skkn tìm HIỂU và vận DỤNG NGUYÊN tắc đảm bảo TÍNH hệ THỐNG NHẰM PHÁT TRIỂN tư DUY CHO học SINH TRONG dạy học địa lý 10 - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI

TÌM HIỂU VÀ VẬN DỤNG NGUN TẮC ĐẢM
BẢO TÍNH HỆ THỐNG NHẰM PHÁT TRIỂN
TƯ DUY CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
ĐỊA LÝ 10

GIÁO VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ LINH
TỔ SỬ – ĐỊA - GDCD
LONG KHÁNH
THÁNG 5/2013


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................................2
1. Lý do chọn đề tài....................................................................................................2
2. Mục tiêu nghiên cứu...............................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu.............................................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................3
5. Phạm vi nghiên cứu và ứng dụng...........................................................................3
6. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu.....................................................................3
7. Cấu trúc của đề tài..................................................................................................4
PHẦN NỘI DUNG........................................................................................................5
1. Cơ sở lý luận...........................................................................................................5
1.1. Hệ thống khoa học Địa lí................................................................................5
1.2. Hệ thống tri thức Địa lí trong nhà trường phổ thông.....................................8
1.3. Đảm bảo tính hệ thống trong việc dạy học môn Địa lí..................................11

luôn luôn tìm cách mở rộng không gian hiểu biết của mình từ cái nôi à ơi, đến
cái nhà, cái sân, mảnh vườn của mình, đến khi lớn lên, đó chính là không gian
sống, học tập, làm việc và giao tiếp. Và khoa học Địa lí cũng bắt đầu hình thành
từ khi con người biết tìm cách khám phá Trái Đất nhằm mục đích sinh sống,
chinh phục, tìm kiếm những miền đất mới. Con đường phát triển của khoa học
Địa lí không phải là một con đường trơn tru, thẳng tắp mà bao gồm những bước
thăng trầm, những thời kỳ khủng hoảng và cả các giai đoạn hưng thịnh. Khoa
họa Địa lí là một trong những khoa học cổ nhất của nhân loại, là một trong
những khoa học cơ bản mà ai cũng cần phải học và ít nhiều vận dụng trong đời
sống hằng ngày. Chính vì lẽ đó, việc dạy và học môn Địa lí một cách khoa học,
một cách có hệ thống luôn luôn được đặt ra vì để người học thấm nhuần được
những tri thức của khoa học Địa lí thông qua chương trình SGK phải có một quá
trình lâu dài từ bậc tiểu học, THCS, THPT, xa hơn nữa là bậc đại học và cả
trong thực tiễn đời sống hằng ngày. Trong suốt quá trình đó, người giáo viên
đóng vai trò cung cấp và hệ thống lại tri thức Địa lí giúp cho học sinh lĩnh hội
được những tri thức đó, đồng thời phát triển tư duy của học sinh, nhất là tư duy
logic.
Trong giai đoạn hiện nay, việc tiến hành giảng dạy một khối lượng kiến
thức lớn đến học sinh một cách có hiệu quả thì việc phân tích tính hệ thống cũng
như đảm bảo tính hệ thống về kiến thức trong SGK Địa lí 10 là một điều hết sức
cần thiết. Qua việc phân tích tính hệ thống trong SGK, giáo viên có thể tự tin
chuyển tải các kiến thức theo từng chương, từng bài, đồng thời giúp học sinh
phát triển tư duy qua hệ thống bài đó.
2. Mục tiêu nghiên cứu
3


Bài viết này mong muốn đóng góp ý kiến nhỏ trong việc giảng dạy bộ
môn Địa lý ở trường THPT và cung cấp những nguyên tắc cơ bản đảm bảo tính
hệ thống nhằm phát triển tư duy cho học sinh.

Đưa ra các dẫn chứng cụ thể, những ứng dụng trong việc giảng dạy môn

Địa lí nhằm đảm bảo tính hệ thống.

