MỤC LỤC
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
bản thân tôi, tôi tự nghiên cứu, tự tìm hiểu và hoàn thiện luận văn trong đó có sự
kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước với những trích dẫn vá sử dụng
trong giới hạn cho phép.
Luận văn này chưa được công bố trên các phương tiện thông tin, cũng
không trùng với bất cứ luận văn nào tại thời điểm hiện tại.
Hà Nội, năm 2016
Tác giả luận văn
............................................................................
............................................................................
............................................................................
Hoàng Thị Quyên
2
LỜI CẢM ƠN
Lời cảm ơn đầu tiên và sâu sắc của tôi xin được dành gửi tới PGS.TS Đặng
Thị Lan – người đã quan tâm và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm
luận văn, giúp tôi có thêm nhiều kiến thức về vấn đề ảnh hưởng của đạo đức Phật
giáo đối với thanh niên hiện nay cũng như giúp tôi rèn luyện kỹ năng nghiên cứu
khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Triết học, Học viện Khoa
học Xã hội, đã quan tâm tạo điều kiện thuận lợi, dành nhiều công sức giảng dạy,
hướng dẫn giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành
mà Phật giáo có sức ảnh hưởng mạnh nhất - nhà nước phong kiến lúc đó rất đề cao
Phật giáo. Ngày nay, tuy Phật giáo không còn ảnh hưởng mạnh mẽ như vậy nhưng
sức ảnh hưởng của Phật giáo vẫn còn nguyên vẹn và là một phần không thể thiếu
trong đời sống tâm linh của con người Việt Nam.
Từ những năm cuối của thế kỷ XX, đất nước ta ngày càng chịu nhiều tác
động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Bên cạnh những thành tựu đáng tự hào trên tất cả các mặt của đời sống xã hội
thì có một điều không thể phủ nhận đó là sự mất cân đối trong quá trình phát triển
con người - xã hội trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là sự thoái hóa đạo đức của
một bộ phận giới trẻ, thanh niên. Thực trạng đạo đức thanh niên hiện nay có nhiều
vấn đề cần giải quyết, bên cạnh những thanh niên có phẩm chất đạo đức tốt, có ý
4
thức học tập và lao động, có sự cống hiến không nhỏ cho dân tộc thì có một bộ
phận không nhỏ thanh niên đang có biểu hiện đi xuống của nhân cách đạo đức,
nhiều biểu hiện của lối sống sa đoạ trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Thái
độ coi thường những giá trị truyền thống là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội
đang ngày càng có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là ở lớp trẻ. Họ có xu hướng đề
cao cá nhân, sống ích kỷ, lạnh lùng, không có tình nghĩa, ít chú ý đến nghĩa vụ và
trách nhiệm, ít quan tâm đến những người xung quanh… hàng loạt những hiện
tượng đau lòng diễn ra ở chốn học đường và trong xã hội khiến chúng ta không thể
làm ngơ.
Mặt khác, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nền đạo đức mà chúng ta
đang xây dựng cần phải hướng tới một hệ thống giá trị tinh thần mà ở đó, cái
truyền thống và cái hiện đại cần phải được kết hợp với nhau chặt chẽ để nền văn
hóa dân tộc nói chung và các giá trị đạo đức truyền thống nói riêng tham gia vào sự
hòa nhập với các giá trị phổ biến toàn nhân loại mà không bị hòa tan, điều mà
Đảng kêu gọi là không làm mất đi bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
Chính vì vậy, việc phát huy cái tốt, cái đẹp, tiếp thu các giá trị tiến bộ và phổ
tinh thần văn hóa của một bộ phận dân chúng, trong đó có những giá trị đạo đức
phù hợp với lợi ích toàn dân, với công cuộc xây dựng xã hội mới”. Trong văn
kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Tín
ngưỡng tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân”…cần “phát huy những
giá trị tốt đẹp về văn hóa, đạo đức của tôn giáo”.
