ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
LỘC NGUYỄN THỊ HUỆ
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CÁC
LOÀI THỰC VẬT RỪNG DÙNG LÀM THỰC PHẨM, GIA VỊ
TẠI XÃ VŨ CHẤN, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Nông lâm kết hợp
Khoa
: Lâm nghiệp
Khóa học
: 2011 - 2015
Giảng viên hƣớng dẫn
: TS. Nguyễn Thị Thoa
ii
LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa
Lâm Nghiệp, cô giáo hướng dẫn và sự nhất trí của UBND xã Vũ Chấn, huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện
trang khai thác và sử dụng các loài thực vật rừng dùng làm thực phẩm, gia
vị tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm của nhà
trường, khoa Lâm Nghiệp, cô giáo hướng dẫn, UBND xã Vũ Chấn, bà con
nhân dân trong xã, bạn bè và gia đình.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, khoa Lâm
Nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi
giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thoa cùng với UBND xã
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề
tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp K43 Nông lâm kết hợp đã quan
tâm, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Một lần nữa, tôi xin kính chúc toàn thể thầy, cô giáo khoa Lâm Nghiệp
sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt. Chúc toàn thể cán bộ trong xã Vũ Chấn
công tác tốt, chúc các bạn sinh viên mạnh khỏe học tập tốt, thành công trong
cuộc sống!
Thái Nguyên, ngày tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Lộc Nguyễn Thị Huệ
Participatory Rural Appraisal.
PCCR
Phòng chống cháy rừng
PCLB
Phòng chống lụt bão
NCCT
Người cung cấp tin
UBND
Ủy ban nhân dân.
vi
MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................... 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học ...................................... 3
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ........................................................................... 4
4.3.1. Kiến thức bản địa của người dân trong khai thác ................................. 42
4.3.2. Kiến thức của người dân địa phương trong chế biến và sử dụng thực vật
rừng làm thực phẩm, gia vị. ............................................................................ 44
4.3.3. Các loài thực phẩm tiềm năng............................................................... 50
4.4. Nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây rừng làm thực phẩm,
gia vị.. .............................................................................................................. 52
4.5. Những giải pháp bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững các loài thực
vật . .................................................................................................................. 52
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................... 55
5.1. Kết luận .................................................................................................... 55
5.2. Kiến nghị. ................................................................................................. 56
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt và vô cùng quý giá, những giá
trị của rừng mang lại cho con người rất lớn. Rừng cung cấp một khối lượng
lớn gỗ và lâm sản cho các ngành công nghiệp, cung cấp nguyên liệu cho các
ngành chế biến, lương thực thực phẩm cho cuộc sống của người dân sống
trong và gần rừng. Ngoài ra rừng còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu
khoa học, bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần bảo vệ nguồn nước, đất, điều
hòa khí hậu, hạn chế một số thiên tai như: hạn hán, lũ lụt, gió bão, đặc biệt là
sự nóng lên của trái đất, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du
lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Vì thế vai trò của rừng ngày càng trở nên
quan trọng.
Trong quá trình phát triển, loài người đã biết sử dụng những sản phẩm
của rừng mà đặc biệt là thực vật rừng để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống. Sự
những loại gia vị thực phẩm đặc sản.
Vũ Chấn là một xã thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam.
Xã nằm ở phía bắc của huyện và thuộc lưu vực của sông Nghinh Tường.
Vũ Chấn giáp với hai xã Sảng Mộc và Nghinh Tường lần lượt ở phía
tây bắc và đông bắc, giáp với xã Phú Thượng ở phía đông nam, giáp với xã
Lâu Thượng ở phía nam, giáp với xã Cúc Đường ở phía tây nam và giáp với
xã Thượng Nung ở phía tây.
Xã Vũ Chấn có gần 100% dân số là dân tộc ít người. Với 6 dân tộc đa
số là dân tộc Tày và Dao. Vũ Chấn được chia thành 10 xóm là Na Mấy, Đồng
Đình, Na Rang, Khe Rạc, Cao Sơn, Na Đồng, Khe Rịa, Na Cà, Khe Cái,
Khèn Nọi.
