yếu tập
trung ở các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, gốm, sứ, nhựa... ước tính tại lượng ô nhiễm
không khí do đốt than để nung vôi, nung gốm, sứ từ hàng trăm lò thủ công lên tới hàng triệu
m3 khí độc.
Kết quả phân tích mẫu nước thải, khí thải ở các làng nghề của ngành chức năng cho
thấy, hầu hết đều vượt tiêu chuẩn cho phép gấp nhiều lần. Riêng nồng độ bụi vượt từ 113 đến
230 lần, hàm lượng một số kim loại trong nước thải, vượt tới hàng chục lần cho phép. Không
những ảnh hưởng đến cuộc sống, sức khoẻ của người dân, ô nhiễm làng nghề còn làm ô nhiễm
luôn cả nguồn nước nước mặt, đến nỗi một số nơi, cỏ cây, hoặc tôm cá dưới ao không thể sống
nổi.
Hiện cả nước có 1.450 làng nghề chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông Hồng (67,3%),
miền Trung (20,5%) và miền Nam (12,2%), chia theo 6 loại hình:


Chế biến lương thực thực phẩm, dược liệu 197 làng (chiếm 13,6%);



Ươm tơ, dệt vải, đồ da 173 làng (chiếm gần 12%);



Thủ công mỹ nghệ, thêu ren 618 làng (chiếm 42,6%);



Do các làng nghề hình thành và phát triển tự phát, quy mô nhỏ lẻ, chưa có quy hoạch.

21




Trang thiết bị, công nghệ sản xuất của các làng nghề còn rất lạc hậu



Người dân còn chưa ý thức được việc phải giữ gìn, bảo vệ môi trường.



Quá tận dụng sức lao động giá rẻ thay vì phải đầu tư đổi mới công nghệ



Không có biện pháp nào xử lý ô nhiễm.



Do giá thành sản phẩm nên người ta vẫn phải sử dụng các phương pháp thủ công gây ô
nhiễm môi trường cao.




cống rãnh thoát nước trước đây thì nay do bị lấp bởi chất thải rắn, gây ngập úng mỗi khi mưa
xuống.

23


3.4. Biện pháp và phương hướng khắc phục
Trước tiên về qui hoạch, cần chú trọng tới qui hoạch mặt bằng chung và hạ tầng cơ sở,
trong đó cần bố trí thỏa đáng diện tích cho việc thu gom và xử lý chất thải, diện tích cây xanh,
đầu tư giải quyết hệ thống đường sá trong ngoài thôn xóm cũng như hệ thống cấp thoát nước.
Về tổ chức quản lý sản xuất, cần chú ý xây dựng, cải tạo nhà xưởng, tổ chức không
gian thông thoáng tự nhiên tại nơi lao động, trang bị các dụng cụ an toàn lao động, thiết bị thu
gom bụi, hút khí tại các vị trí xả khí độc hại, tránh ô nhiễm nhiệt do các lò nung, hầm sấy.
Về công nghệ và thiết bị sản xuất, việc quan trọng cần giải quyết kịp thời là thay thế
các thiết bị cũ kỹ, áp dụng công nghệ mới ít chất thải, hạn chế tiếng ồn và rung, sử dụng các
công nghệ phù hợp có khả năng giảm thiểu các chất độc hại.

(Khói bụi tại một làng nghề).
Việc đề ra các giải pháp bảo vệ và cải thiện môi trường cho các làng nghề phải căn cứ
cụ thể vào các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của địa phương. Điều đó có nghĩa là phải
đa dạng hóa các giải pháp bảo vệ môi trường tại các làng nghề mà điều chính yếu là phải đạt
được giải pháp tận dụng các ưu thế và khắc phục được các hạn chế của từng làng nghề. Song

24


dù ở địa phương nào và đối với nghề gì thì giải pháp thu gom và xử lý chất thải đều phải đặt
lên hàng đầu.
Ngoài ra, Nhà nước cần có chính sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất, khuyến khích phát
triển ngành nghề nông thôn theo quy hoạch, tập trung các khu sản xuất, kế hoạch gắn với bảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status