Chương 3
Tổ chức các hoạt động giáo dục
cho trẻ ở trường mầm non
(LT: 8; Tự học: 20)
3.1. Tổ chức chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ
3.1.1. Nguyên tắc thực hiện
Khi tổ chức thực hiện chế độ sinh hoạt, cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
3.1.1.1. Chế độ sinh hoạt phải đảm bảo thực hiện được mục tiêu chăm sócgiáo dục trẻ mầm non
Mục tiêu giáo dục mầm non được cụ thể hoá thành các nhiệm vụ giáo
dục và yêu cầu cần đạt ở từng độ tuổi. Nó là kim chỉ nam cho mọi hoạt động
chăm sóc – giáo dục trẻ. Ở mỗi độ tuổi cụ thể cần có chế độ sinh hoạt thích
hợp. Vì vậy, khi xây dựng chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ và tổ chức thực
hiện nó cần phải dựa vào mục tiêu giáo dục.
3.1.1.2. Chế độ sinh hoạt phải đảm bảo phù hợp với sự tăng trưởng và phát
triển của độ tuổi
Trẻ mầm non là giai đoạn có tốc độ tăng trưởng và phát triển diễn ra cực
kì nhanh chóng. Mỗi giai đoạn độ tuổi, nhu cầu về vật chất và tinh thần cũng
thay đổi theo, có sự khác biệt khá lớn ở từng độ tuổi. Vì vậy, chế độ sinh hoạt
hàng ngày cần phải phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển của từng độ tuổi.
Cần tránh áp đặt trẻ thực hiện chế độ quá sức của nó.
3.1.1.3. Chế độ sinh hoạt hàng ngày phải đảm bảo sự cân đối hài hoà giữa
nuôi và dạy (chăm sóc – giáo dục)
Với tốc độ tăng trưởng và phát triển diễn ra rất nhanh nhưng cơ thể trẻ
còn non yếu, mọi quá trình tăng trưởng và phát triển của trẻ chưa định hình nên
hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của người lớn. Sự
mất cân đối giữa nuôi và dạy sẽ dẫn đến sự mất cân đối trong quá trình tăng
trưởng và phát triển của trẻ. Vì vậy, để nuôi dạy trẻ trở thành một con người
phát triển cân đối hài hoà về mọi mặt thì người lớn cần phải xây dựng và thực
hiện được một chế độ sinh hoạt hợp lí.
+ Chuẩn bị đồ dùng, quần áo hoặc tã lót, nước uống, nước sinh hoạt
trong ngày
+ Chuẩn bị đồ chơi và góc chơi cho trẻ
+ Chuẩn bị tư thế sẵn sàng đón trẻ
- Trong giờ đón trẻ: cần bố trí 2 cô
+ Cô đón trẻ đứng đúng nơi quy định, thái độ vui vẻ, niềm nở. Đối với
trẻ từ 7 – 8 tháng tuổi trở lên cô tập cho trẻ “ạ”, trẻ lớn hơn tập cho trẻ chào cô,
chào bố mẹ.
+ Cô trao đổi nhanh với phụ huynh về tình hình sức khoẻ của trẻ hoặc về
thói quen của những trẻ mới đến nhà trẻ hoặc thông báo những điều cần thiết,
nhắc nhở những quy định chung của nhà trẻ.
+ Nếu trẻ sốt hoặc đang mắc các bệnh lây (hoặc nghi ngờ trẻ đang mắc
các bệnh lây như sởi, thuỷ đậu, quai bị...) cần trả trẻ lại gia đình để chăm sóc
và cách li đủ thời gian theo quy định mới nhận trẻ trở lại nhóm
+ Cô cần bao quát được tất cả trẻ đã nhận vào nhóm
+ Thời gian đầu, trẻ mới đi nhà trẻ, trẻ thường hay khóc vì chưa quen cô,
quen bạn. Vì vậy, một vài ngày đầu cô gần gũi, tiếp xúc, làm quen với trẻ khi
có cả cha mẹ trẻ, sau đó đón dần trẻ vào nhóm. Khi trẻ vào nhóm cô cần phải
nhẹ nhàng, tươi cười, dỗ dành và lấy đồ chơi mà trẻ thích
+ Đối với trẻ 18 – 36 tháng cô thu dọn phòng nhóm gọn gàng để cho trẻ
tập thể dục sáng, tạo điều kiện cho trẻ tắm nắng, tắm không khí trong lành. Có
thể cho trẻ tập ở trong nhà, hành lang, hoặc ngoài sân tuỳ thuộc vào điều kiện
cụ thể của phòng nhóm và thời tiết. Nên cho trẻ tập theo nhạc là tốt nhất.
+ Cô cần nắm đúng số lượng trẻ đến trong ngày để báo số lượng suất ăn
của nhóm với bộ phận cấp dưỡng.
3.1.2.1.2. Tổ chức cho trẻ ăn uống
69
12 – 18 tháng
18 – 24 tháng
24 – 36 tháng
Bú mẹ hoàn toàn
Bú mẹ + ăn bột
Bú mẹ + ăn cháo
Ăn cơm nát
Ăn cơm thường
600 – 800 Kcal
800 – 900 Kcal
900 – 1100 Kcal
1100 – 1300 Kcal
1100 – 1300 Kcal
Nhu cầu tại nhà trẻ
(chiếm 60% - 70%
nhu cầu cả ngày)
360 – 560 Kcal
480 – 630 Kcal
540 – 770 Kcal
660 – 910 Kcal
660 – 910 Kcal
Khi cần thay đổi chế độ ăn uống thì nên thay đổi dần dần, từ ít đến
nhiều, từ loãng đến đặc, nên tập cho trẻ quen dần với thức ăn mới. Hàng ngày
trẻ cần ăn nhiều loại thức ăn khác nhau với đủ các chất dinh dưỡng: đạm, béo,
đường, vitamin và muối khoáng.
