BÀI TIỂU LUẬN-Giá trị nhân văn của Đạo Phật trong việc xây dựng hệ tư tưởng của thế hệ trẻ hiện nay - Pdf 28

Tiểu Luận Triết Học
ĐẶT VẤN ĐỀ
Với tư cách là con đường giải thoát mối quan tâm cuối cùng của nhân loại, Phật giáo là một hệ thống
tín ngưỡng, triết học khổng lồ và phức tạp, cũng là một hệ thống giá trị. Đã 2.500 năm nay Phật giáo
trở thành tín ngưỡng tinh thần của hàng trăm triệu dân, quãng thời gian dài đó chứng tỏ sức sống và
giá trị vĩnh hằng của Phật giáo. Song cũng cần thấy là việc tái tạo giá trị, phát huy tác dụng của Phật
giáo trong xã hội tương lai như thế nào vừa là một vấn đề lí luận khó khăn và lớn lao lại vừa là một
vấn đề thực tiễn nghiêm túc và bức thiết.
Giá trị hiện đại của Phật giáo quyết định bởi tác dụng của nó đối với xã hội loài người trong thế kỉ
XXI. Trong khi đạt được những tiến bộ chưa từng có, loài người lại có những biện pháp có thể hủy
diệt trái đất. Kẻ đe dọa sự sinh tồn và phát triển của xã hội loài người cũng chính là loài người. Các
hiện tượng tiêu cực tồn tại trong xã hội hiện nay như khủng hoảng lòng tin, đạo đức bại hoại, mất
lương tâm đang mang lại thời cơ lịch sử chưa từng có để Phật giáo điều chỉnh tâm linh con người, tiến
tới điều chỉnh mối quan hệ người-người, người-thiên nhiên, vì triết học Phật giáo vốn có tư tưởng
chỉnh thể về vũ trụ, tinh thần nhân văn tôn giáo theo đuổi sự siêu việt sinh mệnh.
Sự giao lưu giữa các quốc gia trong một khu vực đã phá vỡ cái thế giới riêng biệt của tâm lý, tư tưởng
của từng dân tộc làm cho tâm lý và tư tưởng đó hòa vào cái chung của khu vực. Việt Nam cũng ở
trong một quá trình như thế. Theo chân các nhà buôn, nhà truyền giáo Ấn Độ, Phật giáo vào nước ta
vào khoảng thế kỷ thứ I và thứ II sau công nguyên. Sau đó, nối gót người Ấn Độ các nhà Phật Giáo
Bắc tông vào. Rồi những người tìm đường sang Trung Quốc, Ấn Độ học Phật trở về cũng muốn tiếp
tục truyền bá Phật Giáo. Bằng những con đường khác nhau đó, Phật giáo đã trờ thành một tôn giáo
chung của nhiều nước Nam Á và Đông Nam Á đến tận bây giờ.
Khi luận giải những vấn đề thế giới quan và nhân sinh quan triết học, Phật giáo đã đề cập tới những
hàng loạt những vấn đề thuộc phạm vi của phép biện chứng, với tư cách là học thuyết triết học về mối
liên hệ phổ biến và sự biến đổi của mọi tồn tại. Thế giới quan triết học phật giáo và những tư tưởng
biện chứng của nó được thể hiện qua một số phạm trù cơ bản là: Vô ngã, vô thường và luật nhân quả.
Chính vì lý do đó, tôi lựa chọn chủ đề cho bài tiểu luận này là “Giá trị nhân văn của Đạo Phật trong
việc xây dựng hệ tư tưởng của thế hệ trẻ hiện nay”. Trong phạm vi của bài tiểu luận chưa đề cập
toàn bộ những giá trị mà Đạo Phật mang lại và có thể có nhiều thiếu sót, rất mong được sự tham gia
góp ý của Thầy giáo và bạn đọc.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Nhưng Danh và Sắc chỉ tụ hội trong thời gian ngắn rồi chuyển sang trạng thái khác, do vậy “không có
cái tôi” (vô ngã - natman).
- Vô thường: Bản chất sự tồn tại của thế giới là một dòng biến chuyển không ngừng (vô thường).
Không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên, do vậy không có ai tạo ra thế giới và cũng không có gì vĩnh
hằng. Sự biến hiện của thế giới theo chu trình: sinh - trụ - dị - diệt theo luật nhân quả.
