Đánh giá một số mô hình khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên có vối thuốc phân bố tại xã chiềng bôm hện thuận châu, tỉnh sơn la - Pdf 37

ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là một hệ sinh thái có khả năng tự tái tạo, tự phục hồi và luôn vận
động phù hợp với điều kiện ngoại cảnh. Với diện tích trên 330 nghìn km với
2/3 diện tích đất là đồi núi lại nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên nguồn tài
nguyên rừng nước ta rất giàu có, đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, trong
những năm gần đây, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà diện tích rừng bị
suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng. Ngày nay với sự phát
triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước cùng với sự gia tăng về dân số, ô
nhiễm môi trường, đô thị hóa, biến đổi khí hậu,… thì việc khôi phục lại hệ
sinh thái rừng là rất cần thiết.
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của rừng, hiện nay nhà nước
ta đã đầu tư nhiều chương trình dự án để phát triển trong đó đặc biệt là các
chương trình giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình của Chính Phủ, chương
trình 327, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng,… tốc độ phục hồi rừng đã tăng
nhanh. Các giải pháp kỹ thuật dựa trên cơ sở lợi dụng triệt để khả năng tái
sinh, diễn thế tự nhiên của thảm thực vật cùng với các giải pháp đúng đắn về
chính sách đất đai, vốn, lao động đã góp phần nâng cao độ che phủ rừng của
cả nước. Điều đó chứng tỏ tái sinh tự nhiên (TSTN) của thảm thực vật rừng
có vai trò quan trọng trong phục hồi rừng.
Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh (KNXTTS) là quá trình lợi dụng tối đa
các quy luật tái sinh và diễn thế tự nhiên của thực vật, cộng với sự can thiệp
hợp lý của con người để trong khoảng thời gian nhất định, phục hồi được
những hệ sinh thái rừng có giá trị cao về kinh tế và phòng hộ môi sinh. Chính
vì vậy mà KNXTTS là một trong những giải pháp quan trọng mang lại hiệu
quả cao.
Cùng với các loài cây bản địa như Lát hoa, Lim xanh, Trám trắng,….
hiện nay Vối Thuốc (Schima wallichii choisy) là loài cây bản địa rất được
quan tâm, sử dụng cho việc trồng rừng và phục hồi lại hệ sinh thái rừng nhiệt
đới nước ta. Được xem như một cây đa tác dụng với ưu điểm là loài cây gỗ
1


TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng trên thế giới đã trải qua hàng trăm
năm nhưng với rừng nhiệt đới vấn đề này được tiến hành chủ yếu từ những
năm 30 của thế kỷ trước trở lại đây. Do sự phát triển của nền công nghiệp ở
thế kỷ 19, trong lâm nghiệp đã hình thành xu hướng thay thế rừng tự nhiên
thành rừng trồng nhân tạo cho năng suất cao nhằm đáp ứng nhu cầu gỗ cho
nguyên liệu công nghiệp và cuộc sống. Nhưng sau thất bại trong tái sinh nhân
tạo ở Đức và một số nước vùng nhiệt đới, nhiều nhà khoa học đã nêu khẩu
hiệu “Hãy quay lại với TSTN ”(dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [18]. Kết
quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên trên
thế giới được tóm tắt như sau.
Theo Aubréville (1949), trong các nhóm yếu tố sinh thái phát sinh quần
thể thực vật, nhóm yếu tố khí hậu - thủy văn là nhóm yếu tố chủ đạo, quyết
định hình thái và cấu trúc của các kiểu thảm thực vật. Nhóm khí hậu - thủy
văn gồm các yếu tố quan trọng nhất là nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, độ ẩm,
chế độ gió,…
Bechse, nhà lâm học người Đức cho rằng “ánh sáng là chiếc đòn bẩy
mà nhà lâm học dùng để điều khiển sự sống của rừng theo hướng có lợi về
kinh tế”.
Độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống
của cây con. Andel.S (1981) chứng minh độ đầy tối ưu cho sự phát triển bình
thường của cây gỗ là 0,6 - 0,7 [23].
Có nhiều phương pháp khác nhau để xác định mật độ cây tái sinh như:
ô dạng bản theo hệ thống do Lowdermilk (1927) đề xuất, với diện tích ô đo
đếm điều tra tái sinh từ 1 đến 4 m2. Do diện tích ô nhỏ nên việc đo đếm gặp
nhiều thuận lợi nhưng số lượng ô phải đủ lớn và trải đều trên diện tích khu
3