3.1.2.1.3. Tổ chức cho trẻ ngủ
khô ráo sạch sẽ, thơm tho
- Trước khi ngủ, cho trẻ đi vệ sinh, lau rửa mặt mũi, chân tay, quần áo
rộng rãi, thoải mái
- Cần chú ý đến đặc điểm riêng của từng trẻ. Đối với trẻ có nhu cầu ngủ
nhiều nên cho trẻ ngủ sớm hơn và dậy muộn hơn. Đối với trẻ khó ngủ hay quấy
khóc cần vỗ về, ru ngủ hoặc cho trẻ ngủ riêng để tránh ảnh hưởng đến giấc ngủ
của trẻ khác
- Đối với trẻ nhỏ cần vỗ về ru ngủ bằng những khúc hát ru, những bài
thơ giàu âm điệu.
- Trẻ dưới 4 tháng nên đặt trẻ nằm nghiêng về một phía hoặc nằm ngửa,
tránh nằm sấp và ngoẹo đầu gây ngạt thở và ứ đờm dãi. Trẻ lớn ngủ trong tư
thế thoải mái
- Trẻ 12 – 24 tháng, cô nên động viên khuyến khích, tập cho trẻ làm
quen với nơi ngủ và tập cho trẻ tự đi vào chỗ ngủ
- Trẻ 24 – 36 tháng đã có những thói quen về nề nếp sinh hoạt, thói quen
tự phục vụ nên đến giờ ngủ cô hướng dẫn cùng cô chuẩn bị ngủ (trẻ tự bê gối,
tự chuẩn bị chỗ ngủ...), nhắc trẻ tự đi vệ sinh, đến đúng chỗ của mình, tự trèo
lên giường nhắm mắt ngủ ngay, không nói chuyện, không trêu chọc bạn...
- Khi trẻ ngủ, cô phải có mặt thường xuyên trong phòng ngủ để theo dõi
giấc ngủ và sửa tư thế ngủ của trẻ, xử lí các sự cố như đái dầm, chăn trùm kín
mặt, sặc nước miếng...
- Khi trẻ thức dậy, nên để trẻ nằm chơi một lúc, sau đó cho trẻ đi vệ sinh,
lau mặt cho trẻ tỉnh ngủ. Tránh tình trạng dậy đồng loạt một lúc ảnh hưởng đến
giấc ngủ của trẻ và sinh hoạt của lớp.
71
3.1.2.1.4. Tổ chức vệ sinh cho trẻ
- Tập cho trẻ dưới 3 tuổi biết giữ gìn vệ sinh cá nhân là một việc làm hết
+ Vệ sinh mắt: Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, vì vậy cần giữ gìn cho đôi
mắt của trẻ thật lành lặn và trong sáng. Trẻ nhỏ thường đau mắt hột, đau mắt
đỏ do vệ sinh không tốt hoặc dùng chung khăn bẩn với người bị đau mắt. Vì
vậy cần rửa mặt, lau mắt cho trẻ bằng khăn, nước sạch. Cho trẻ ăn rau xanh, cà
rốt, lòng đỏ trứng gà..., uống vitamin A đúng liều để phòng bệnh quáng gà, khô
mắt.
Phòng và chữa dứt điểm bệnh đau mắt đỏ, mắt hột..., nên cho trẻ chơi
dưới ánh sáng tự nhiên. Không cho trẻ ngồi gần màn hình vô tuyến, máy vi
tính, hạn chế thời gian xem vô tuyến.
+ Vệ sinh quần áo: quần áo là lớp da bảo vệ thân thể trẻ khỏi bị xây
xước, khỏi bị bụi bặm và điều hoà nhiệt độ thân thể. Quần áo trẻ mặc phải phù
72
hợp theo mùa, sạch sẽ, thay giặt hàng ngày, phơi nắng khô ráo. Không được
cho trẻ mặc quần áo, tã lót ẩm ướt.
Chất liệu vải phải phù hợp với khí hậu trong năm, kiểu may đơn giản dễ
mặc, dễ cởi... không nên cho trẻ mặc vải khó thoát mồ hôi.
Ngoài ra cần chú ý đến thói quen đi giày, dép. Giày, dép phải mềm mại,
vừa chân, thoải mái khi cử động...
+ Luyện tập cho trẻ thói quen đi đại tiện, tiểu tiện đúng giờ, đúng nơi
quy định. Việc luyện tập này đòi hỏi người lớn phải kiên trì, khi trẻ biết ngồi
vững có thể tập cho trẻ ngồi bô. Tránh để trẻ ngồi bô lâu quá, như vậy sẽ ức
chế và có hại cho cột sống. Không nên đánh mắng khi trẻ đái dầm hay ỉa đùn.
Chỉ cho trẻ ngồi bô khi trẻ cần đại tiện hay tiểu tiện, không cho trẻ ngồi
bô rồi đi làm việc khác, cần quan sát để đảm bảo trẻ không bị ngã.
Sau khi trẻ đi bô cần rửa ngay cho trẻ và dùng khăn khô lau cho trẻ. Rửa
sạch tay cô và trẻ bằng xà phòng rồi mới đi làm việc khác.
3.1.2.1.5. Tổ chức chế độ chơi - tập cho trẻ
trẻ hoạt động “tĩnh” nhiều hơn. Tuy nhiên, dù là trường hợp nào cũng nên tổ
chức đan xen, nhịp nhàng giữa hoạt động cơ bắp với hoạt động thần kinh
+ Cần động viên, khuyến khích trẻ kịp thời, tạo cho trẻ có trạng thái vui
tươi, thoải mái trong khi chơi – tập. Đối với trẻ nhỏ, ban đầu những thao tác
còn rất vụng về và phạm nhiều sai sót, cô không nên sốt ruột mà làm thay hoặc
khiển trách trẻ. Cần an ủi, động viên, hướng dẫn lại cho trẻ tập nhiều lần mới
thành quen.
+ Cần có chế độ chơi – tập riêng cho những trẻ mệt hoặc bị ốm. Tránh
tình trạng trẻ hoạt động quá sức bệnh sẽ nặng thêm.
- Kết thuc giờ chơi – tập: cô cần dạy trẻ biết thu dọn đồ dùng, đồ chơi
đúng nơi quy định. Đây là việc làm cần thiết để rèn luyện cho trẻ thói quen gọn
gàng, ngăn nắp, giờ nào việc nấy...