3
Với sự đa dạng về thành phần dân tộc, kiến thức bản địa về các loài cây
gia vị thực phẩm nơi đây vô cùng phong phú. Để góp phần bảo tồn kiến thức
về cây gia vị thực phẩm được tích luỹ, cũng như bảo vệ, khai thác, sử dụng
hợp lý các loài cây gia vị thực phẩm, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá
hiện trạng khai thác và sử dụng các loài thực vật rừng dùng làm thực
phẩm, gia vị tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm đánh giá mục đích thực trạng khai thác và sử dụng nguồn tài
nguyên thực vật làm gia vị thực phẩm của người dân địa phương. Tìm hiểu,
phân tích và làm rõ nguyên nhân những tồn tại, khó khăn từ đó đưa ra những
kiến nghị, giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển thực vật làm gia vị thực phẩm
tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được thành phần loài lâm sản ngoài gỗ được sử dụng làm
thực phẩm, gia vị.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
Lâm sản ngoài gỗ (Non timber forest products) bao gồm các nguyên
liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai thác từ rừng để phục
vụ con người chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa
mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc các
sản phẩm của chúng) củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, mây, song, gỗ
nhỏ và sợi (J.H. De beer, 2000)
LSNG thường được phân chia theo nhóm giá trị sử dụng như sau:
- Nhóm LSNG dùng làm nguyên liệu công nghiệp
- Nhóm LSNG dùng làm vật liệu thủ công mỹ nghệ
- Nhóm LSNG dùng làm lương thực thực phẩm và chăn nuôi
- Nhóm LSNG dùng làm dược liệu
- Nhóm LSNG dùng làm cảnh
LSNG đa dạng về giá trị sử dụng do đó nó có vai trò quan trọng đối với
đời sống xã hội. LSNG có tầm quan trọng về kinh tế xã hội, chúng có giá trị
lớn và có thể tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân trong vùng.
LSNG có giá trị đối với sự giàu có của hệ sinh thái rừng. Chúng đóng
góp vào sự đa dạng sinh học cho rừng, chúng là nguồn gen hoang dã quý có
thể bảo tồn phục vụ gây trồng công nghiệp.
LSNG hiện đang bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng bởi sự ảnh
hưởng của tăng dân số, mở rộng canh tác nông nghiệp, chăn thả gia súc không
kiểm soát, khai thác gỗ, thu hái chất đốt.
6
2.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
2.2.1. Tình hình trên thế giới
Lịch sử của các loài cây gia vị thực phẩm dài như chính lịch sử của
dụng chúng không ngừng tăng ở phương Tây. Với sự phát triển của các quy
trình tách, chiết xuất gia vị, gia vị đã được sử dụng rộng rãi hơn trong nước
hoa, mỹ phẩm và các ngành công nghiệp dược phẩm. Trong kỷ nguyên toàn
cầu hóa, nhằm đảm bảo sức khỏe của người tiêu dùng với các loại phụ gia hóa
học, gia vị trở nên ngày càng quan trọng hơn vì nguồn gốc tự nhiên, hương vị
chất kháng khuẩn và chất chống oxy hóa. Cũng có một sự tăng trưởng mạnh
trong việc sử dụng các sản phẩm thực vật tự nhiên và thảo dược trong ngành
công nghiệp mỹ phẩm, các loại gia vị như nghệ, nghệ tây, rau mùi, húng quế,
cỏ cà ri, …vv đã trở nên quan trọng hơn trong lĩnh vực này. Trong ngành
công nghiệp dinh dưỡng mới nổi, các loại hương liệu và gia vị có thể đóng
một vai trò quan trọng, vì có thế ứng dụng, sử dụng điều trị đã được khoa học
chứng minh và xác nhận, các đánh giá an toàn cần thiết đã được thực hiện.
Các loại gia vị thực phẩm có tầm quan trọng to lớn trong cuộc sống của
chúng ta, như là thành phần trong thực phẩm, đồ uống có cồn, thuốc, nước
hoa, mỹ phẩm, tạo màu. Các loại gia vị thực phẩm được sử dụng trong thực
phẩm để tạo hương vị, vị cay và màu sắc. Chúng cũng có chất chống oxy hóa,
kháng khuẩn, dược phẩm và tính chất dinh dưỡng. Ngoài những tác động trực
tiếp được biết đến, việc sử dụng những cây này cũng có thể dẫn đến tác các
dụng phụ phức tạp như giảm muối và đường, cải thiện kết cấu và phòng ngừa
hư hỏng đối với thực phẩm.