4


1.1.2 Nghiên cứu về khoanh nuôi phục hồi rừng và xúc tiến tái sinh
Theo ITTO (2002), phục hồi rừng bằng khoanh nuôi là quá trình thúc
đẩy diễn thế đi lên của hệ sinh thái rừng, nâng cao mức độ đa dạng sinh học,
điều chỉnh cấu trúc, sản lượng của chúng thông qua việc bảo vệ không tác
động hoặc sử dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như xúc tiến tái sinh, xúc
tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung, làm giàu rừng,…
Theo David Lamb (2003) quá trình phục hồi rừng có thể đưa cấu trúc
và sản lượng của hệ sinh thái tương đương với hệ sinh thái nguyên sinh. Tuy
nhiên, mức độ đa dạng sinh học của chúng không thể đạt được mức độ đó.
Như vậy, để xúc tiến quá trình phục hồi rừng con người có thể sử dụng các
biện pháp kỹ thuật tác động thông qua việc xúc tiến tái sinh cũng như xúc tiến
tái sinh có trồng bổ sung hoặc nuôi dưỡng rừng.
Khi nghiên cứu giải pháp kỹ thuật phục hồi rừng đã bị thoái hóa ở Châu
Phi, Dominic Blay và cộng sự (2004) đã xác định những giải pháp kỹ thuật
chủ yếu gồm: tái sinh tự nhiên, xúc tiến tái sinh tự nhiên, xúc tiến tái sinh tự
nhiên kết hợp trồng bổ sung và làm giàu rừng. Trong đó xúc tiến tái sinh tự
nhiên là giải pháp chặt phát những cây lớn và cây bụi cản trở để những cây
con tái sinh hạt hoặc tái sinh chồi sinh trưởng, cho nên nó có ưu điểm là chi
phí ít, giữ được đất, hình thành một kết cấu rừng hỗn giao ổn định. Tuy nhiên,
khuyết điểm là cây con sinh trưởng chậm dẫn đến một số loài cây phi mục
đích lấn át. Đây cũng là biện pháp kỹ thuật được áp dụng phổ biến ở Trung
Quốc trong các chương trình phục hồi rừng thứ sinh nghèo.
1.1.3. Những nghiên cứu về cây Vối thuốc (Schima wallichii Choisy)
Là một cây đa tác dụng nên Vối thuốc được nhiều nhà khoa học trên
thế giới quan tâm và cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về các đặc
điểm của loài cây này.
Các nghiên cứu về phân loại, tên gọi, mô tả hình thái và giải phẫu

ẩm, điểm bốc cháy và lượng tro là chỉ tiêu chính ảnh hưởng đến sự cản lửa
của các loài cây. Trong số 12 loài nghiên cứu thì Vối thuốc (S. wallichii),
Castanopsis hystrix và Myrica rubra có sức chống lửa tốt nhất [32].
Như vậy, việc định loại, tên gọi và mô tả hình thái cũng như cấu tạo
6