4




Xây dựng một số giáo án nhằm ứng dụng trong thực nghiệm theo xu

hướng đảm bảo tính hệ thống trong hoạt động dạy học, bước đầu đạt được một
số kết quả.
7. Cấu trúc của đề tài
Đề tài gồm 3 phần
Phần mở đầu
Phần nội dung
Phần kết luận
Tài liệu tham khảo

5


PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
1.1. Hệ thống khoa học Địa lí
Theo GS Vũ Tự Lập ,khoa học Địa lí bắt đầu từ thời cổ đại với các công
trình của Hérodote công bố vào năm 456 TCN, mặc dù những hiểu biết về Địa lí
đã có từ hàng ngàn năm trước Công nguyên. Hérodote (485 – 425 TCN), lần
đầu tiên đã cho ra đời những tập thông tin có tổ chức về nhiều mặt, khi ông mô

(1469 – 1524) – một người Bồ Đào Nha thực hiện vào năm 1498. Đại phát kiến
thứ 3 là chuyến đi vòng quanh thế giới trong 3 năm (1519 – 1522) của một
người Bồ Đào Nha làm việc cho vua Tây Ban Nha, Magiellan (1470 – 1521).
Sang thời kì tiền Tư bản chủ nghĩa (thế kỷ XVII – XVIII) và thời kỳ tư
bản chủ nghĩa đánh dấu bộ môn Địa lí được đưa vào giảng dạy ngày càng nhiều
tại các trường đại học. Sự phát triển giáo dục và đào tạo Địa lí khởi đầu từ Đức ,
là ngọn cờ đầu của Địa lí thế kỷ XIX, sau đó đến Pháp và các nước châu Âu
khác, còn Anh và Mỹ thì chậm hơn một chút. Trường đại học nổi tiếng về Địa lí
là trường đại học Tổng hợp Berlin mà ở đó có Humbon – một nhà khoa học nổi
tiếng thế giới đã có nhiều công trình viết về Địa lí, đã từng giảng dạy và để lại
nhiều ấn tượng sâu sắc.
Trong thế kỷ XIX, thế mạnh thuộc về các khoa học Địa lí tự nhiên, vì thế
Địa lí được xếp chung vào khoa học tự nhiên. Điều này được lí giải vì để phát
triển kinh tế chưa biết về tự nhiên thì phải đặt việc nắm bắt các điều kiện tự
nhiên là nhiệm vụ ưu tiên. Địa lí kinh tế hình thành chậm hơn vào cuối thế kỷ
XIX. Kích thích sự ra đời của Địa lí kinh tế là sự phân công lao động trên lãnh
thổ trong sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, là sự phát triển của thống kê học
và của học thuyết về sự định vị các ngành sản xuất vì nghiên cứu phân bố không
gian và mô tả thống kê là các xu hướng chính của Địa lí kinh tế. Sự phân ngành
Địa lí dần dần bộc lộ những nhược điểm khi các công trình phát triển kinh tế xã hội hoặc cải tạo tự nhiên ở quy mô lớn. Tất cả các nhà nghiên cứu Địa lí nổi
tiếng trong thế kỷ XIX có thể tập trung theo 3 khuynh hướng chính đó là khuynh
hướng nghiên cứu vùng, nghiên cứu quan hệ con người – môi trường Địa lí và
khuynh hướng nghiên cứu cảnh quan.
7


Trong nửa đầu thế kỷ XX, khoa học Địa lí không nổi bật như trong thế kỷ
XIX. Bước vào thế kỷ XX, hầu như mọi nơi trên Trái đất đều đã được tìm hiểu,
không còn sự thu hút của các đại phát kiến địa lý. Bản thân khoa học Địa lí vẫn
thiên về khoa học tự nhiên tuy có chú ý đến tự nhiên và xã hội con người. Trong