Ấn Độ được biết đến trên toàn thế giới như là “vùng đất của các loại
gia vị”. Các loại gia vị đã được trồng ở Ấn Độ từ thời cổ đại và đã nổi tiếng
trên khắp thế giới. Điều này thu hút các nhà thám hiểm, những kẻ xâm lược
và thương nhân từ các vùng đất khác nhau để bờ biển Ấn Độ. Ấn Độ với điều
8
kiện khí hậu và đất đai đa dạng, là quê hương của nhiều loại gia vị và là nơi
sản xuất các loại gia vị chất lượng nội tại cao .
có giá trị sử dụng và kinh tế cao trước kia khai thác được nhiều nhưng hiện đã
mất khả năng khai thác, thậm chí một số loài.
Cũng như các nước trong vùng nhiệt đới, Việt Nam có một tập đoàn
thực vật phong phú và đa dạng. Đó là điều kiện thuận lợi cho nhiều người
nghiên cứu, tìm tòi cũng như áp dụng các kêt quả đã được nghiên cứu và thử
nghiệm trên thế giới để phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên này.
Trong công trình nghiên cứu về đa dạng nguồn gen thực vật của trung
tâm Tài nguyên thực vật (2010) đã thống kê như sau: Từ vùng di dân để xây
dựng thủy điện Sơn La và các tỉnh lân cận (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai) có
tổng số 4.423 nguồn gen cây trồng các loại trong đó có 1.527 nguồn gen cây
rau và gia vị. Từ các tỉnh khu vực Tây Nguyên (Lâm Đồng, Gia Lai, Kontum,
Đắc Lắc) và khu vực Nam Trung Bộ (Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Định, Ninh
Thuận) thống kê được 608 nguồn gen cây trồng trong đó có 289 nguồn gen ra
và gia vị.
Trong nghiên cứu “Một số loại rau dại ăn được ở Việt Nam” Nguyễn
Tiến Bân và cộng sự (1994) đã thống kê được 113 loài thực vật rừng làm thực
phẩm, gia vị có ở Việt Nam và tìm hiểu giá trị dinh dưỡng, phân biệt rau ăn
được và rau độc, đặc điểm nơi sống và cách thu hái, chế biến, thành phần dinh
dưỡng…. Đây là mốt đề tài khoa học của nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu đã
điều tra, khảo sát, tìm hiểu trong một thời gian dài đầy công phu và tỉ mỉ trên
nhiều vùng sinh thái khác nhau.
Vũ Tài Anh (2008) đã nghiên cứu về đa dạng nguồn tài nguyên cây có
ích hệ thực vật Bắc Trung Bộ và thống kê được 547 loài được sử dụng làm
thức ăn, lương thực, thực phẩm, cây ăn quả hoặc chăn nuôi gia súc chiếm
13,23 %. Có thể kể đến mốt số loài ví dụ như: Hồng rừng, Mít rừng, Lười ươi,
Nang, Vú sữa rừng, Rau Tai voi, Môn thục…
10
Quang Độ (2001) [6] đã xác định được tên, giá trị sử dụng, đặc điểm sinh
thái, nơi phân bố của 15 loài thực vật rừng làm rau ăn và kinh nghiệm của
người tộc trong khai thác, sử dụng, chế biến các loài này. Đề tài này là một sự
đóng góp quan trọng cho tỉnh Bắc Kạn trong việc đánh giá nguồn tài nguyên
lâm sản ngoài gỗ.
Theo Trần Ngọc Lân (1999) [9] ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát
(Nghệ An) 100% hộ dân sống dựa vào rừng, 11,75 % số hộ thường xuyên
khai thác măng, mộc nhĩ thu nhập 26.000 đồng/ngày. Trong những ngày giáp
hạt trên 90% số hộ ở bản Châu Sơn phải vào rừng đào củ mài, củ chuối, củ
nâu, hái lá rừng để ăn.