giải phẫu loài Vối thuốc là tương đối rõ ràng, không chỉ có tác dụng nhận biết
và phân biệt loài mà còn có ý nghĩa gợi suy cho việc sử dụng một số sản
phẩm của nó thông qua những mô tả về hình thái cấu tạo giải phẫu các bộ
phận của cây.
Đặc điểm sinh lý – sinh thái
Qua những nghiên cứu ban đầu loài Vối thuốc có những nghiên cứu nổi
bật về đặc tính sinh lý – sinh thái như sau:
+ Vối thuốc là cây ưa sáng, nhưng lúc nhỏ có khả năng chịu bóng.
+ Vối thuốc chịu được nhiệt độ cao. Giới hạn sinh thái nhiệt của cây
lên tới 37 - 450C.
+ Vối thuốc chịu rét tốt. Cây có thể sống được ở nhiệt độ không khí 30C, nếu nhiệt độ thấp duy trì trong thời gian dài thì ngưỡng sinh thái nhiệt là
0 - 50C.
+ Vối thuốc có thể bị bệnh lở cổ rễ, sâu đục thân (Trachylophus
approximator) phá hoại, cũng do loài sâu đục thân này mà một số loài bệnh
khác dễ thâm nhập.
Các nghiên cứu về giá trị sử dụng
Vối thuốc thường được sử dụng làm cột, xà, cửa, đồ gia dụng, đóng tàu
thuyền, dụng cụ trong nông nghiệp, đồ chơi, đồ tiện, thanh đường ray, làm
cầu nơi núi cao. Gỗ còn được dùng để sản xuất ván lạng. Bên cạnh đó, các
nghiên cứu cho thấy gỗ Vối thuốc bền và cứng, dễ gia công bằng tay hoặc
bằng máy móc. Gỗ chống được mối. Lá Vối thuốc có thể dùng làm thức ăn
cho gia súc (Kayastha, 1985). Bhatt và Tomar (2002) nghiên cứu lượng nhiệt
tỏa ra (calo) và kết luận rằng Vối thuốc có thể được sử dụng làm gỗ củi rất

Sidiyasa, 1994) [27]. Vối thuốc cũng được trồng hỗn giao với Thông Luchu
(Pinus luchuensis Mayr) tại đảo Okinawa, Nhật Bản. Theo Xiaonui và Hirata
(2002)

8


1.2. Tại Việt Nam
1.2.1. Nghiên cứu về tái sinh rừng
Ở Việt Nam, tái sinh rừng đã đươc quan tâm nghiên cứu từ những thập
kỷ 60 của thế kỷ trước. Kết quả nghiên cứu có thể tóm tắt như sau.
Theo Thái Văn Trừng (1978) [19] đã xây dựng quan niệm “Sinh thái
phát sinh quần thể ” trong thảm thực vật rừng nhiệt đới và vận dụng để xây
dựng biểu phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam. Theo tác giả một công
trình nghiên cứu về thảm thực vật mà không đề cập đến hoàn cảnh thì đó là
một công trình hình thức, không có lợi ích thực tiễn. Trong các nhân tố sinh
thái thì ánh sáng là nhân tố quan trọng khống chế và điều khiển quá trình
TSTN cả ở rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh.
Một số tác giả trong nước đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa địa hình
và khả năng tái sinh tự nhiên của thực vật: Ngô Quang Đê, Lê Văn Toán,
Phạm Xuân Hoàn (1994) [11] nghiên cứu mật độ cá thể và số lượng loài cây
phục hồi sau nương rẫy bỏ hóa tại Con Cuông - Nghệ An; Lâm Phúc Cố
(1996) [8] nghiên cứu ở Púng Luông - Yên Bái; Phùng Tửu Bôi - Trần Xuân
Thiệp (1997) [2] nghiên cứu ở vùng Bắc Trung Bộ, Phạm Ngọc Thường
nghiên cứu ở tái sinh phục hồi rừng sau nương rẫy ở Bắc Kạn và thái nguyên.
Khi nghiên cứu về quy luật cấu trúc rừng gỗ hỗn loài, Nguyễn Văn
Trương (1983) [20], [21] nhận xét: cần phải thay đổi cách khai thác rừng cho
hợp lý vừa cung cấp được gỗ, vừa nuôi dưỡng và tái sinh được rừng. Muốn
đảm bảo cho rừng phát triển liên tục trong điều kiện quy luật đào thải tự nhiên
hoạt động thì rõ ràng là số lượng lớp cây dưới phải nhiều hơn lớp cây kế tiếp

khu tiêu chuẩn điển hình của các trạng thái rừng, trên cơ sở sử dụng ô điều tra
2.000m2 diện tích đo đếm tái sinh 100 - 125 m 2 kết hợp với điều tra theo
tuyến. Dựa vào các tài liệu đã thu thập ngoài rừng, các tác giả tiến hành phân
tích, tính toán những chỉ tiêu cây đứng và cây tái sinh, phân chia các loại hình
thực vật rừng và dựa trên cơ sở đó nhận xét thực trạng rừng, đánh giá tình
hình TSTN và đề xuất biện pháp kinh doanh.
Dựa vào mật độ tái sinh, Vũ Đình Huề (1969) [16] đã phân chia khả
năng tái sinh rừng thành 5 cấp: rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu với mật
10