O.E Backer, C.D Sauer…Ngoài các trường phái kể trên không quốc gia nào có
trường phái Địa lí rõ rệt. Đa số đều chịu ảnh hưởng của các trường phái Địa lí
trên.
Vì vậy, Địa lí từ một khoa học thiên về tự nhiên trong nhiều thế kỷ (thế kỷ
XVII – nửa đầu thế kỷ XX) đã trở thành một khoa học thiên về khoa học xã hội.
Sự biến đổi ấy đã làm cho Địa lí cuối thế kỷ XX thâm nhập vào cuộc sống của
mọi người, được mọi người cần đến, từ những nhà chiến lược toàn cầu, khu vực
quốc gia đến địa phương cho tới nhà doanh nghiệp hay một người muốn đi du
lịch, nghỉ ngơi, giải trí.
Lịch sử khoa học Địa lí là một quá trình với những phát kiến vĩ đại, thăng
trầm. Tuy nhiên, mỗi giai đoạn đều chứa đựng những di sản quý báu của quá
khứ, làm cho Địa lí học được củng cố, giữ vững vị trí của mình trong toàn bộ hệ
thống các ngành khoa học phong phú và đa dạng.
Như vậy, có rất nhiều trường phái địa lí đã được đặt ra. Quan điểm nào
đúng, quan điểm nào sai đến nay chúng ta vẫn chưa có câu trả lời. Tuy nhiên, ở
Việt Nam xét về hệ thống khoa học Địa lí đến nay chúng ta vẫn kế thừa tư tưởng
hệ thống khoa học Địa lí theo trường phái Nga bao gồm 2 nhóm: Địa lí tự nhiên
và Địa lí kinh tế xã hội. Nhưng trong chương trình địa lí phổ thông, các tư tưởng
Địa lí được đan xen, kết hợp với nhau bao gồm cả trường phái Nga và trường
phái phương Tây.
1.2. Hệ thống tri thức Địa lí trong nhà trường phổ thông
Các tri thức Địa lí trong nhà trường phổ thông bao gồm một hệ thống kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo Địa lí được lựa chọn trong hệ thống tri thức khoa học Địa
lí và được sắp xếp theo một trình tự nhất định nhằm cung cấp nội dung học vấn
và giáo dục học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông.
Hệ thống tri thức Địa lí được lựa chọn để đưa vào chương trình học trong
nhà trường phổ thông phải là những vấn đề cơ bản nhất, được hiểu là những tri
9




ánh bản chất của sự vật, hiện tượng Địa lí với các đặc điểm và mối quan hệ bên
trong chúng, bao gồm: các khái niệm Địa lí, các mối quan hệ nhân quả, các quy
luật, các thuyết, các tư tưởng, các vấn đề phương pháp luận của Địa lí học, các
kiến thức về phương pháp học tập và nghiên cứu Địa lí…
10


- Các khái niệm Địa lí: Là sự phản ánh trong tư duy những sự vật, hiện tượng
Địa lí đã được trừu tượng hóa và khái quát hóa, dựa vào các dấu hiệu bản chất
sau khi đã tiến hành các thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp), gồm 3
nhóm: Khái niệm Địa lí chung, khái niệm Địa lí riêng và khái niệm Địa lí tập
hợp.
+ Các khái niệm Địa lí chung: Là những khái niệm được hình thành để chỉ
toàn bộ các sự vật hiện tượng Địa lí cùng loại, có những thuộc tính giống nhau:
sông, biển, núi…
+ Các khái niệm Địa lí riêng: Là khái niệm chỉ những sự vật, hiện tượng
Địa lí riêng biệt, ví dụ: Sông Hồng, núi Chứa Chan, Thành phố Biên Hòa…
+ Các khái niệm Địa lí tập hợp: Là những khái niệm Địa lí trung gian giữa
các khái niệm Địa lí chung và Địa lí riêng. Ví dụ: “sông” là khái niệm Địa lí
chung, sông Hồng là khái niệm Địa lí riêng, “sông Châu Âu”, “sông Châu Á”
là khái niệm Địa lí tập hợp.
- Các mối nhân quả Địa lí: Là những mối quan hệ biểu hiện tương quan phụ
thuộc một chiều giữa các sự vật hiện tượng và quá trình Địa lí. Các mối quan
hệ nhân quả có thể chia ra:
 Các mối quan hệ nhân quả đơn giản và mối quan hệ nhân quả phức tạp.
 Các mối quan hệ trực tiếp và mối quan hệ nhân quả gián tiếp.
- Các quy luật Địa lí: Là những kiến thức được khái quát hóa biểu hiện các mối
quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng và quá trình Địa lí có bản chất cố định. Ví
dụ: quy luật địa đới, phi địa đới…