Về thế giới quan và nhân sinh quan:
- Phật giáo tiếp thu tư tưởng luân hồi và nghiệp của Upanisa là bộ phận kinh Veda của đạo Bà la môn
phần nói về tri thức. Theo Phật giáo, sự vật mất đi ở chỗ này là để sinh ra ở chỗ khác. Quá trình thác
sinh luân hồi đó do nghiệp chi phối theo nhân quả.
- Theo quan niệm của đạo Phật, để đến được sự giải thoát, mọi người phải nhận thức Bốn chân lý
thiêng liêng tuyệt diệu (Tứ diệu đế). Đó là:
+ Khổ đế:
2 | P a g e
Tiểu Luận Triết Học
Phật giáo cho rằng đời là bể khổ. Cái khổ ấy không ngoài 8 nỗi khổ: Sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt ly
(yêu mà phải xa), oán tăng hội (ghét mà phải ở gần), sở cầu bất đắc (muốn mà không được), thủ ngũ
uẩn (khổ vì có sự tồn tại của thân xác).
+ Tập đế (Nhân đế)
Mọi nỗi khổ đều có nguyên nhân. Phật giáo đưa ra “Thập nhị nhân duyên” để chỉ ra nguyên nhân của
sự khổ. Đó là: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục căn, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử.
+ Diệt đế: Phật giáo khẳng định có thể tiêu diệt nỗi khổ và chấm dứt luân hồi.
+ Đạo đế: Con đường giải thoát, diệt khổ thực chất là tiêu diệt vô minh (sự tăm tối, không sáng suốt),
gồm 8 con đường (Bát chính đạo). Đó là:
Chính kiến : hiểu biết đúng.
Chính tư duy: suy nghĩ đúng.
Chính ngữ: giữ lời nói chân chính.
Chính nghiệp : Nghiệp có hai loại là tà nghiệp và chính nghiệp. Tà nghiệp phải sửa, chính nghiệp phải
giữ. Nghiệp có thân nghiệp (do hành động gây ra), khẩu nghiệp, ý nghiệp.
Chính mệnh: tiết chế dục vọng, giữ điều răn.
Chính tinh tiến: hăng hái truyền bá chân lý của Phật.

kim, hưởng lạc, cực đoan cá nhân chủ nghĩa, thậm chí tham ô hủ hóa, trộm cắp buôn lậu, ma túy, mãi
dâm, v.v… Quan niệm vô ngã của Phật giáo giúp làm giảm sự chấp trước với hiện thực, làm phai nhạt
sự hưởng thụ, danh lợi, nâng cao cõi tinh thần.
Thực chất của quan niệm giải thoát là siêu việt ý nghĩa sinh mệnh, là nâng cao cõi tinh thần, khiến cho
con người có thể dùng nhãn quan chung cực lâu dài để khách quan và bình tĩnh suy xét lại quãng
đường đã qua, xem xét các khiếm khuyết của tự thân và không ngừng cố gắng chuẩn mực hóa tự thân.
Phật giáo coi giải thoát là nghiệp báo của cá nhân, là lạc quả mà thiện nghiệp giành được.
1.2.2. Làm hòa dịu mâu thuẫn người với người, gìn giữ hòa bình thế giới:
Mối quan hệ người-người nói ở đây cũng là quan hệ giữa người này với người khác, người với xã hội,
người với dân tộc, người với quốc gia. Mối quan hệ người- người trên thế giới hiện nay có hai vấn đề
chính là: - Xung đột cục bộ diễn ra không dứt, gây ra bởi các nhân tố va chạm lợi ích dân tộc, tôn giáo,
lãnh thổ, tài nguyên, nhân dân một số nơi đang chịu khổ nạn chiến tranh; trong khi vấn đề an ninh
truyền thống chưa được giải quyết thì các vấn đề an ninh phi truyền thống như chủ nghĩa khủng bố lại
ngày một gay gắt; - Phân hóa giàu nghèo Nam - Bắc ngày càng mở rộng, khá nhiều người còn sống
nghèo khổ, đói rét. Xét về lí luận, một số quan niệm cơ bản của Phật giáo có ý nghĩa hiện thực nhất
định trong việc hóa giải các vấn đề trên.