3.12.1.6. Trả trẻ
- Trước khi ra về, cô cho trẻ vệ sinh cá nhân: quần áo, đầu tóc trẻ gọn
gàng, sạch sẽ. Trong thời gian chờ đợi bố mẹ đi đón cho trẻ chơi với một số đồ
chơi nhẹ nhàng, cô đọc thơ, kể chuyện, cho trẻ xem tranh hoặc chơi các trò
chơi dân gian. Nên tạo cho trẻ những ấn tượng tốt với lớp với cô để hôm sau
trẻ lại thích đến nhà trẻ, không nên để trẻ ngồi một chỗ chờ bố mẹ đến đón.
- Khi gặp bố mẹ, cô hướng dẫn chào bố mẹ, chào cô giáo, chào các bạn
khi ra về. Đối với cha mẹ cô nên trao đổi một số thông tin cần thiết trong ngày
về cá nhân trẻ cũng như một số hoạt động của lớp cần có sự phối hợp với gia
đình.
3.1.2.2. Tổ chức thực hiện chế độ sinh hoạt cho trẻ mẫu giáo
Phân phối thời gian trong chế độ sinh hoạt của trẻ mẫu giáo (Theo
“Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non” các giai đoạn
độ tuổi - NXB GD Việt Nam 2011)
Thời gian
Mùa hè
Mùa đông
3.1.2.2.1. Đón trẻ, hoạt động tự chọn, thể dục sáng, điểm danh
- Đón trẻ. Tiến hành cơ bản như ở các lứa tuổi trước, song cô giáo, cô
cần chú ý rèn cho trẻ thói quen tự phục vụ (lấy, cất đồ dùng cá nhân đúng nơi
quy định, gọn gàng, ngăn nắp), thói quen vệ sinh…
74
Trong giờ đón, cô cần quan tâm tới từng trẻ về mọi mặt (sức khoẻ, tâm
trạng…) để có biện pháp chăm sóc, giáo dục phù hợp trong ngày.
- Hoạt động tự chọn. Khi trẻ được đón vào lớp, cô cho trẻ tự lấy đồ chơi
và chơi theo ý thích của mình. Cô cũng có thể gợi ý, nêu tên một số trò chơi
học tâp, lắp ghép hoặc trò chơi dân gian nhẹ nhàng mà trẻ đã biết để trẻ chơi
với nhau. Đối với lớp nhỡ và lớp lớn, cô có thể gợi ý cho một số trẻ tham gia
làm công việc trực nhật hoặc cùng cô chuẩn bị cho giờ học tới. Trong khi trẻ tự
chơi cô luôn quan sát, nhắc nhở trẻ chơi vui, đoàn kết. Gần hết giờ chơi cô
nhắc nhở trẻ thu dọn đồ chơi gọn gàng để chuẩn bị tập thể dục buổi sáng.
- Thể dục buổi sáng: Thể dục buổi sáng cần được thực hiện thường
xuyên và tiến hành trong 5 – 7 phút (lớp bé), 6 -8 phút (lớp nhỡ), 8 – 10 phút
(lớp lớn), cho trẻ tập dưới sân là tốt nhất. Những nơi có điều kiện có thể cho trẻ
theo hiệu lệnh chung của trường. Riêng những ngày có tiết thể dục thì thể dục
buổi sáng được thực hiện dưới hình thức trò chơi, bài hát kết hợp với vận động
hoặc số lần tập ít hơn.
- Điểm danh: Sau khi tập thể dục buổi sáng cho trẻ điểm danh. Điểm
danh nhằm giúp cô nắm được sĩ số của lớp và cô có điều kiện tập cho trẻ biết
quan tâm lẫn nhau. Tuỳ từng mục đích điểm danh mà chọn những hình thức
điểm danh phù hợp để trẻ đỡ chán. Chằng hạn, đầu năm trẻ chưa nhớ tên các
bạn trong lớp, trong tổ thì gọi tên theo danh sách của lớp, khi trẻ đã thân quen
nhau cô có thể hỏi sĩ số của tổ, lớp, tạo điều kiện cho trẻ quan tâm đến nhau.
Thứ hai đầu tuần, cô nên dành 5- 7 phút (họp mặt) để trẻ trò chuyện với nhau
ngoài trời trẻ còn được tiếp xúc với các hiện tuợng tự nhiên, xã hội phong phú,
giúp trẻ mở rộng vốn hiều biết về thế giói xung quanh, phát triển tính tò mò
ham hiều biết, phát triển những cảm xúc thẩm mĩ. Cô có điều kiện giáo dục
cho trẻ những hành vi văn minh trong môi trường xung quanh.
* Nội dung hoạt động ngoài trời gồm 3 phần
- Hoạt động có mục đích, gồm:
+ Quan sát, phát hiện ra những thay đổi của các sự vật, hiện tượng trong
thiên nhiên xã hội.
+ Tổ chức củng cố hoặc làm quen với các nội dung giáo dục.
+ Tổ chức cho trẻ chăm sóc vật nuôi, cây trồng.
- Trò chơi vận động.
- Chơi tự do (theo ý thích của trẻ).
* Hướng dẫn tổ chức hoạt động ngoài trời
- Trước khi ra ngoài trời cô cần nói rõ địa điểm, nội dung, mục đích của
buổi đi dạo.
Nhắc trẻ sửa sang đầu tóc, quần áo, giày dép cho gọn gàng phù hợp với
thời tiết ngày hôm đó.
Nhắc trẻ chơi đúng nơi quy định, không bẻ cây, hái hoa; khi có hiệụ lệnh
của cô, trẻ phải tập trung ngay.
Quan tâm tới sức khoẻ của trẻ, cháu nào yếu mệt không nên cho đi dạo.
- Khi ra ngoài trời:
+ Cô tổ chức cho trẻ hoạt động theo ba nội dung trên. Song các nội
dung trên cần được thực hiện một cách linh hoạt chứ không theo một trình tự
nhất định. Việc thực hiện nội dung nào trước, nội dung nào sau là căn cứ vào
hoạt động ở trong nhà trước đó, sao cho đảm bảo nguyên tắc động – tĩnh. Thời
gian dành cho từng nội dung là phụ thuộc vào khả năng của cô và cháu, song
cần dành thời gian cho trẻ quan sát và chơi tự do nhiều hơn.