1.3. Đảm bảo tính hệ thống trong việc dạy học môn Địa lí
trong nhà trường phổ thông
Tính hệ thống là dấu hiệu đặc trưng của tri thức khoa học, khi xét đến
nguyên tắc này, ta thấy nó yêu cầu đảm bảo không chỉ đối với nội dung dạy học
mà còn có ý nghĩa đối với việc lĩnh hội tri thức của học sinh. Tất nhiên, hệ thống
tri thức này không nhất thiết phải phản ánh hoàn toàn đúng thực tế của hệ thống
khoa học Địa lí, bởi vì chương trình học cũng giống như SGK ở trường phổ
thông còn phụ thuộc vào một số yêu cầu nữa về mặt Sư Phạm, nhưng về cơ bản
nó vẫn phù hợp với logic của khoa học Địa lí. Chẳng hạn như: Địa lí đại cương
được học trước Địa lí khu vực, Địa lí tự nhiên được học trước Địa lí kinh tế xã
hội…

12


Giáo viên cần phải quan tâm đến việc nghiên cứu chương trình và SGK
không chỉ ở lớp mình, cấp mình đang dạy mà cả ở những cấp, những lớp khác
có liên quan. Có như vậy mới thấy được vị trí của giáo trình mình phụ trách
trong toàn bộ hệ thống tri thức ở nhà trường phổ thông, mới thấy hết mối liên hệ
của nó với các giáo trình khác.
Ngoài ra, giáo viên Địa lí cũng còn phải chú ý tìm hiểu các mối quan hệ
liên môn, bởi vì trong khi xây dựng chương trình những mối quan hệ liên môn
cũng đã được cân nhắc để quy định thứ tự sắp xếp các môn học trong kế hoạch
dạy học ở trường phổ thông. Điều đó có nghĩa là mỗi môn học đều có những
quan hệ về mặt tri thức với các môn học khác, dựa vào các môn đó và phục vụ
cho các môn đó. Địa lí là môn học có nhiều tri thức liên quan đến các môn toán,
sinh, lý, lịch sử, kinh tế…Do đó, việc nghiên cứu hệ thống tri thức của môn Địa
lí không thể tách rời khỏi việc nghiên cứu các mối quan hệ liên môn này.
1.4. Đặc điểm tâm lí và quá trình phát triển tư duy học sinh
THPT

chung, đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, khỏe, đẹp. Đa số các
em có thể đạt được những khả năng phát triển về cơ thể như người lớn. Vai trò
xã hội và hứng thú của thanh niên không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi
mà còn biến đổi cả về chất lượng. Ở gia đình, thanh niên đã có những quyền lợi
và trách nhiệm của người lớn.


Đặc điểm hoạt động học tập

Sự khác nhau cơ bản ở chỗ là không phải nội dung học tập ngày càng sâu
sắc hơn mà ở chỗ hoạt động của thanh niên và học sinh đòi hỏi tính năng động
và tính độc lập ở mức độ cao hơn, muốn nắm vững chương trình một cách sâu
sắc thì cần phải phát triển tư duy lí luận.
Học sinh càng trưởng thành, kinh nghiệm càng phong phú, các em càng ý
thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng của cuộc đời. Do vậy, thái độ ý
thức của các em ngày càng phát triển.
Thái độ của học sinh đối với môn học trở nên có sự lựa chọn hơn, các em
đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp.