Hòa bình và chung sống hòa bình là vấn đề lớn nhất. Hai cuộc đại chiến trong thế kỉ XX làm cho hàng
chục triệu sinh linh bị tàn sát; nếu trong thế kỉ XXI lại xảy ra đại chiến thế giới thì loài người có thể
cùng nhau bị tiêu diệt. Muốn tránh chiến tranh thì phải tiêu diệt nguồn gốc chiến tranh; một trong các
nguồn gốc đó là không hiểu lí lẽ Duyên khởi: loài người phải dựa nhau mà sinh tồn, lợi ta phải lợi
người; không coi trọng hòa giải, hiểu nhau, mà coi kẻ khác là cừu địch, không tôn trọng sinh mệnh kẻ
khác. Tư tưởng bình đẳng của Phật giáo có nghĩa là tôn trọng nhau, là hòa bình. Tư tưởng từ bi thể
hiện sự đồng tình, thương yêu quan tâm người khác, cũng xa rời chiến tranh, gìn giữ hòa bình. Từ bi tế
thế và “ngũ giới”, “thập thiện” đều lấy “không sát sinh” làm đầu. Từ ngày pháp sư Thái Hư ra sức đề
xướng Phật giáo nhân gian, Phật giáo Trung Quốc luôn quan tâm gìn giữ hòa bình thế giới. Phật giáo
phát huy tác dụng quan trọng độc đáo không thể thay thế trong việc gìn giữ hòa bình thế giới.
Sự phân hóa giàu nghèo Nam - Bắc, một số người sống nghèo khổ còn là căn nguyên gây ra loạn lạc,
trực tiếp đe dọa hòa bình khu vực và thế giới. Quan niệm bình đẳng từ bi của Phật giáo là phương
hướng hóa giải các vấn đề đó. Sự bố thí là một pháp môn tu trì quan trọng, tức dùng lòng từ bi để tạo
phúc cho người khác, cho họ của cải, sức khỏe và trí tuệ.

trung tâm sinh vật”. Phật giáo còn đề xuất ăn chay, phóng sinh, vừa có lợi cho sức khỏe con người,
vừa giúp cho việc gìn giữ môi trường cân bằng.
Sau cùng, thuyết lí tưởng của Phật giáo coi thế giới cực lạc là thế giới lí tưởng, là nơi môi trường tuyệt
hảo, không khí trong lành, cỏ cây tươi tốt, chim hót vượn kêu. Xưa nay Phật giáo thích xây chùa dựa
vào núi, bên dòng suối. Có thể nói Phật giáo gương mẫu coi trọng môi trường gìn giữ sinh thái.
2. Giá của Đạo Phật trong việc xây dựng hệ tư tưởng của thế hệ trẻ:
Ngày nay ở nước ta Phật giáo không còn ở vị trí chính thống Nhà trường ở các cấp học phổ thông
không có chương trình giảng dạy lịch sử, triết lý, đạo đức Phật giáo một cách hệ thống. Số gia đình
Phật tử cũng không còn đông như trước đây. Sinh viên các trường Đại học chỉ nhận được rất ít kiến
thức sơ bộ về Phật giáo thông qua bộ môn “lịch sử triết học Phương Đông”, trừ những khoa chuyên
ngành Triết học. Vì thế phần lớn những hiểu biết của chúng ta về Phật giáo trước hết là chịu ảnh
hưởng tự nhiên của gia đình, sau đó là từ bạn bè, thầy cô và những mối quan hệ xã hội khác. Trong đó
5 | P a g e
Tiểu Luận Triết Học
ảnh hưởng của gia đình có tác động lớn lên mỗi chúng ta. Nếu trong mỗi gia đình mọi người đều theo
đạo phật hoặc không theo một tôn giáo nào nhưng vẫn giữ tập tục quan trọng đi lễ chùa vào những
ngày âm quan trọng như ngày Tết, lễ, rằm Người già thường nói chuyện với con cháu về Đức Phật,
Bồ Tát, về đạo lý làm người dựa vào các giáo lý Phật giáo. Những suy nghĩ quan niệm này có thể phai
nhạt, thậm chí đi ngược lại khi ta gặp một trào lưu tư tưởng mới, đem lại một thế giới quan mới từ
trong môi trường gia đình chúng ta phần nào đó chịu ảnh hưởng của đạo phật nhưng không sâu sắc
như các triều đại trước và mục đích tìm đến Đạo phật không còn mang tính hướng đạo chân chính như
trước kia nữa. Do nhiều nguyên nhân nhưng trước hết do sự xâm nhập của nhiều trào lưu tư tưởng, học
thuyết Phương Tây vào nước ta cách đây vài ba thế kỷ.