Theo Lê Thị Diên và cộng sự (2004) [4] tại xã Phú Vinh, huyện A
Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế số loài thực vật LSNG làm thực phẩm chiếm tỷ lệ
lớn nhất, có tới 41 loài, chiếm 53% trên tổng số loài điều tra được. Trong
nhóm những loài cây cho thức ăn thì các loại măng được người dân khai thác
nhiều nhất. Đây là nguồn thực phẩm cung cấp cho bữa ăn hàng ngày của
người dân trong vùng, đồng thời còn được họ đem bán trên thị trường.
Cũng tại huyện A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế, Dương Viết Tình và cộng
sự (2005) [19] đã nghiên cứu, tìm hiểu vai trò, hiện trạng khai thác, tình hình
quản lí sử dụng lâm sản ngoài gỗ của người dân địa phương. Trong đó, nhóm
cho lương thực, thực phẩm không được tiêu thụ trên thị trường nhưng chúng
là nguồn bổ sung thêm năng lượng cho người dân, giúp làm giảm bớt tình
trạng thiếu dinh dưỡng thiếu dinh dưỡng trong thời gian giáp hạt. Các loại cây
thường được người dân sử dụng làm lương thực, thực phẩm là Măng nứa,
Măng giang, Măng tre, Môn vót, Môn thục, Mộc nhĩ, Nấm thối, Rau tàu bay,
rau Rớn,Rau chua, Đọt mây, hoa Chuối rừng, Dâu rừng, Chôm chôm rừng.
Khai thác lâm sản ngoài gỗ làm lương thực, thực phẩm cũng là một tập quán,
nét văn hóa của người dân tộc.
13
Nguyên được dùng làm nước giải khát ở Nam Bộ. Qủa Móc mật dùng làm gia
vị ở vùng núi Bắc Bộ. Qủa vả được trồng nhiều ở miền trung (Cẩm nang
ngành lâm nghiệp, Chương lâm sản ngoài gỗ, 2006) [2]
Rau rừng là nguồn lương thực thực phẩm phong phú. Các loài rau có
ưu thế là tái sinh nhanh, phát triển tốt trên diện tích đất trồng. Rau tàu bay, rau
Dớn, Bò khai, Rêu núi…là những loài phổ biến. Rau Sắng trên núi đá vôi
Chùa Hương là loại rau ngon, hiếm, được gọi là đặc sản trong trong vùng.
Mặc dù vậy cho đến nay loài rau này chưa được gây trồng và lan rộng (Cẩm
nang ngành lâm nghiệp, Chương lâm sản ngoài gỗ, 2006) [2]
Về tri thức bản địa trong sử dụng các loài thực vật làm thực phẩm của
đồng bào dân tộc cũng rất phong phú và hình thành từ rất sớm. Trong nghiên
cứu Đinh Thanh Sang và cộng sự (2007) [13] nguồn thực phẩm quan trọng
đối với đồng bào Châu Mạ tại Vườn quốc gia Cát Tiên đó là măng. Măng
được khai thác chủ yếu từ 2 loại tre là Lồ Ô (Bambusa Procera) và Mum
(Gigantochloa sp.). Mùa hái măng là từ tháng 6 -10 hàng năm. Trước đây hái
măng chỉ để sử dụng trong tất cả các bữa ăn, nhưng hiện nay măng trở thành
hàng hóa quan trọng tăng thu nhập của gia đình. Rau rừng, đọt mây cũng luôn
có mặt trong bữa ăn của đồng bào Châu Mạ.
Theo Phạm Quốc Hùng và cộng sự (2009) [8] người Mông tại khu bảo
tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò tỉnh Hòa Bình sử dụng các loài rau trồng
như: Cải nương, Bí đỏ, Cải xang, Xu hào… Rau rừng như: hoa chuối rừng đọt
cây móc, và một số cây họ dương xỉ, nhiều loài nấm cũng được người dân sử
dụng làm thực phẩm như: Nấm hương, Mộc nhĩ.
Hiện nay, một số loài thực vật rừng cho thực phẩm đã được gây trồng.