14


Lúc này động cơ thúc đẩy học tập là động cơ thực tiễn (ý nghĩa thực tiễn của các
môn học đối với cá nhân, khả năng tiếp thu môn học của các em).


Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ

Ở tuổi thanh niên, học sinh ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong
hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa

thức nền cơ bản cho bậc học sau này, nhưng đồng thời cũng ôn lại các kiến thức
đã được giảng dạy trong bậc học THCS. Chính vì vậy, các kiến thức được được
giảng dạy trong lớp 10 đa số là kiến thức chung. Trong độ tuổi này, các em cũng
đang phát triển về tư duy, trí não phát triển giúp quá trình tư duy của các em
được nâng lên nhiều.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn này việc hình thành thế giới quan, hệ thống
quan điểm về xã hội, về tự nhiên, về các quy tắc cư xử dần dần xuất hiện. Trong
giai đoạn này, nhân cách được phát triển tương đối cao thì các em mới có xuất
hiện những nhu cầu đưa các tiêu chuẩn, nguyên tắc đó vào một hệ thống hoàn
chỉnh. Và khi đó đã đưa vào một hệ thống quan điểm riêng thì độ tuổi này không
chỉ hiểu về thế giới quan mà còn đánh giá được nó, xác định được thái độ của
mình với nó nữa.
Một nhu cầu nữa ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy của học sinh của lứa
tuổi này chính là nhu cầu giao tiếp. Từ lớp 9 chuyển sang lớp 10, thay đổi về
môi trường học, thay đổi về bạn bè, nhu cầu giao tiếp trong đám bạn là điều
đáng quan tâm. Đây là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất. Điều quan trọng đối
với các em là được sinh hoạt với các bạn cùng lứa tuổi. Chính vì vậy, trong công
tác giáo dục cũng cần phải chú ý ảnh hưởng của nhóm, hội trong nhà trường.
Trong độ tuổi này, giáo viên phải biết cách xây dựng các hoạt động đa
dạng, phong phú, hấp dẫn lôi cuốn thanh niên tham gia để phát triển nhân cách
một cách lành mạnh, đúng đắn. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
tác động đến ý thức của học sinh. Và điều cần thiết nhất trong lứa tuổi này là
trong tiết dạy của mình, giáo viên phải biết phát huy khả năng sáng tạo của học
sinh, phát triển tư duy lí luận và tư duy trừu tượng. Làm được điều đó, bài học
mới đảm bảo các yêu cầu và mục tiêu đề ra.

16


1.4.3. Tìm hiểu việc đảm bảo tính hệ thống trong hoạt

17


nhóm các em thực hiện khá tốt, qua hoạt động này các em phát huy được tính
đồng đội rất cao.
- Về thái độ họ tập của học sinh: Các em nhiệt tình tham gia hoạt động
trên lớp học, đối với các câu hỏi khó, cần yêu cầu tư duy thì các em đều chịu
khó tìm hiểu và chủ động phát biểu. Trong các hoạt động giao việc về nhà sưu
tầm tài liệu, làm bài thuyết trình trước lớp cũng được các em tích cực hưởng
ứng.


Trường THPT DL Văn Hiến

Đây là ngôi trường dân lập thành lập đầu tiên ở tỉnh Đồng Nai, chất lượng
khá tốt, trường không thực hiện chia lớp theo phân ban như trường THPT Long
Khánh, các em đều học chương trình cơ bản.
- Về phương pháp: Các thầy cô trong tổ bộ môn vận dụng cả phương
pháp truyền thống và phương pháp tích cực. Nội dung bám sát sách giáo khoa.
- Về hình thức tổ chức hoạt động trên lớp: Hoạt động theo cá nhân,
nhóm/cặp được học sinh thực hiện nhằm khai thác tri thức trong bài học. Tuy
nhiên, hoạt động thảo luận nhóm vẫn chưa thật sự đạt nhiều hiệu quả. Hệ thống
kênh hình, sơ đồ vẫn chưa khai thác triệt để.
- Về thái độ họ tập của học sinh: Các em tích cực trong giờ lên lớp, tích
cực xây dựng bài. Nhưng hoạt động tìm hiểu và thuyết trình trước lớp thì chưa
nhiều.