Ta cũng có thể thấy rằng những tư tưởng Phật giáo cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống của thanh
thiếu niên hiện nay. Như ở các trường phổ thông, các tổ chức đoàn, đội luôn phát động các phong trào
nhân đạo như “ Lá lành đùm lá rách”, “ quỹ giúp bạn nghèo vượt khó” , “quỹ viên gạch hồng”
Chính vì vậy ngay từ nhỏ các em học sinh đã được giáo dục tư tưởng nhân đạo, bác ái, giúp đỡ người
khác mà cơ sở của nền tảng ấy là tư tưởng giáo lý nhà Phật đã hoà tan với giá trị truyền thống của con
người Việt Nam. Lên đến cấp III và vào Đại học, những thanh thiếu niên có những hoạt động thiết
thực hơn. Việc giúp đỡ người khác không phải hạn chế ở việc xin bố mẹ tiền để đóng góp mà có thể

đọa. Những bậc làm cha mẹ phải có bổn phận giáo dưỡng, bậc làm thầy phải có trách nhiệm đem đạo
đức mà giáo hóa con trẻ, lãnh đạo quốc gia phải có trách nhiệm bảo vệ lớp trẻ khỏi những loại văn hóa
đồi trụy và tất cả cùng có ý thức trách nhiệm chung.
Một điều rõ ràng rằng, trong một gia đình những người con được nên người, thành danh phần lớn nhờ
vào sự giáo dục cũng như tình thương của cha mẹ. Trong một ngôi chùa, người đệ tử để trở thành một
con người có đủ tài đức thì sự góp sức từ người thầy không nhỏ. Trong xã hội, một con người thành
tựu nên được tài đức, hẳn có sự tương tác từ nhiều giai tầng xã hội. Nhưng trong mối quan hệ hỗ
tương, người đệ tử cũng có thể góp phần đem lại sự thành công cho thầy mình trong việc xiển dương
Phật pháp hay đem lại sự hãnh diện cho gia đình nói riêng và cho đạo pháp nói chung. Một con người
dù tài năng đến đâu, nếu không có được sự giúp sức của người khác thì vẫn gặp rất nhiều hạn chế
trong công việc của mình.
Có một lĩnh vực vô cùng quan trọng, nhưng có lẽ lớp trẻ đang thiếu, đó là đạo đức tâm linh. Tâm linh
là tiếng lòng vô cùng mầu nhiệm và huyền bí. Tâm linh có thể chuyển hóa con người hướng thiện, khi
họ thật sự hiểu được và hiểu đúng giá trị đích thực của cuộc sống. Hành trình tâm linh giúp con người
từ phàm phu tục tử trở nên thánh thiện. Hành trình tâm linh đi từ mảnh đất tâm và đích đến cũng là
mảnh đất tâm. Đây là tiến trình để hoàn thiện phẩm hạnh đạo đức. Nó không phải là sản phẩm chỉ
dành riêng cho tầng lớp xuất gia mà nó là cơ hội, là nền tảng để mọi người cùng thể nghiệm. Con
đường này dễ dàng thực tập đối với ai có chí hướng thiện, nhưng nó cũng vô cùng khó đối với ai xem
thường giá trị đạo đức.
Cuộc sống là một chuỗi móc xích các tầng lớp xã hội, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau. Mỗi lĩnh
vực là một môn học mà ta có thể học hỏi và hoàn thiện nhân cách đạo đức. Mỗi lĩnh vực đều có những
điểm riêng nhưng tất cả đều có chung một hướng đến là đem lại nguồn tri thức cho con người. Tôn
giáo là một bộ phận quan trọng trong hệ thống xã hội, vì tôn giáo có thể giúp con người phát triển đạo
đức và hoàn thiện nhân cách.
Sở dĩ lớp trẻ ngày nay ở một số nơi, đánh mất đạo đức, sống thực dụng và buông thả, cũng vì người ta
chưa nhận thấy được giá trị của đạo đức tôn giáo. Đạo Phật sẽ làm gì đối với tình trạng đạo đức đang
suy thoái của một bộ phận xã hội hiện nay? Việc giáo dục lớp trẻ vô cùng quan trọng. Một thế hệ tốt
phải dựa trên nền tảng giáo dục đạo đức tốt. Do đó, giáo dục không chỉ là dạy và học mà trong đó
không thể thiếu đi yếu tố đạo đức và yếu tố nhân văn.
Giáo dục tuổi trẻ trong Phật giáo và thế gian có phần khác biệt, có thể xem hình ảnh La-hầu-la là biểu

thuộc về ý thức: không tham lam, không thù hận, không si mê; bốn điều thuộc về khẩu: không nói dối,
không nói thêu dệt, không nói hai chiều, không ác khẩu). Những chuẩn mực này, nếu lược bỏ màu sắc
mang tính chất tôn giáo, sẽ là những nguyên tắc ứng xử phù hợp giữa người với người, rất có ích cho
việc duy trì đạo đức xã hội. Phải nói rằng, tôn giáo đã đề cập trực tiếp đến những vấn đề đạo đức cụ
thể của cuộc sống thế tục và ít nhiều mang giá trị nhân văn. Trên thực tế, những giá trị, chuẩn mực đạo
đức của các tôn giáo có ý nghĩa nhất định trong việc duy trì đạo đức xã hội.