Với phần hoạt động có mục đích: Cô dùng những câu hỏi gợi ý cho trẻ
quan sát các sự vật hiện tượng tự nhiên, xã hội để tự trẻ phát hiện những thay
đổi của chúng, làm giàu tri thức cho trẻ. Cô cũng có thể gợi ý cho trẻ vận dụng
sống của người lớn – qua đó trẻ học làm người. Để vui chơi thực sự là một
phương tiện cơ bản để giáo dục trẻ ở độ tuổi (vấn đê này đã trình bày ở
chương trình: hoạt động vui chơi ).
3.1.2.2.5. Vệ sinh- ăn trưa
Trẻ mẫu giáo đã có khả năng tự phục vụ, do đó đến giờ ăn, cô cùng trẻ
chuẩn bị bữa ăn như kê bàn ghế sao cho thuận tiện hợp lí. Sau đó, cô cho trẻ
rửa tay theo từng bàn để khỏi chờ đợi lâu. Khi rửa tay co hướng dẫn, nhắc nhở
cách rửa tay dưới vòi nước chảy hoặc dội nước, tránh để trẻ rửa chung vào
chậu nước.
Đối với lớp nhỡ và lớp lớn có thể cho trẻ trực nhật lấy bát, thìa, đĩa và bê
cơm cho các bạn. Trước khi chia cơm, cô nên giới thiệu các món ăn để trẻ tiết
dịch vị và giúp trẻ hiểu biết về một số món ăn. Đồng thời rèn luyện cho trẻ thói
quen mời cô và các bạn ăn cơm.
Khi trẻ ăn cô bao quát, hướng dẫn nhắc nhỡ trẻ cách ăn hợp vệ sinh (như
ăn từ tốn, không làm rơi vãi, không nói chuyện đùa nghịch khi ăn, hò hét hoặc
hắt hơi phải biết che miệng…), hướng dẫn trẻ nhặt cơm rơi vãi vào đĩa, động
viên trẻ ăn hết suất. Đặc biệt cô quan tâm hơn đến những trẻ yếu, ăn chậm, có
thể tiế xúc cho trẻ ăn với những trường hợp cá biệt.
Sau khi trẻ ăn xong: cô nhắc nhở trẻ tự cất bát thìa vào nơi quy định, tự
cất ghế, lau miệng, uống nước, đi vệ sinh, chơi nhẹ nhàng rồi vào chỗ ngủ.
3.1.2.2.6. Ngủ trưa
Đến giờ ngủ trưa, co cùng trẻ chuẩn bị chỗ ngủ, trẻ tự lấy gối. Nơi có
điều kiện, cô hướng dẫn cho trẻ tự chuẩn bị ngủ (tự trải chiếu, lấy gối khi ngủ
va cất sau khi ngủ dậy). Cô chú ý tạo chỗ ngủ sạch sẽ, ấm áp về mùa đông,
77
thoán mát về mùa hè, có ánh sáng dịu. Tuyệt đối không cho trẻ nằm trực tiếp
xuống đất ảnh hưởng đến sức khoẻ của trẻ.
Hằng ngày trong sinh hoạt cô dùng hình thức nêu gương bé ngoan để kịp
thời động viên những hành vi tốt của trẻ, kích thích trẻ hào hứng tham gia vào
các hoạt động.
Thường nêu gương bé ngoan ở ba thời điểm: sau giờ học, sau buổi chơi
sáng toạ, sau sinh hoạt chiều. Cô có thể dùng các hình thức khác để động viên,
khen thưởng kịp thời những hành vi tốt của trẻ như dùng lời khen, cử chỉ âu
yếm hay tặng vật phẩm nhỏ (lá cờ, bông hoa,..) để trẻ dính vào bảng bé ngoan.
Khi khen không nên nói chung chung, cháu A ngoan, cháu B chưa ngoan mà
phải nói rõ “ Ngoan vì sao?”, “ Không ngoan vì sao?” để trẻ có thể điều chỉnh
hành vi của mình cho phù hợp. Với lớp lớn cô tổ chức nêu gương cuối ngày.
Trong giờ nêu gương cô gợi cho trẻ nhắc lại tiêu chuẩn thi đua, rồi cho trẻ tự
78
nhận, tự nêu lên những ưu điểm của mình. Sau đó có thể cho các bạn trong tổ,
lớp nhận xét lẫn nhau. Hướng cho trẻ nhận xét vào những điểm tốt của bạn là
chính, không nên biến giờ nêu gương thành giờ “ tố cáo” nhau. Vì thế, khi cô
nhận xét hoặc nghe những lời nhận xét của trẻ phải thật chính xác công bằng,
như vậy mới tạo được long tin ở trẻ và có ý nghĩa giáo dục.
Cuối tuần, cô tặng phiếu ngoan cho trẻ. Đối với lớp lớn cô cho trẻ nhận
xét để tặng phiếu bé ngoan.
3.1.2.2.9. Trả trẻ
Trước khi trả trẻ về với gia đình cô cho trẻ vệ sinh các nhân: lau mặt,
chải đầu, sửa sang quần áo ngay ngắn gọn gàng. Trong khi chờ bố mẹ đến đón
cô nên cho trẻ chơi với những đồ chơi dễ lấy, dễ chơi, các trò chơi dân gian
nhẹ nhàng hoặc cô kể chuyện, đọc thơ cho trẻ em nghe nhằm gây cho trẻ sự
quyến luyến với cô với lớp.
Khi phụ huynh đến đón, cô giao đến tận tay phụ huynh (tuyệt đối không
giao cho người lạ mặt, trẻ em dưới 10 tuổi) để đảm bảo an toàn cho trẻ.
phát triển mạnh mẽ. Hoạt động với đồ vật trở thành hoạt động chủ đạo của tuổi
ấu nhi nói riêng và trẻ nhà trẻ nói chung.