độ tái sinh tương ứng là trên 12.000 cây/ha, 8.000 - 12.000 cây/ha, 4.000 8.000 cây/ha, 2.000 - 4.000 cây/ha. Nhìn chung, nghiên cứu này mới chỉ chú
trọng đến số lượng mà chưa đề cập đến chất lượng cây tái sinh.
Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái
sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (sông Hiếu,
Yên Bái và Lạng Sơn), Nguyễn Du Chiêm (1988) [5] đã khái quát đặc điểm phân
bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết.
Từ đó làm cơ sở định hướng các giai pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên
liệu.
1.2.2. Các nghiên cứu về khoanh nuôi phục hồi rừng và xúc tiến tái sinh
Phục hồi rừng trước hết là phục hồi lại thành phần chủ yếu của rừng là
thảm thực vật cây gỗ. Sự hình thành nên thảm cây gỗ này sẽ tạo điều kiện cho
sự xuất hiện các thành phần khác của rừng như tầng cây bụi, tầng cỏ quyết,
khu hệ động vật, vi sinh vật,…và các yếu tố khác như chế độ nhiệt, chế độ
ẩm,…(Võ Đại Hải và cộng sự, 2003) [13].
Ngay từ những năm đầu của thập niên 60 thế kỷ 20, vấn đề khoanh
nuôi phục hồi rừng đã được đặt ra với cụm từ “khoanh núi, nuôi rừng”. Đây là
một định hướng đúng đắn, tuy nhiên trong một thời gian dài sau đó lâm
nghiệp chủ yếu vẫn thực hiện khai thác kiệt tài nguyên rừng mà ít chú ý đến
nuôi dưỡng, tái sinh và phục hồi chúng. Cùng lúc đó mọi hoạt động lại chú

Phân loại : Hiện nay, đã phân biệt được 3 loài Vối thuốc phổ biến ở
nước ta là Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) (còn có tên địa phương là
Khảo cài, Mạy thồ lộ, Vàng rậm - Viện Điều tra Quy hoạch rừng, 1996), Vối
thuốc răng cưa (Schima superba Gardn. et Champ) và Vối thuốc lá bạc
(Schima argentea Piitz. Ex Diels). Đây là 3 loài khác nhau mặc dù hình thái
và phân bố địa lý của chúng gần giống nhau
Mô tả : Là loài cây gỗ lớn, chiều cao đạt 25-35m, đường kính có thể đạt
50-60cm, thân thẳng, vỏ xù xì nứt dọc. Cành non và chồi phủ lông màu vàng
nhạt. Lá đơn mọc cách hình trái xoan hoặc thuôn, đầu lá nhọn, đuôi hình nêm
rộng, lá có kích thước 3 - 7cm x 8 - 17cm. Mép lá nguyên, mặt sau lá có lông
và phấn trắng. Cuống lá dài 1,3 - 3cm. Hoa lưỡng tính, mọc lẻ ở nách lá phía
12