Phật giáo ở Việt Nam chứa đựng những giá trị nhân bản và tầm ảnh hưởng
rất lớn trong đời sống tinh thần người Việt, góp bồi dưỡng và hình thành đạo đức
cho mọi người nói chung và tầng lớp thanh niên nói riêng. Vì vậy, việc khai thác
những yếu tố tích cực của đạo đức Phật giáo nhằm hạn chế những tiêu cực để xây
dựng đạo đức thanh niên hiện nay là điều rất cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu lý luận
và thực tiễn đó, tác giả lựa chọn vấn đề “Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đối với
6
đạo đức thanh niên ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Là một trong ba tôn giáo lớn thế giới, Phật giáo có lịch sử phát triển lâu dài
và có nhiều đóng góp cho tư tưởng nhân loại, do đó được giới khoa học xã hội
quan tâm và nghiên cứu. Ở Việt Nam, có rất nhiều công trình nghiên cứu đã được
đánh giá công bố và trở thành tài liệu có giá trị trong việc nhìn nhận và đánh giá
lịch sử phát triển của dân tộc.
Các công trình nghiên cứu, chúng tôi có thể xếp thành các nhóm sau đây
a) Các công trình nghiên cứu cơ bản về Phật giáo và đạo đức Phật giáo
Trong tác phẩm: “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con
người Việt Nam hiện nay” do tác giả Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1997; phần viết về Phật giáo, các tác giả đã tập trung vào khái niệm
từ, bi, hỉ, xả cùng các giá trị tư tưởng của Phật giáo với tư tưởng của con người
Việt Nam.
“Đạo đức học Phật giáo” của Hoà thượng Thích Minh Châu (chủ biên, 1995),
cách vững chãi phải dựa trên một cơ sở triết học, một nền tảng lý luận vô cùng sâu
sắc. Từ chỗ bàn về thế giới quan Phật giáo và nhân sinh quan Phật giáo nguyên
thuỷ, tác giả bàn về thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo Việt Nam, sự độc
đáo và sáng tạo của Phật giáo Việt Nam.
Năm 2008, Nxb Phương Đông, Hà Nội đã xuất bản cuốn “Sức mạnh của
Đạo Phật” của tác giả Jean – Claude Carriere, người dịch là Nguyễn Tiến Lộ. Đọc
cuốn sách nà chúng ta thấy được những mảng đề tài, những câu chuyện dẫn giải
gần gũi, giản dị, khúc triết và thực tiễn về Phật giáo. Tác giả đã đề cập đến một
thực tế hiện nay là khi con người tham vọng, chạy đua, vươn tới những đỉnh cao
danh vọng và giàu có vật chất, thì đời sống tâm linh, cái Đạo, cái Tâm, cái Thiện
8
trong mỗi con người có khi bị hu nhỏ lại, nhường chỗ cho những băn khoăn, trăn
trở, lo toan, cho những ham muốn bất tận của cuộc sống.
Năm 2010, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cho xuất bản cuốn “Tìm
hiều chức năng xã hội của Phật giáo Việt Nam” của tác giả Trần Hồng Liên. Trong
cuốn sách này, tác giả đã làm rõ các vấn đề như: Chức năng của Phật giáo đối với
vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá, giúp người đọc hiểu rằng dù tác động trên bất cứ lĩnh
vực nào thì tựu trung lại, Phật giáo cũng chỉ nhằm vào việc mang lại sự an vui, niềm
hạnh phúc về cả vật chất và tinh thần cho con người.
Tác giả Đặng Thị Lan với công trình “Đạo đức Phật giáo với đạo đức con
người Việt Nam” đã bàn đến những vấn đề trọng tâm của đạo đức Phật giáo và vai
trò ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đối với việc xây dựng nền tảng đạo đức trong
xã hội, cùng với những giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những
mặt tiêu cực của đạo đức Phật giáo.
b) Những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng đạo đức Phật giáo đến
đạo đức con người Việt Nam và thanh niên Việt Nam
Hướng nghiên cứu này có các tác phẩm chủ yếu sau: “Tìm về bản sắc văn
hoá Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm, Nhà xuất bản T.p Hồ Chí Minh, 1997;
phu, khảo cứu vị trí của vấn đề đạo đức trong tư tưởng Phật giáo, nội dung, đặc
điểm, nếp sống và giá trị đạo đức Phật giáo, sự dung hợp giữa đạ đức Phật giáo với
đạo lý Việt Nam, sự ảnh hởng của đạo đức Phật giáo đối với đời sống đạo đức ở
Việt Nam hiện nay và những giải pháp chủ yếu định hướng đối với những ảnh
hưởng của Phật giáo. Luận án đề cập đến nhiều vấn đề thuộc đời sống đạo đức,
song vấn đề ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam
chưa được đề cập.
Một số luận án khác như:
10
“Đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đạo đức con người Việt
Nam”, luận án Tiến sỹ, tác giả Đặng Thị Lan năm 2004, trường Đại học khoa học
xã hội và nhân văn Hà Nội.