Nhờ có hoạt động với đồ vật mà chức năng của đồ vật lần đầu tiên được
bộc lộ ra trước đứa trẻ và đồ vật xung quanh trở thành đối tượng thu hút sự chú
ý của trẻ, khiến trẻ hăng hái tìm kiếm, tháo lắp cái nọ cái kia...Vì vậy mà tâm lí
của trẻ phát triển mạnh, đặc biệt là trí tuệ.
Thông qua hoạt động với đồ vật mà các giác quan của trẻ, đặc biệt là thị
giác, thính giác và xúc giác phát triển, khả năng phối hợp thị giác và thính giác
của trẻ ngày càng tốt hơn. Sự phong phú về màu sắc, hình dạng, kích thước, âm
thanh của đồ vật, đồ chơi là đối tượng thu hút sự chú ý của trẻ, kích thích trẻ
gần gũi, ngắm nghía, sờ mó, thao tác... với đồ vật. Được sự hướng dẫn của
người lớn, những chuẩn cảm giác ở trẻ được hình thành trong quá trình hoạt
động với đồ vật.
Thông qua hoạt động với đồ vật, trẻ biết được tên gọi của đồ vật, biết
được đặc điểm, tính chất (màu sắc, hình dạng, kích thước, mùi vị...) và công
dụng của đồ vật (dùng để làm gì)... Điều đặc biệt quan trọng hơn cả là thông
qua quá trình hoạt động với đồ vật, trẻ nắm được phương thức hoạt động với
đồ vật theo kiểu người. Lúc đầu, có thể trẻ còn hành động lung tung như gõ
thìa vào mâm cơm, ném cốc bát xuống nền nhà..., ngay lập tức sau đó trẻ tỏ vẻ
bối rối, sợ hãi vì nó hiểu rằng như vậy đã phạm đến quy tắc đối xử với đồ vật
mà mọi người phải tuân theo. Ở giai đoạn này, nếu được tập luyện thường
xuyên, trẻ sẽ biết cách sử dụng một số loại công cụ và trẻ có khả năng thực
hiện cả những động tác phức tạp. Thông qua thế giới đồ vật dưới sự giúp đỡ
của người lớn, đứa trẻ chiếm lĩnh được “cái” và “cách”, có nghĩa là trẻ chiếm
lĩnh được những kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người chứa đựng trong thế
giới đồ vật. Trên cơ sở đó, trẻ biết so sánh, phân biệt đồ vật này với đồ vật
khác, biết khái quát những đồ vật cùng loại... tức là tư duy của trẻ được phát
triển.
Mặt khác, nhờ sự phong phú, đa dạng về màu sắc, hình dạng, kích
thước, âm thanh và đặc biệt là sự khám phá ra chức năng và phương thức sử
tốc độ phát triển, khả năng thực của trẻ sau đó mới đưa ra thêm tình huống,
nhiệm vụ khi cần thiết đối với trẻ nói chung va từng cá nhân trẻ nói riêng.
- Cần phải xây dựng môi trường hoạt động với đồ vật, đồ chơi đa dạng,
phong phú, hấp dẫn với trẻ. Tận dụng nguyên vật liệu sẵn có trong thiên nhiên,
của địa phương
+ Tạo cho trẻ có không gian để hoạt động thuận tiện, an toàn, vệ sinh
+ Đồ chơi phải đa dạng, phong phú về mằu sắc, đảm bảo những yêu cầu
về vệ sinh, không gây nguy hiểm cho trẻ
+ Cần lưu ý tới các loại đồ chơi xếp hình, lắp ráp, trò chơi dân gian...
+ Đồ chơi phải bày biện, sắp xếp trong trạng thái “mở”, vừa tầm tay với
của trẻ để trẻ dễ lấy và dễ cất vào nơi quy định
+ Không nên bày quá nhiều đồ chơi gây sự phân tâm ở trẻ, cần thường
xuyên thay đổi đồ chơi, trò chơi tránh nhàm chán cho trẻ
- Cô là người tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ được hoạt
động với đồ vật, đồ chơi
+ Dạy cho trẻ biết thao tác với đồ vật, đồ chơi. Cô cần làm mẫu cho trẻ
kết hợp với lời nói rõ ràng, mạch lạc sau đó cho trẻ thực hành theo mẫu của cô.
Nếu trẻ chưa có khả năng làm cô giúp trẻ từng động tác
+ Trẻ 15 tháng trở lên, cần dạy trẻ biết cách sử dụng một số đồ dùng
quen thuộc: cầm cốc uống nước, cầm thìa xúc cơm, cầm bát... thông qua một
số trò chơi đơn giản như cho em bé ăn bột, uống nước...
+ Dạy trẻ biết bảo quản đồ chơi, không quăng ném đồ chơi, rèn cho trẻ
thói quen cất dọn đồ chơi mỗi khi chơi xong...
+ Sau khi trẻ đã biết cách sử dụng đồ vật, cần cho trẻ được tự học, tự
chơi, cô chỉ cần theo dõi, đưa thêm các điều kiện mới, tạo tình huống để trẻ tìm
cách giải quyết vấn đề
+ Khi hướng dẫn trẻ hoạt động không nên nôn nóng, vội vàng làm thay
khi thấy trẻ còn lóng ngóng, vụng về khi sử dụng các công cụ. Giáo viên cần
81
cố gắng hơn nữa để hoàn thành nhiệm vụ đặt ra.
- Đánh giá sản phẩm của trẻ: cô cần nhận xét, đánh giá các sản phẩm của
trẻ tạo ra nhằm hình thành ở trẻ niềm vui từ những sản phẩm đó và cố gắng tạo
ra nhiều sản phẩm hơn nữa.
3.2.2.3. Tiến trình tổ chức hướng dẫn hoạt động với đồ vật cho trẻ ở trường
mầm non
3.2.2.3.1. Chuẩn bị cho trẻ hoạt động với đồ vật
- Lập kế hoạch tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ: kế hoạch tổ chức
hoạt động với đồ vật cho trẻ ấu nhi chính là những dự kiến, ý tưởng về nội
dung, cách tiến hành và hình thức tổ chức hoạt động này trong một khoảng thời
gian nhất định.
Có nhiều loại kế hoạch tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ ấu nhi ở
trường mầm non: kế hoạch trong ngày, kế hoạch trong tuần, kế hoạch theo cả
chủ đề lớn.