đầu cành. Gốc hoa có 2 lá bắc hình trứng phủ nhiều lông. Đài hoa có 5 cánh,
mặt ngoài phủ lông, tràng 5 cánh màu trắng. Nhị nhiều. Bầu tròn phủ nhiều
lông, có 5 ô, mỗi ô có 2 - 3 noãn. Quả hình cầu bẹt, đường kính từ 1- 2 cm.
Quả chín vỏ hoá gỗ, nứt thành 5 mảnh. Cuống quả dài 1,3 - 2cm. Hạt hình
thận dẹt dài 8mm, có cánh mỏng (Cục Phát triển Lâm nghiệp, 1997 [9]; Lê
Mộng Chân và Lê Thị Huyên, 2000 [4]).
Phân bố: Theo Ngô Quang Đê (2004) Vối thuốc thích hợp ở những
vùng đất có nền đá mẹ Sa phiến thạch, Hoa cương, đá biến chất, đá sỏi. Đặc
biệt, Vối thuốc không phân bố ở những vùng đất có đá vôi [12]. Vối thuốc
sinh trưởng tốt trên đất sét phát triển trên nền đá mẹ phiến thạch sét, phiến
thách mica, sa thạch, foophia, ưa đất thoát nước tốt, độ pH từ 5 - 5,6. Vối
thuốc thường xuất hiện sau nương rẫy (Bộ NN & PTNT, 2000) [1].
Đặc tính sinh lý và sinh thái: Vối thuốc là cây tiên phong ưa sáng,
thường xuất hiện trong rừng phục hồi và các lỗ trống trong rừng.
Khả năng chịu rét, chịu hạn tốt, tái sinh chồi mạnh. Cây mọc rải rác
trong rừng, đôi khi mọc thành quần thụ lớn (Cục Phát triển Lâm nghiệp,

30cm, cây tái sinh còn 150-400 cây/ha (Nguyễn Xuân Quát, 1996 [17]) hoặc
mật độ 667 cây/ha với đất có độ dày trên 50 cm, mật độ cây tái sinh mục đích
dưới 150 cây/ha (Bộ NN & PTNT, 2000 [1]). Ngoài ra, Vối thuốc có thể
trồng hỗn giao theo băng hoặc theo hàng với một số loài cây bản địa. Tại Lục
Ngạn, Bắc Giang Vối thuốc được trồng hỗn giao theo hàng với Thông mã vĩ
theo tỷ lệ 50:50, mật độ trồng 2.000 cây/ha. Sau 8 năm, tỷ lệ sống của Vối
thuốc còn 57,4%, chiều cao trung bình đạt 8,59m, đường kính D 1,3 đạt 11,9
cm, đường kính tán lá đạt 3,13 m, trên 90% cây có sức sinh trưởng tốt, dáng
thân đẹp. Tuy nhiên, do bị chèn ép mạnh nên hầu hết Thông mã vĩ trồng cùng
đã bị chết (Trần Văn Con và các cộng sự, 2006 [6]).
1.3 Nhận xét và đánh giá chung
Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã nghiên cứu khá toàn diện và
hệ thống về tái sinh rừng và các kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh. Các
kết quả này đã góp phần quan trọng vào thực tiễn kinh doanh rừng những năm
qua. Vối thuốc là loài cây đa tác dụng nên cũng có nhiều công trình nghiên
cứu về đặc điểm hình thái, giải phẫu và phân bố, giá trị sử dụng, đặc tính sinh
vật học và kỹ thuật trồng, chăm sóc,... Đây là cơ sở quan trọng cho việc phát
triển rừng Vối thuốc.
14


Ở trong nước, nghiên cứu về tái sinh rừng cũng rất được quan tâm, đặc
biệt là cuối những năm 1980 trở lại đây. Những thành tựu về tái sinh rừng và
khoanh nuôi xúc tiến tái sinh chưa nhiều nhưng cũng đủ làm cơ sở để đề xuất
các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp. Nghiên cứu về Vối thuốc ở nước ta
còn hạn chế, các công trình nghiên cứu mới được tiến hành nhỏ lẻ trong một
vài năm gần đây chủ yếu tập chung phân loại, mô tả hình thái, đặc điểm sinh
lý - sinh thái. Cho đến nay, ở Việt Nam việc khoanh nuôi phục hồi rừng tự
nhiên có Vối thuốc phân bố đã được tiến hành khá nhiều trong thực tiễn sản
xuất, đặc biệt là ở Bắc Giang và Sơn La. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có

2.3. Nội dung nghiên cứu
- Tổng kết các biện pháp kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh đã áp
dụng tại xã Chiềng Bôm – huyện Thuận Châu – tỉnh Sơn La
- Đặc điểm đối tượng rừng tự nhiên có Vối thuốc tái sinh đưa vào
khoanh nuôi tại xã Chiềng Bôm – huyện Thuận Châu – tỉnh Sơn La
- Đánh giá kết quả khoanh nuôi xúc tiến tái sinh một số mô hình rừng
tự nhiên có Vối thuốc tái sinh.