Luận án Tiến sĩ “Đạo đức Phật giáo với công tác giáo dục thanh thiếu niên
tí đồ Phật giáo Thừa Thiên Huế hiện nay” của Ngô Văn Trân bảo vệ tại Học viện
KHXH Việt Nam (2012), đã đề cập khá sâu về đạo đức Phật giáo, chỉ ra nhân sinh
quan tiến bộ và độc đáo của đạo đức Phật giáo. Đồng thời, luận án giới thiệu mô
hình “Gia đình Phật tử” - một mô hình giáo dục thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo
tại Huế, các chủ thể khác tham gia giáo dục thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo Huế
và những giải pháp nhằm phát huy đạo đức Phật giáo thông qua gia đình Phật tử
trong công tác giáo dục thanh thiếu niên Phật tử ở Huế. Nhìn chung, luận án có
những điểm độc đáo khi khai thác tác động của Phật giáo Huế đến thế hệ trẻ, song
mới dừng lại khảo sát các tín đồ Phật giáo mà chưa nghiên cứu rộng đến thanh
thiếu niên nói chung.
c) Đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã nêu trên đã mang lại một cái nhìn
khá toàn diện về lịch sử Phật giáo và ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời
sống xã hội. Tuy nhiên, ở từng góc độ tiếp cận, mục đích nghiên cứu nên các tác giả
Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức thanh niên ở Việt Nam hiện
nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luân văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin , kết
hợp chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí
Minh và của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
12
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu: Phương pháp
nghiên cứu khoa học xã hội, trừu tượng hoá khoa học, phân tích, tổng hợp, thống
kê, thu thập số liệu, so sánh, đối chiếu để rút ra các kết luận, nhận định khoa học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn làm rõ nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của
đạo đức Phật giáo đối với đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương, 6 tiết.
Chương 1: Đạo đức Phật giáo và sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam
Chương 2: Những ảnh hưởng cơ bản của đạo đức Phật giáo đối với đạo đức
của thanh niên hiện nay.
13
Chương 1
ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ SỰ DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO
VÀO VIỆT NAM
một định chế xã hội thực hiện các chức năng điều chỉnh hành vi con người. Đạo
đức là những nguyên tắc sống, những quy phạm gắn liền và phù hợp với một hình
thái kinh tế- xã hội nhất định, được hình thành từ những điều kiện sinh hoạt vật
chất của xã hội, những quy phạm, nguyên tắc, tiêu chuẩn, lý tưởng này có tính nhất
thời về lịch sử và mang tính giai cấp rõ rệt.
Hồ Chí Minh nêu cao tư tưởng “Đạo đức cách mạng” với các nội dung “cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” để quét sạch chủ nghĩa cá nhân.
Từ các định nghĩa, quan điểm trên đây có thể tổng hợp lại đạo đức là “một
hình thái ý thức xã hội, gồm những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó
con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình
và sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với xã
hội” (Huỳnh Khái Vinh (2001), Những vấn đề văn hóa Việt Nam đương đại,
Nxb. Khoa học xã hội tr. 182)
Đạo đức phật giáo
Theo tiến trình lịch sử, tôn giáo trở thành một bộ phận quan trọng trong nền
văn hóa, văn minh nhân loại. Xét trên bình diện thế giới, tôn giáo không chỉ là sự thể
hiện niềm tin, mà còn là cầu nối văn hóa giữa các nước, các khu vực nên có ảnh
hưởng mạnh mẽ đến đời sống của con người. Mặc dù mỗi tôn giáo có hệ thống giáo
lý riêng song về cơ bản đều hướng con người tới CHÂN – THIỆN – MỸ.
Phật giáo là một tôn giáo lớn, đã để lại cho nhân loại nhiều tư tưởng về tôn
giáo, triết học, kinh tế, chính trị, mỹ học, văn hóa,…trong đó nổi bật nhất là tư
tưởng đạo đức. Phật giáo về cơ bản không phải là một học thuyết về đạo đức, song
xuất phát điểm của nó là chỉ dạy cho con người biết nguyên nhân của nỗi khổ và
15
con đường giải thoát. Từ những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh, Phật giáo rút ra hệ
quả của chúng để xây dựng một hệ thống đạo đức.