82
Việc lập kế hoạch giúp cho giáo viên chủ động từ đó góp phần nâng cao
hiệu quả giáo dục trẻ ấu nhi ở trường mầm non.
Ví dụ lập một bản kế hoạch:
Hình thức: Hoạt động với đồ vật có chủ đích / Hoạt động tự do với đồ vật
Độ tuổi:
Chủ đề:
I. Mục tiêu giáo dục
- Kiến thức
- Kỹ năng
- Thái độ
II. Lựa chọn nội dung hoạt động với đồ vật / Nội dung hoạt động tự do với đồ
vật
83
Sử dụng các phương pháp như quan sát kết hợp với ghi chép, chụp ảnh,
quay băng hình về quá trình trẻ hoạt động với đồ vật, đàm thoại cùng trẻ, phân
tích sản phẩm của trẻ, đưa ra các bài tập, các tình huống để thu thập thông tin.
Đánh giá kết quả hoạt động với đồ vật của trẻ một cách thường xuyên
trong từng ngày và cả một giai đoạn. So sánh kết quả đánh giá thu được với
những mục tiêu đã đặt ra để từ đó có sự điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao
chất lượng hoạt động với đồ vật của trẻ ấu nhi ở giai đoạn tiếp theo.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Phân tích ý nghĩa của hoạt động với đồ vật đối với trẻ lứa tuổi nhà trẻ.
2. Trình bày các hình thức tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ em lứa tuổi nhà
trẻ.
3. Nêu những đặc thù cho việc tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ em theo
các độ tuổi.
4. So sánh hình thức tổ chức hoạt động với đồ vật có sự hướng dẫn chủ đích
của giáo viên và hoạt động tự do với đồ vật cho trẻ ấu nhi ở trường mầm non.
5. Vai trò của giáo viên trong việc tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ ở
trường mầm non?
6. Lập kế hoạch tổ chức hoạt động với đồ vật cho trẻ ấu nhi ở trường mầm
non. (Tự chọn chủ đề)
3.3. Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo
3.3.1. Ý nghĩa của hoạt động vui chơi đối với sự phát triển của trẻ mẫu giáo
Chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo. Hoạt động vui chơi nếu
được tổ chức tốt thì có vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành nhân
cách cho trẻ mẫu giáo, trò chơi trở thành phương tiện giáo dục toàn diện và
chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông.
Khi bàn về vai trò, vị trí của hoạt động vui chơi đối với sự phát triển và
hơn. Rõ ràng trong trò chơi, không phải trẻ chỉ vận dụng những hiểu biết đã có
để khái quát hoá thành kiến thức của mình mà chính trò chơi còn thúc đẩy trẻ
vươn tới lĩnh hội những kiến thức mới. Trò chơi trực tiếp tác động để phát triển
nhu cầu ham hiểu biết của trẻ (nhu cầu nhận thức), một cơ sở quan trọng để
giáo dục trí tuệ.
- Hoạt động vui chơi góp phần phát triển các quá trình tâm lý nhận thức
của trẻ như tư duy, trí nhớ, chú ý, đặc biệt là tưởng tượng và ngôn ngữ. Các
quá trình tâm lý trên vừa là thành phần của hoạt động trò chơi, đồng thời chúng
lại được phát triển trực tiếp nhất trong hoạt động này.
3.3.1.2. Chơi là phương tiện giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo
Việc xác lập trong trò chơi một thái độ đối với điều mình thể hiện chứng
tỏ rằng trò chơi không những là phương tiện nhận thức và giáo dục trí tuệ mà
còn là phương tiện giáo dục đạo đức cho trẻ.
- Trong trò chơi trẻ tích cực nắm vững qui tắc đạo đức, chuẩn mực hành
vi của con người, nắm vững thái độ của con người đối với lao động, nắm được
quan hệ tương hỗ giữa con người với con người, góp phần hình thành hành vi
xã hội của bản thân trẻ, hình thành thái độ của trẻ đối với cuộc sống và đối với
nhau. Cũng trong trò chơi trẻ hiểu cụ thể hơn điều tốt, điều xấu, khuyết khích
trẻ bắt chước việc làm, hành vi đạo đức tốt phù hợp với khuynh hướng đạo đức
xã hội.
- Trong khi chơi, thông qua vai chơi hấp dẫn, trẻ dễ dàng hướng tới cái
đẹp trong hành vi của các bạn mình, dễ tiếp thu cái đẹp trong quan hệ giữa
người với người. Khi đóng các vai chơi, trẻ dễ dàng phục tùng các qui tắc đạo
đức ẩn kín sau các vai đó. Ví dụ: Khi đóng vai bác sỹ, trẻ phải thực hiện những
qui tắc như bác sỹ phải ân cần, chu đáo, thận trọng, ôn hoà, nhẹ nhàng khi
khám cho bệnh nhân. Dần dần sau nhiều lần đóng vai bác sỹ và thực hiện qui
tắc đó đã hình thành ở trẻ một số phẩm chất tốt như đối xử nhẹ nhàng với bạn
bè, thân thiện ân cần với các em nhỏ... Như vậy, các qui tắc đạo đức ứng xử
bên ngoài đã trở thành các phẩm chất đạo đức bên trong của trẻ thông qua vai
chơi bác sỹ, và biểu tượng đạo đức như lòng nhân ái, sự tốt bụng, ân cần chăm
-Trò chơi dưới sự hướng dẫn của giáo viên góp phần đẩy mạnh sự phát
triển thể lực chung của trẻ. Khi chơi tinh thần của trẻ phấn khởi, thoải mái,
hoạt bát, đây chính là yếu tố quan trọng đẩy mạnh sự phát triển thể lực và tinh
thần của trẻ.
- Khi trẻ tham gia vào trò chơi, các cơ quan trong cơ thể được vận động,
thức đẩy quá trình trao đổi chất, tăng cường hô hấp và tuần hoàn, góp phần
tăng cường sức khoẻ của trẻ. Đặc biệt là những trò chơi vận động góp phần
phát triển vận động cơ bản, phát triển tố chất như nhanh, mạnh, bền bỉ ở trẻ.