Trường THPT TT Trương Vĩnh Ký


tâm với ba khối kiến thức cơ bản chủ yếu về địa lí đại cương (tự nhiên và kinh
tế xã hội đại cương), Địa lí thế giới (khu vực và các nước), Địa lí tổ quốc (tự
nhiên và kinh tế xã hội). Các kiến thức này bắt đầu được đưa vào từ bậc tiểu
học (chủ yếu trong môn tự nhiên và xã hội) dưới dạng đơn giản rồi trở thành
môn độc lập ở bậc THCS và được hoàn thiện ở bậc THPT. Do đó, chương trình
Địa lí 10 là một phần của chương trình Địa lí THPT, một mặt có sự kế thừa,
nâng cao các kiến thức đã có ở bậc THCS, mặt khác là tiền đề để trang bị các
kiến thức tiếp theo ở lớp 11, 12.
19


Chương trình Địa lí 10 bao gồm chương trình cơ bản và chương trình
nâng cao. Giữa hai chương trình này có sự chênh lệch về thời lượng kiến thức
nhưng không đáng kể như chương trình phân ban và được triển khai vào thập
niên 90 của thế kỷ XX.
 Về kiến thức: Chương trình Địa lí 10 cơ bản được cấu tạo bởi hai phần
kiến thức: Địa lí tự nhiên đại cương và kinh tế xã hội đại cương.
* Phần tự nhiên đại cương: chiếm ½ thời lượng chương trình. Bộ khung
kiến thức cốt lõi được thiết kế bao gồm:
- Bản đồ
- Vũ trụ - Hệ quả chuyển động của Trái đất.
- Cấu trúc của Trái đất – các quyển của lớp vỏ địa lí.
- Một số qui luật của lớp vỏ địa lí.
* Phần địa lí kinh tế xã hội đại cương: chiếm ½ thời lượng chương trình.
Bộ khung kiến thức cốt lõi được thiết kế bao gồm:
- Địa lí dân cư
- Cơ cấu nền kinh tế
- Địa lí nông nghiệp
- Địa lí công nghiệp
- Địa lí dịch vụ

2.2.3.1. Khí quyển
Các nội dung chính bao gồm: Khí quyển, sự phân bố nhiệt độ không khí, sự
phân bố khí áp, một số loại gió chính, ngưng đọng hơi nước và mưa.
2.2.3.2. Thủy quyển
Các nội dung chính bao gồm: tuần hoàn của nước trên Trái đất, một số nhân
tố ảnh hưởng đến chế độ nước sông, một số sông lớn trên thế giới, sóng, thủy
triều và dòng biển.
21


2.2.3.3. Thổ nhưỡng quyển và sinh quyển
Các nội dung chính bao gồm: Khái niệm thổ nhưỡng và sinh quyển, các nhân
tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của thổ nhưỡng và sinh quyển.
2.2.4. Một số quy luật của lớp vỏ địa lí
Khái quát lớp vỏ địa lí, ba quy luật: thống nhất và hoàn chỉnh cảu lớp vỏ địa
lí, quy luật địa đới và phi địa đới.
 Về mặt thực hành: các nội dung đều tập trung vào việc làm rõ lý thuyết,
rèn luyện kỹ năng đọc và phân tích bản đồ qua các thành phần tự nhiên, số liệu
thống kê, phân tích biểu đồ.
 Nội dung mới và khó: Bản thân kiến thức là tương đối trừu tượng, đòi
hỏi phải tư duy nhiều hơn. GV trước năm học 2005 - 2006 không phải dạy phần
Địa lí tự nhiên, do đó, khi dạy phần này nhiều GV thấy lúng túng. HS phải kế
thừa những kiến thức từ lớp 6 và 7 thì mới tiếp thu được nội dung này. Hơn nữa
về mặt tâm lí, môn Địa lí lâu nay được xếp vào các môn xã hội, đối với các học
sinh học không tốt các môn tự nhiên, học sinh ở vùng sâu vùng xa sẽ gặp nhiều
khó khăn.
2.3. Kiến thức Địa lí kinh tế xã hội
 Về lí thuyết: phần này tập trung vào 6 nội dung:
2.3.1. Địa lí dân cư
Các nội dung cơ bản về Địa lí dân cư: dân số, sự gia tăng dân số, cơ cấu