16


- Đề xuất và định hướng một số giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh
rừng tự nhiên có Vối thuốc tái sinh tại xã Chiềng Bôm – huyện Thuận Châu –
tỉnh Sơn La
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài
- Vận dụng quan điểm sinh thái phát sinh thảm thực vật của Thái Văn
Trừng (1978): “Thảm thực vật rừng là tấm gương phản chiếu một cách trung
thành nhất, mà lại tổng hợp được các điều kiện của hoàn cảnh tự nhiên, đã
thông qua sinh vật để hoàn thành những quần thể thực vật”. Do đó khi xem
xét vấn đề tái sinh cần chú ý đến tác động tổng hợp của các nhân tố hoàn cảnh
bên ngoài.
- Tái sinh rừng là quá trình diễn thế lâu dài, do đó vận dụng quan điểm
lấy không gian thay thế thời gian để nghiên cứu tái sinh.
- Cấu trúc thể hiện ngoại mạo và nội dung bên trong của rừng, thể hiện
qua các quy luật phân bố, tương quan giữa các đại lượng và các thành phần
của rừng. Tuy nhiên khóa luận chỉ đánh giá sự thay đổi các trạng thái rừng
sau khoanh nuôi về cẩu trúc tổ thành, mật độ, tầng thứ,...chứ không đi sâu vào
các quy luật phân bố và tương quan giữa các đại lượng.
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2 m

Hình 2.1: Sơ đồ ô tiêu chuẩn và ô dạng bản

18


* Điều tra ÔTC và ô dạng bản nghiên cứu:
Trong mỗi ÔTC tiến hành thu thập các số liệu về địa điểm nghiên cứu,
độ dốc, hướng phơi, đặc điểm cây bụi thảm tươi, đặc điểm và loài cây tầng
cây cao (tái sinh dưới tán rừng), độ tàn che, độ che phủ,...
+ Đối với tầng cây cao: Tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng tầng
cây cao như loài cây, D 1,3, Hvn, mật độ, độ tàn che, độ che phủ, Kết quả thu
thập ghi vào mẫu biểu 01
BIỂU 2.1: PHIẾU ĐIỀU TRA RỪNG TỰ NHIÊN
Địa điểm:
ÔTC :
Độ dốc :
Độ tàn che :
Hiện trạng rừng :

STT

Diện tích ÔTC :
Độ cao :
Độ che phủ :
Biện pháp tác động :

TÊN CÂY



….



+ Đối với trạng thái Ic thu thập số liệu về loài cây, nguồn gốc, chất
lượng. Các số liệu thu thập được ghi và biểu sau:
19


BIỂU 2.3: PHIẾU ĐIỀU TRA RỪNG TỰ NHIÊN
Địa điểm:
ÔTC :
Độ dốc :
Độ tàn che :
Hiện trạng rừng :

ÔDB

Tên cây

Diện tích ÔTC :
Độ cao :
Độ che phủ :
Biện pháp tác động :

D1.3

Hvn


×10
n

A: Hệ số tổ thành tầng cây cao hoặc cây tái sinh
m: Số cá thể mỗi loài trong ô tiêu chuẩn
n: Tổng số cây trong ô tiêu chuẩn

+ Mật độ cây tái sinh và cây cao:

N / ha =

10.000 × n
S dt

Với Sdt là tổng diện tích các ÔTC và các ô dạng bản điều tra tái sinh
(m2) và n là số lượng cây tái sinh điều tra được.