Như vậy, đạo đức là nền tảng quan trọng trong hệ thống giáo lý của Phật
giáo. Đạo đức Phật giáo với các chuẩn mực đạo đức đã trở thành tấm gương trong
mồ côi, hay đơn giản chỉ là lời động viên kịp thời giúp cho người khác vượt qua
đau khổ cũng được coi là làm việc thiện.
Biểu hiện “thiện” trong thực tế là rất đa dạng, thiện trong hành động, trong
suy nghĩ, trong ý định, trong hành vi, ý thức, thái độ. Thiện còn được thể hiện
trong văn học, nghệ thuật, điện ảnh, trò chơi.
Thiện biểu hiện trong hành động như việc gây quỹ từ thiện ủng hộ cho người
nghèo, người neo đơn, hay chương trình “trái tim cho em” giúp cho bao em bé bị
bệnh tim bẩm sinh có thể có cuộc sống bình thường, chương trình suất cơm từ
thiện hay suất cơm 2000đ ở các bệnh viện, chương trình ủng hộ nhân dân vùng bão
lụt “vì miền Trung thân yêu”, hay quyên góp quần áo ấm cho các em bé vùng cao
mùa mưa rét, đặc biệt ngày nay các bạn trẻ còn tự đứng ra thành lập hội tình
nguyện làm công việc vô cùng đặc biệt đó là chôn cất các hài nhi xấu số bị bỏ rơi,
…
Hành động thiện đôi khi chỉ biểu hiện đơn giản trong suy nghĩ như là cầu
nguyện điều tốt đẹp đến với một ai đó hay thể hiện trong ý thức là không pha các
hóa chất đã cấm vào thực phẩm, không làm thực phẩm giả.
Cái thiện chính là một phần gốc của sự tồn tại.
2) Khái niệm “ác”
Về khía cạnh ngữ nghĩa, “ác” là một tính từ chỉ chung về tính cách của
người hoặc một việc làm gây đau khổ, tai họa cho người khác.
Cái ác là cái đáng ghét, ghê tởm, cái cần phải gạt bỏ trong đời sống cá nhân và
xã hội. Cái ác làm mất đi cái văn minh, cao thượng của cuộc sống con người.
17
Ác là một khái niệm bao gồm không chỉ sự biểu thị ngữ nghĩa mà còn vạch
rõ bản chất của hành động, một việc làm, hành vi, một cử chỉ, lời nói thể hiện tính
tàn bạo, nham hiểm, độc địa.
Biểu hiện của ác cũng có nhiều dạng thức, nhưng để dễ nhận biết có thể
(Luận Ngữ, XIV, trích trong Tứ thư tập chú (Bản dịch của Nguyễn Đức Lân),
Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1998, tr. 7); “Người quân tử đạt tới chỗ cao
thượng, kẻ tiểu nhân đạt tới chỗ thấp hèn” (Luận Ngữ, XIV, trích trong Tứ thư
tập chú (Bản dịch của Nguyễn Đức Lân), Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội,
1998, tr. 24); “Đối với những người từ bậc trung trở lên, có thể dạy bảo về phần
hình nhi thượng; đối với những người từ bậc trung trở xuống, không thể dạy bảo về
phần hình nhi thượng vậy” (Luận Ngữ, VI, trích trong Tứ thư tập chú (Bản dịch
của Nguyễn Đức Lân), Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1998, tr. 19).
Tử Tư (483 – 402 TCN.), trong sách Trung Dung, đã dẫn lời Khổng Tử như
sau: “Hoặc sinh ra đã biết, hoặc phải học mới biết, hoặc phải cố công gắng sức mới
biết, nhưng kể về hiểu biết thì như nhau” (Trung Dung, trích trong Tứ thư tập
chú (Bản dịch của Nguyễn Đức Lân), Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1998,
tr. 20). Như vậy, Khổng Tử và cháu của ông vừa muốn phổ quát hoá các phẩm
cách khác nhau của con người, vừa muốn nhất thể hoá về mặt lý luận các phẩm
cách đó. Điều đó được thể hiện rõ nét qua việc nêu mối quan hệ giữa các hạng
người về năng lực trí tuệ với tính người
Kế thừa tư tưởng Khổng Tử, Mạnh Tử (372 – 289 TCN) đã có một cống
hiến xuất sắc cho việc giải quyết vấn đề triết học về con người nói chung và vấn đề
tính người nói riêng. Có thể nói, ông là người lần đầu tiên đề xướng lên một học
thuyết mang tính hệ thống về tính người. Học thuyết đó gọi là thuyết Tính thiện,
hay còn gọi là nhân tính hướng thiện. Mạnh Tử nói: “Người ta ai cũng có lòng bất
nhẫn [trước những đau khổ của người khác]… Sở dĩ nói ai cũng có lòng bất nhẫn,
là vì người ta chợt thấy đứa bé sắp ngã xuống giếng, ai cũng chột dạ, xót xa. Chẳng
phải mong làm thân với cha mẹ đứa bé, cũng không phải mong xóm làng, bạn bè
khen ngợi, cũng chẳng phải tránh tiếng xấu. Do đó mà xét, không có lòng trắc ẩn,
chẳng phải là người; không có lòng tu ố, chẳng phải là người; không có lòng từ
19
nhượng, chẳng phải là người; không có lòng thị phi, chẳng phải là người vậy. Lòng
thiện là trung với vua, hiếu với cha mẹ thì ngày nay có thêm nội dung mới là “
trung với Đảng, hiếu với dân”.