lượng phần địa lí kinh tế xã hội chương trình chuẩn ít hơn 5 tiết.
- Về cấu trúc: Các chương, bài của phần địa lí kinh tế xã hội được sắp xếp trong
SGK Địa lí hiện hành hợp lí hơn, hệ thống và cập nhật hơn.
- Về nội dung: SGK chương trình chuẩn phần địa lí kinh tế xã hội thay đổi theo
một số hướng chính là:
+ Bổ sung những nội dung mới trước đây chưa đưa vào SGK

23


* Cơ cấu nền kinh tế: Các nguồn lực để phát triển kinh tế, các bộ phận hợp
thành cơ cấu nền kinh tế.
* Địa lí dịch vụ: Có thêm bài thông tin liên lạc (hiện nay đã đưa vào giảm tải).
* Môi trường và sự phát triển bền vững.
+ Trên cái nền về Địa lí kinh tế xã hội đã bổ sung thêm và nhấn mạnh đến tổ
chức lãnh thổ.
+ Hiện đại hóa và cập nhật kiến thức: Trong SGK Địa lí 10 cũ chưa có hiện đại
hóa và cập nhật hóa, chẳng hạn như trong phần Địa lí công nghiệp đã xuất hiện
khái niệm công nghiệp hóa, tách công nghiệp điện tử tin học ra khỏi ngành công
nghiệp cơ khí.
2.4. Liên hệ tính hệ thống trong chương trình THCS
Chương trình THCS gồm các lớp 6, 7, 8, 9 và được đưa vào giảng dạy từ
năm 2001 – 2002, bắt đầu từ lớp 6. Nếu SGK cũ chỉ có hai màu chủ đạo là đen
và trắng thì SGK mới được in các hình màu trên giấy khổ lớn, dễ gây sự chú ý
và hứng thú cho học sinh. Nội dung của chương trình Địa lí 6 và 7 cũng chính là
cơ sở cho Địa lí 10. Xét trong cấu trúc chương trình SGK Địa lí 6 chúng ta có
thể thấy trong hai chương của lớp 6: “Chương I – Trái đất, chương II – Các
thành phần tự nhiên của Trái đất” thì đến phần Địa lí 10, nội dung đó được đề
cập trong 3 chương (I, II và III) nhưng trình bày sâu hơn và tỉ mỉ hơn. Để nắm
được phần tự nhiên 10 thì cần phải có nền tảng từ lớp 6. Tương tự như vậy để

- Một số vấn đề mang tính toàn cầu như: bùng nổ dân số, già hóa dân số,ô
nhiễm môi trường và hậu quả của nó.


Phần thứ hai đề cập đến Địa lí khu vực và một số quốc gia trên thế giới.
- Đối với khu vực (Liên minh Châu Âu, Đông Nam Á, Tây Nam Á và

Trung Á, Châu Phi, Mỹ Latinh), các nội dung này cập nhật và khoa học hơn.
- Đối với các quốc gia gồm: Hoa Kỳ, Liên Bang Nga, Nhật Bản, Trung
Quốc, Australia, Đức (ban cơ bản), Ban xã hội nhân văn có thêm Ấn Độ, Brasil,
Ai cập và Pháp.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status