3.3.1.4. Chơi là phương tiện giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo
Trẻ cảm thụ được cái đẹp trước hết là ở đồ chơi (màu sắc, kích thước hài
hoà, hình dáng), cái đẹp trong hành vi, cư xử, lời nói đẹp trong các vai chơi.
Mặt khác trong các trò chơi xây dựng, lắp ghép trẻ tự mình tạo ra cái đẹp, phát
triển tình cảm thẩm mỹ cho trẻ.
3.3.1.5. Chơi là phương tiện giáo dục lao động cho trẻ mẫu giáo
Trong trò chơi, đặc biệt là trò chơi sáng tạo hình thành một số kỹ năng
lao động đơn giản ở trẻ: kỹ năng sử dụng một số đồ chơi, một số vật liệu tạo
nên sản phẩm.
- Trò chơi dưới sự hướng dẫn của giáo viên, chuẩn bị những phẩm chất
cần thiết cho người lao động trong tương lai như tính mục đích, tính tổ chức,
86
tính sáng tạo, kiên trì, vượt khó... Ngoài ra, những tình cảm tích cực trong quá
trình chơi có ý nghĩa quan trọng để giáo dục lòng yêu lao động và thói quen lao
động. Vì vậy N.K.Crúpxkaia đã cho rằng: “trò chơi- đó chính là lao động, là
một hình thức giáo dục nghiêm túc”.
Tóm lại, hoạt động vui chơi là phương tiện quan trọng nhất để giáo dục
toàn diện cho trẻ mẫu giáo. Trong trò chơi, nhân cách của trẻ được hình thành
và phát triển. Đồng thời, trong trò chơi các phẩm chất tâm lý cần thiết cho hoạt
bác sỹ nếu không có vai bệnh nhân, bán hàng phải có người mua.
+ Nội dung chơi: Trong trò chơi, trẻ tái tạo các hành động và các quan hệ
xã hội giữa người với người. Kinh nghiệm sống của trẻ càng phong phú thì nội
dung chơi được mở rộng bấy nhiêu.
+ Luật chơi: Luật chơi gắn với vai chơi và nó không qui định hành vi của
trẻ “từ bên ngoài” mà do nhu cầu của đứa trẻ khi thực hiện một vai chơi nào đó
87
để cho giống như thật. Do vậy mà với luật chơi trong trò chơi phân vai theo
chủ đề trẻ cảm thấy không bị áp đặt, là một sự cần thiết” từ bên trong” gắn với
mong muốn đóng tốt vai chơi giống hơn, tái tạo đúng hơn, đầy đủ hơn cuộc
sống của người lớn.
Luật chơi ở đây không được xác định trước mà được ẩn dấu sau các vai
chơi. Ở lớp bé luật chơi thường hướng vào cách thức hành động (bác sỹ có biết
khám bệnh không, y tá có biết tiêm thuốc không). Còn ở lớp lớn hơn thì luật
chơi thường hướng vào việc tái tạo đúng các quan hệ qua lại và các chuẩn mực
đạo đức xã hội (bác sỹ khám bệnh có cẩn thận không, có ôn hoà với bệnh nhân
không).
Tất cả các thành phần này liên quan mật thiết với nhau, bổ sung và chi
phối lẫn nhau. Nếu thiếu một trong các thành phần trên thì không còn là trò
chơi đóng vai theo chủ đề nữa.
3.3.2.1.3. Ý nghĩa của trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trò chơi đóng vai theo chủ đề có ý nghĩa đặc biệt đối với trẻ mẫu giáo,
trong khi chơi trẻ từng bước học làm người.
- Trong trò chơi trẻ tái tạo lại các mối quan hệ xã hội của người lớn, cách
giao tiếp, ứng xử giữa con người với con người trong xã hội. Do đó, thông qua
các vai chơi mà trẻ học được cách ứng xử tốt đẹp giữa con người với con
người, hình thành các hành vi xã hội cho trẻ. Trong trò chơi giúp trẻ hình thành
- Vào cuối năm thứ ba, trò chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ có bước
tiến nhảy vọt, trẻ đã biết xác định vai bằng lời (là mẹ, là bác sĩ v.v...) và hành
động tương ứng với vai chơi. Cùng với nhập vai, trẻ biết chuyển hành động
chơi từ vật này sang vật khác, biết sử dụng vật thay thế trong khi chơi. Nội
dung chơi vẫn là những hành động với đồ vật gắn liền với việc trải nghiệm tình
cảm của vai chơi (ví dụ mẹ nấu bột cho con, mẹ ru con ngủ, bác sĩ khám bệnh
cho búp bê...). Trẻ chủ yếu là chơi cạnh nhau, các hành động chơi của trẻ
không phụ thuộc vào nhau, trẻ chưa biết thoả thuận cùng chơi. Tuy nhiên, ở lứa
tuổi này bắt đầu xuất hiện nhóm chơi nhỏ (từ 1-2 trẻ), nhưng còn rất lỏng lẻo,
dễ tan vỡ bởi sự thu hút của các nhóm chơi khác hoặc bởi sự hấp dẫn của đồ
chơi.
- Đến lứa tuổi mẫu giáo nhỡ các nhóm chơi nhỏ (2-3 trẻ) dần dần được
củng cố và mở rộng thành những nhóm chơi đông hơn (4,5 trẻ), nhóm chơi ổn
định và bền vững hơn. Các thành viên trong nhóm đã biết thoả thuận cùng
nhau, biết thiết lập các mối quan hệ trong khi chơi. Nội dung chơi cũng phong
phú hơn và chủ đề chơi cũng được mở rộng hơn. Trẻ không chỉ biết thể hiện
vai qua các hành động với đồ vật, đồ chơi mà trẻ còn phản ánh đời sống tình
cảm của vai chơi, phản ánh mối quan hệ xã hội của vai mà mình nhận, đặc biệt
là trẻ thể hiện được một số tiêu chuẩn đạo đức đặc trưng của vai chơi.