Hình 2.2 : Lập ÔTC nghiên cứu ở trạng thái Ic

Các bước thực hiện nghiên cứu được tổng hợp ở sơ đồ 2.
THU THẬP THÔNG TIN CƠ BẢN
- Điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng
- Điều kiện kinh tế xã hội
21
- Thông tin về diện tích đất đai, rừng phục hồi
- Đặc điểm loài cây Vối thuốc


Làm việc với các cơ quan chức năng địa phương
để nắm tình hình chung


3.1.2. Địa hình
Chiềng Bôm có địa hình đặc trưng của các xã miền núi phía Bắc, dốc
và địa hình chia cắt mạnh. Điển hình có các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc
- Đông Nam có độ cao trong vùng 650 - 700 m so với mực nước biển, xen kẽ
giữa các dãy núi là các thung lũng, bãi, ruộng nước tương đối bằng phẳng có
diện tích không lớn.
3.1.3. Khí hậu
Xã Chiềng Bôm có khí hậu mang tính chất chung của khu vực Tây
Bắc: Mùa đông lạnh, Mùa hè rất nóng. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió
mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ
tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau.
Nhiệt độ trung bình trong năm là 22 0 C, mùa hè nhiệt độ trung bình từ
240C - 270 C, mùa đông nhiệt độ trung bình từ 16 - 18 0 C. Nhiệt độ tối cao là
30,60 C vào tháng 5, nhiệt độ tối thấp là 110 C vào tháng 12.
Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 2.052 giờ/năm. Số giờ nắng
trung bình mùa hè là 6 - 7 giờ/ngày, mùa đông từ 4 - 5 giờ/ngày. Trung bình
số ngày nắng/tháng là 26 ngày.
Tổng lượng mưa trung bình là 1.371,8 mm/năm với lượng mưa phân bố
23


không đều ở các tháng trong năm. Mùa mưa kéo dài từ 5 - 6 tháng (từ tháng 4
đến tháng 9), mưa tập trung vào tháng 6, 7, 8 lượng mưa chiếm 80% tổng
lượng mưa cả năm. Mùa khô lượng mưa nhỏ chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa
cả năm.
Gió, bão: Hướng gió chính trên địa bàn là hướng gió Đông Nam, ít chịu
ảnh hưởng của bão, gió mùa Đông Bắc nhưng lại chịu ảnh hưởng của gió Tây
khô nóng (tháng 7) và gió lốc.
Sương muối: Thường xuất hiện mỗi năm vài đợt vào tháng 12 và tháng

Đất đai trong khu vực chia làm các loại chính sau:
Đất mùn vàng xám núi cao: Phân bố từ độ cao 1500 - 2000m so với
mặt nước biển, được hình thành trên đá mẹ mắc ma, axit đỏ phiến thạch sét
tập trung trên các rãy dông chính. Đất tầng A thường có độ dày trên 1m, độ
dốc mặt đất 35%.
Đất Feralit mùn có màu vàng cua nhạt: Phân bố trên độ cao 1000 1500m so với mặt nước biển, tập trung phân bố ở các dãy núi thuộc phía
Đông Nam của rãy dông chính. Đất tầng A có độ dày 50cm đến 1m, độ dốc
mặt đất 35%.
Đất Feralit biến chất do canh tác nương rẫy hoặc bồi tụ vên suối: Đất
tốt, dinh dưỡng khá, có nhiều thuận lợi cho khả năng phục hồi tái sinh rừng tự
nhiên.
Nhìn chung, đất đai của xã Chiềng Bôm phù hợp với nhiều nhóm cây
trồng khác nhau, song phần lớn diện tích đã và đang bị suy thoái nhiều do
thảm thực vật bị tàn phá nặng nề và những tập quán canh tác lạc hậu, quảng
canh bào mòn đất. Do vậy cần áp dụng các biện pháp kĩ thuật vào sản xuất, để
bảo vệ đất, sử dụng hiệu quả và lâu dài.
3.1.6. Tài nguyên rừng
Theo quyết định 08/2001/TTg ra ngày 11/1/2001 của Thủ tướng Chính
Phủ về việc ban hành quy chế rừng đặc dụng thì xã có 507,5 ha rừng nằm
trong khu bảo tồn nghiêm ngặt và 3988.6ha nằm trong khu phục hồi sinh thái.
Các cộng đồng dân tộc ở đây vẫn đốt nương làm rẫy, du canh, du cư, khai thác
rừng chưa hợp lý dẫn đến diện tích rừng suy giảm cả về diện tích và chất lượng.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status