Mục đích là phục vụ cho chính nhu cầu của người dân trong vùng, cung cấp
cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Cây thạch đen có nguồn gốc từ Trung
Quốc nhưng được nhập vào nước ta từ rất lâu đời. Ở Việt Nam cây đã trồng ở
về kinh doanh tre lấy măng với khoa học hiện đại, góp phần thúc đẩy kinh
15
doanh măng tre ở Việt Nam, đề tài nghiên cứu kiến thức bản địa kinh doanh
tre lấy măng ở vùng Đông Bắc Việt Nam được thực hiện từ năm 2004. Mục
tiêu của đề tài nhằm xác định những loài tre có thể kinh doanh lấy măng, tổng
kết kinh nghiệm địa phương và đề xuất mô hình kĩ thuật để kinh doanh tre lấy
măng có hiệu quả, bền vững (Nguyễn Danh Minh, 2005) [10]
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về thực vật cho thực
phẩm như:
Trồng thử nghiệm thâm canh các loài tre nhập nội lấy măng của Đỗ
Văn Bản, 2009. Nhân giống Tai chua bằng phương pháp ghép của Đặng
Quang Hưng, Nguyễn Bá Triệu, Nguyễn Xuân Nam, 2009. Các báo cáo của
chương trình “ Tăng cường sử dụng nguồn gen rau bản địa nhằm cải thiện
dinh dưỡng cho các cgia đình nghèo ở Châu Á” của Trung tâm Nghiên cứu và
Phát triển Rau châu Á giai đoạn 2003 – 2005. Nghiên cứu các loài rau rừng ăn
được phục vụ bộ đội ở chiến trường Tây Nguyên 1969 – 1973 của Nguyễn
Nghĩa Thìn.
Song song với những nghiên cứu đó, một số chương trình được triển
khai:
1. Dự án trồng rừng đặc sản (được lồng ghép trong chương trình 5 triệu
ha rừng, 1998 – 2010).
2. Dự án sử dụng bền vững các loài LSNG (2001) do Trung tâm nghiên
cứu lâm đặc sản và tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thực thi với
sự cộng tác của Trung tâm nghiên cứu tài nguyên môi trường (CRES), Viện
nghiên cứu sinh thái (ECO – ECO).
3. Dự án trồng tre Điền trúc ở Lâm Đồng do Trung tâm Khuyến nông
Quốc gia và Trung tâm Khuyến nông Lâm Đồng năm 2002 – 2006.
lợi cho việc phát triển cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi và lưu thông hàng
hóa trong và ngoài xã.
17
Khí hậu
Là khu vực nằm trong vùng khí hậu Trung du miền núi phía Bắc, mang
những nét điển hình của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa hè nóng ẩm mưa nhiều
nhưng ít có những ngày nhiệt độ quá cao hoặc có gió lào, mùa đông thường lạnh
khô hanh, cuối mùa đông có mưa phùn, ẩm độ không khí cao.
Mùa đông lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3), mùa hè ẩm ướt, mưa nhiều (từ
tháng 4 đến tháng 10).
- Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,4°C, tháng có nhiệt độ trung bình
cao nhất là 36,8°C (tháng 6); tháng thấp nhất là 3°C (tháng 1, 2)
Biên độ ngày đêm trung bình là 7°C, lớn nhất là tháng 10: 8,2°C.
Với chế độ nhiệt như vậy rất thích hợp để phát triển các loại cây như: quế,
hồi, chè và các loại cây ăn quả.....
- Lượng mưa
Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau là mùa khô, lượng mưa thấp chỉ
chiếm 9% tổng lượng mưa cả năm.
Từ tháng 4 đến tháng 10 là mùa mưa, lượng mưa lớn chiếm đến 90%
tổng lượng mưa cả năm.
Lượng mưa bình quân 1.941 mm/năm, lượng mưa lớn tập trung vào các
tháng 6, 7, 8 và 9 do vậy thường xẩy ra hiện tượng xói mòn, rửa trôi và lũ lụt
cục bộ.
+ Độ ẩm trung bình năm là 83%, cao nhất là 87%, tháng có độ ẩm thấp
nhất là tháng 12: 77%.
- Gió: Có hai loại gió chính: gió mùa đông bắc và gió tây nam.