- Đến cuối tuổi mẫu giáo nhỡ thì một số nhóm chơi đã biết liên kết và
phối hợp cùng nhau theo một chủ đề chung. Ở lứa tuổi này, trò chơi đóng vai
theo chủ đề đã bắt đầu hoàn thiện. Trẻ biết tự điều khiển trò chơi của mình.
- Vào tuổi mẫu giáo lớn các nhóm chơi ổn định và bền vững trên cơ sở
các nhóm chơi từ lớp nhỡ chuyển lên, dần dần xuất hiện nhiều trò chơi tập thể
với thời gian lâu hơn, số lượng vai chơi đông hơn, nội dung chơi đa dạng và
phong phú hơn. Trẻ tự tổ chức và điều khiển trò chơi không cần có sự hỗ trợ
trực tiếp của người lớn, tự phân vai chơi, tự chọn “thủ lĩnh” điều khiển trò
chơi. Trong khi chơi, trẻ tích cực trao đổi, cùng nhau thoả thuận, bàn bạc về dự
định chơi, bổ sung phương tiện chơi, dự kiến đưa thêm trò chơi mới... Giữa các
nhóm chơi có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, phối hợp cùng nhau hướng theo
Bước 2: Tiến hành chơi.
Cô giáo theo dõi và hướng dẫn cho trẻ chơi, bảo đảm nguyên tác hứng
thú, tự nguyện và bảo đảm tính phát triển của trò chơi. Cụ thể:
+ Lúc đầu cô giáo đóng một vai chơi cụ thể cùng chơi với trẻ, dạy trẻ
các thao tác chơi, phản ánh hành động giống như hành động của vai đó. Ví dụ:
đóng vai mẹ thì phải biết nấu ăn, cho con ăn, ru con ngủ; bác sĩ thì phải biết
khám bệnh...
+ Khi trẻ biết tự điều khiển trò chơi thì cô không đóng vai chơi nữa mà
chỉ giúp trẻ bằng các câu hỏi gợi ý khi trẻ gặp khó khăn.
+ Dạy trẻ biết chơi cùng nhau và chơi theo nhóm, giải quyết các mâu
thuẫn của trẻ trong quá trình chơi.
Bước 3: Nhận xét sau khi chơi:
- Chủ yếu là hướng vào điểm tốt để động viên và khuyến khích trẻ. Cô
mở rộng nội dung chơi và nhận xét vai chơi( ví dụ: hôm nay bạn Thuỷ làm cô
giáo rất giỏi, đã cho các bạn học toán, tập thể dục, ngày mai bạn Thuỷ sẽ cho
các bạn ăn cơm, ngủ, dạo chơi nữa..). Đặc biệt lưu ý khi nhận xét tránh tình
trạng làm mất hứng thú chơi của trẻ.
- Nhận xét sau khi chơi chỉ đạt kết quả khi không tách rời khỏi nội dung
chơi,vai chơi, luật chơi cũng như không tách rời khỏi toàn bộ quá trình chơi.
- Hình thức nhận xét ở độ tuổi khác nhau cũng khác nhau. Ví dụ:
+ Đối với trẻ mẫu giáo bé nhận xét chỉ có tính chất xác nhận. Nhận xét
cũng như thoả thuận trước khi chơi được tiến hành ngay trong quá trình chơi,
không tách thành các khâu riêng biệt. Cô cùng chơi với trẻ như người bạn, nếu
thấy trẻ có biểu hiện tốt, cô động viên khuyến khích trẻ.
90
+ Đối với trẻ 4-5 tuổi: Trẻ đã có kỹ năng chơi, biết thoả thuận trước khi
chơi theo nhóm, do đó nhận xét sau khi chơi cũng được tiến hành theo nhóm
tay búp bê, tháo các bộ phận của ôtô...).
- Cô giáo đóng vai trò là người bạn lớn cùng chơi với trẻ, dạy trẻ biết
cách chơi với đồ chơi đúng ý nghĩa của nó (chơi búp bê thì phải biết bế búp bê,
cho búp bê ăn, chơi ôtô phải đẩy cho nó chạy...). Ví dụ: khi trẻ chơi búp bê, cô
cũng bế một con búp bê ngồi cùng trẻ, vừa bế vừa giải thích: Mẹ bế con ngay
ngắn lên còn ăn bột nhé, bột còn nóng, cô làm động tác thổi bột cho nguội rồi
làm động tác đút cho búp bê ăn ... Cô làm như vậy là hình thức làm mẫu, trẻ
làm theo cô mà không mất đi sự hứng thú.
- Việc thoả thuận trước khi chơi và nhận xét sau khi chơi chưa tách ra
thành các thời điểm riêng biệt mà được tiến hành trong quá trình cô chơi cùng
91
trẻ. Cô và trẻ cùng chơi, động viên trẻ khi trẻ có biểu hiện tốt. Nhận xét của cô
chủ yếu hướng vào việc thực hiện các hành động với đồ chơi.
- Trong giai đoạn này, mâu thuẫn chủ yếu là tranh giành đồ chơi. Mỗi trẻ
muốn có một đồ chơi riêng vì trẻ chưa biết chơi thành nhóm. Vì vậy cần phải
có nhiều đồ chơi cùng loại để tránh tình trạng trẻ tranh giành đồ chơi lẫn nhau.
Khi trẻ biết chơi theo đúng nghĩa của nó thì trò chơi của trẻ sẽ phát triển
đến giai đoạn cao hơn, từ các hành động với đồ vật chuyển sang các hành động
theo vai chơi.
Giai đoạn 2: Đặc trưng của giai đoạn này là xuất hiện các hành động vai.
Trò chơi ở đây không đơn thuần là chơi búp bê, chơi ôtô nữa, mà khi hỏi
trẻ: “cháu chơi gì thế”? thì trẻ trả lời: “cháu là mẹ”; “cháu là chú lái xe... (tức
là trẻ đóng các vai trên.
Cô giáo là người bạn lớn cùng chơi với trẻ, giúp trẻ nhận vai chơi, chọn
chỗ chơi và dạy trẻ các hành động phù hợp với vai chơi.
Thông thường trẻ chỉ phản ảnh lại những hành động gây ấn tượng chứ
chưa phản ánh các hành động vai theo trật tự nhất định (ví dụ: lái xe chỉ cầm