Đạo đức mang tính giai cấp do vậy thiện, ác mang tính giai cấp, giai cấp này
cho là thiện thì có khi giai cấp khác cho là ác. Mặc dù phản đối việc đề cao cái ác
hoặc biện hộ cho cái ác, nhưng đạo đức học Mác- lênin không đối lập một cách tuyệt
đối giữa cái thiện và cái ác. Do là sản phẩm của lịch sử xã hội nên quan niệm về cái ác
cũng thay đổi thậm chí trái ngược nhau từ xã hội này đến xã hội khác, từ thời đại này
đến thời đại khác.
Thứ ba: Quan niệm về thiện – ác của Hồ Chí Minh
Giáo dục cái thiện và cái ác là vấn đề trung tâm của giáo dục đạo đức luôn
được Đảng và Nhà nước quan tâm coi trọng và thường xuyên quán triệt, đặc biệt là
cho thế hệ trẻ hiện nay. Hai phạm trù này được thể hiện khá rõ trong tư tưởng của
Hồ Chí Minh.
Trong bản thân mỗi người, cái thiện, ác đạo đức thể hiện trong cách nghĩ và
cách giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân với tập thể, giữa công với tư.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và xã
hội có ý nghĩa vô cùng thiết thực. Làm tốt điều này, xã hội sẽ phát triển tốt hơn, sẽ
không còn nạn quan chức quan liêu, cửa quyền, vụ lợi, vị kỷ.
Trong giáo dục đạo đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến thiện,
ác xã hội và thiện, ác đạo đức (cá nhân). Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, thiện, ác
xã hội, xét đến cùng chính là khuôn mẫu, là môi trường sản sinh ra thiện, ác đạo
đức. Người nhấn mạnh vài trò của nhà nước cùng với hoàn thiện chủ trương, chính
sách và tổ chức xã hội có ý nghĩa quan trọng góp phần xây dựng môi trường xã
hội. Vậy, mỗi người phải luôn tu dưỡng và hoàn thiện nhân cách để kết hợp phù
hợp giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể để cùng toàn xã hội hành thiện, bài ác.
Hồ Chí Minh đã nói “việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ
mấy cũng tránh” (Hồ Chí Minh, Về vấn đề giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục,
Hà Nội, 1990, tr.55)
21
như theo phong tục của dân tộc ta thì con trưởng phải ở với cha mẹ để phụng
dưỡng nhưng ngày nay có rất nhiều gia đình, con cái ở riêng, chỉ đến khi cha mẹ
yếu mới về ở cùng để chăm sóc thì theo quan niệm mới điều đó cũng chưa hẳn là
xấu, vì các thế hệ luôn có những quan điểm, suy nghĩ, lối sống khác nhau nên khi
sống chung trong một mái nhà rất dễ xung khắc, gây bất hòa và mệt mỏi cho cả bố
mẹ lẫn con cái, vậy việc con cái ở riêng đôi khi cũng là điều tốt. Hay thông thường,
làm ơn được coi là việc thiện, gây oán được coi là việc ác. Làm ơn giúp người
được coi là việc thiện, nhưng giúp người làm chuyện gian dối, phi pháp thì lại là
việc ác.
Chủ trương của Phật giáo là chuyển hóa nghiệp ác thành nghiệp thiện và
thanh lọc tâm cho thanh tịnh, chứ không phải tiêu diệt cái ác, kẻ ác. Người xấu
có thể chuyển hóa thành người tốt nếu biết ăn năn, xám hối, thay đổi tính cách.