Như vậy, có thể khẳng định rằng đạo Phật hay bất cứ tôn giáo nào cũng đều có một mảng đạo đức và
đạo đức ấy mang tính đặc thù, đồng thời, có sự giao thoa giữa những giá trị đạo đức của xã hội nói
chung với đạo đức tôn giáo. Đạo đức tôn giáo cũng có một số giá trị nhất định trong đời sống xã hội,
là một trong những nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ tới nền đạo đức xã hội. Do đạo Phật có sự đồng hành
lâu dài với loài người xuyên suốt lịch sử, nên có thể xem nó như một phần văn hóa của nhân loại.
Trong quá trình phát triển và phổ biến trên bình diện thế giới, đạo Phật không chỉ đơn thuần chuyển tải
8 | P a g e
Tiểu Luận Triết Học
niềm tin, mà còn có vai trò chuyển tải, hòa nhập văn hóa và văn minh, góp phần duy trì đạo đức xã hội
nơi trần thế.
Đạo đức Phật giáo nói riêng đều hướng con người đến những giá trị nhân bản, góp phần tích cực vào
việc hoàn thiện đạo đức cá nhân. Tinh thần “từ bi” trong Phật giáo không chỉ hướng đến con người,
mà còn đến cả muôn vật, cỏ cây. Phật giáo kêu gọi lòng nhân đạo, yêu thương và bảo vệ sự sống. Đặc
biệt, trong quan hệ giữa con người với con người, Phật giáo muốn tình yêu thương ấy phải biến thành
hành động xoa dịu nỗi đau, cứu giúp những người đau khổ hoặc đoàn kết giữ gìn hòa bình. Ngày nay,
thế giới biến động, con người sống trong lo sợ bởi bạo lực hoành hành. Đạo đức của lớp trẻ lại bị biến
thoái trầm trọng, Phật giáo cũng như mọi tôn giáo trên thế giới muốn giải thoát con người khỏi đau
khổ, và con người cần phải tự hoàn thiện đạo đức cá nhân, diệt trừ tham-sân-si, xóa bỏ vô minh, chặt
đứt phiền não để vượt qua biển khổ luân hồi. Tình yêu tha nhân trong Phật giáo hay các tôn giáo khác
không đơn thuần là tình yêu trong tâm tưởng mà được cụ thể hóa, như kẻ đói được cho ăn, kẻ rách
được cho mặc, chăm sóc người ốm đau, bệnh hoạn, khuyên can người lầm lỗi Tóm lại, đây là những
hành vi đạo đức rất cụ thể, rất thiết thực khi trong xã hội còn nhiều cảnh khổ cần được cứu vớt, giúp
đỡ là điều mà bản thân Phật giáo nói chung hay Tôn giáo nói riêng cần phải góp bàn tay nhân ái để
xoa dịu, làm lắng đọng nỗi đau, giúp thế hệ trẻ vững bước trước những cám dỗ đời thường. Có như thế

10 | P a g e
Tiu Lun Trit Hc
1. Nguyễn Duy Cần - Tinh hoa Phật giáo (NXB thành phố HCM) - 1997
2. Thích Nữ Trí Hải dịch - Đức Phật đã dạy những gì (con đờng thoát khổ) (NNXB Tôn giáo -
2000 )
3. PGS Nguyễn Tài Th
- ảnh hởng của các hệ t tởng và tôn giáo đối với con ngời Việt Nam hiện nay ( Nhà xuất bản
chính trị quốc gia - 1997).
- Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1 ( NXB quốc gia - 1993)
4.Thích thiện Siêu dịch - Lời Phật dạy ( NXB Tôn giáo - 2000)
5. PTS. Phơng Kỳ Sơn - Lịch sử Triết học (NXB chính trị quốc gia - 1999)
6. Lý Khôi Việt - Hai nghìn năm Việt Nam và Phật giáo.
7. Viện triết học - Lịch sử Phật giáo Việt Nam (NXB khoa học xã hội Hà Nội - 1988 )
8. Nhiều tác giả - Mời tôn giáo lớn trên thế giới (1999)
11 | P a g e


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status