Trên đời không có ai hoàn thiện, tức không có ai ác hoàn toàn, cũng không có
ai tốt hoàn toàn cho nên người người nên cố thu theo Phật, thấy việc ác thì
tránh, việc tốt thì làm. Nhưng cũng có trường hợp làm nhiều phước thiện, công
quả cho chùa, công đức vật chất cho chùa nhiều nhưng lại coi đó là mình đang
ban ơn, ban phước, không cần học giáo lý, không tuân theo giáo lý, nói bừa,
làm nhặng, như vậy là thiện hay bất thiện? thật là tội nghiệp vô cùng!
Vậy muốn thanh tịnh được tâm ý, con người cần phải vượt qua sự chấp
thiện và ác. Tức là khi làm việc thiện giúp người, giúp đời thì hãy làm bằng tất cả
tấm lòng chân thành, tình thương yêu thật sự chứ không phải để sau này mong
người ta sẽ trả ơn mình, hay khi đi chùa thì việc công đức vật chất, hay hương
hoa cho nhà chùa thì phải với lòng nhất tâm kính lễ tôn tượng đức Phật với tâm
kính noi gương chư Phật chứ không mong cầu bất cứ điều gì cho bản thân. Phật
tử nên hiểu rằng, đến với chùa, với đức Phật là để thư thái tâm hồn, để đức ân của
Phật chiếu rọi tâm hồn mình, cho hồn mình trong sáng hơn, chứ không phải đến
với đức Phật để cầu may mắn, hạnh phúc cho gia đình, cho bản thân. Vượt qua
23
24
không sát sinh thì trong đời sống hiện tại sẽ mở rộng thêm lòng từ bi, là một nhân
chánh để tu hành thành Phật, và đạt được mười pháp lành.
Tuy nhiên, việc có phạm vào tội sát sinh hay không còn tùy trường hợp, hoàn
cảnh và đặc trưng, tâm tính của các loài. Ví dụ như việc giết kẻ ác để trừ hại cho
dân, cho người, giết các con vật to lớn, hung hăng không thể thuần hóa thì đó không
coi là việc ác, vì việc làm ấy đem lại lợi ích cho đa số. Hoặc với cỏ cây, tuy có
những biểu hiện của một sinh mệnh, đó là có sinh, có lớn, có tồn tại, có chết đi)
nhưng không có tình thức, khi bị đốn ngắt cỏ cây chỉ có phản ánh vật lí mà không có
phản ánh tâm lí, không khởi sinh sự khổ đau hay chống cự để giành giật sự sống,
như vậy hành động đó không bị coi là ác, là phạm vào tội sát sinh.
Xem xét tội sát sinh còn ở mức độ nặng hay nhẹ thì còn tùy vào hoàn cảnh
cụ thể, nếu biết rõ đối tượng là loài hữu tình mà vì lợi ích cá nhân vẫn cố tình sát
hại thì tội nghiệp rất nặng. Nhưng vì vô tình mà giết hại thì tội nhẹ hơn. Hay không
có tâm sát hại hoặc không biết mà cũng không có sự hiện diện của đối tượng bị sát
hại thì không phải chịu nghiệp báo bởi sự sát hại.
Theo tâm trạng, thì nặng nhất là tội do tâm sân hận, biết phạm pháp luật mà
vẫn cố ý giết hại kẻ khác, tội này phải bị đày vào địa ngục Vô gián, A Tỳ. Thứ đến
là tội tuy có sân hận kích động, nhưng nội tâm không rõ ràng hoặc trong tâm tuy rõ
ràng mà không sân hận trong khi thực hiện việc sát sinh. Tội nhẹ là không sân hận,
do không hiểu biết mà giết nhầm.
Theo đối tượng bị giết cũng có nặng nhẹ khác nhau như phá hủy thân Phật,
giết hại các thánh nhân, những người có công lao to lớn với nhân loại, với dân tộc,
giết hại cha mẹ, anh em, bạn hữu, thứ đến là phạm tội giết các người khác và tội
giết hại các loài chúng sinh để ăn thịt. Phàm là sát sinh thì đều có tội.
Theo thời gian giết hại cũng phân ra nặng nhẹ, nếu sau khi sát sinh mà tâm
vui vẻ, không cảm thấy tội lỗi, không biết hối hân thì tội nặng, nhưng sau khi sát