Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành - Pdf 37

Khoá luận tốt nghiệp

1

Nguyễn Thị Vân

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xã hội hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang
trong quá trình chuyển đổi và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội. Việt
Nam là một trong những quốc gia luôn coi trọng vấn đề bình đẳng giới và coi đó
chính là mục tiêu mang tính chiến lược nhằm đảm bảo quyền con người nói
chung và quyền bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình nói riêng. Đặc biệt
là sự bình đẳng giữa vợ và chồng. Chính vì vậy, trong các văn kiện của Đảng và
trong các văn bản pháp luật của Nhà nước, quyền bình đẳng giữa nam và nữ,
giữa vợ và chồng luôn được quan tâm sâu sắc. Trong lĩnh vực hôn nhân và gia
đình (sau ®©y viÕt t¾t lµ HN&G§), nhìn chung, quyền bình đẳng giữa vợ chồng,
đặc biệt là quyền bình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng đã được đề cập
khá cụ thể và chi tiết trong các quy định của pháp luật và ngày càng có xu hướng
hoàn thiện hơn. Điều đó cho thấy sự quan tâm của Đảng, của Nhà nước và của
toàn xã hội đến vấn đề này đồng thời góp phần vào mục tiêu chung là bình đẳng
giới của toàn thế giới. Song các quy định đó vẫn còn nhiều bất cập, chưa hoàn
thiện trong từng trường hợp cụ thể khi chia tài sản của vợ chồng dẫn đến việc
chia tài sản còn nhiều sai sót và chưa đảm bảo quyền bình đẳng cho các bên.
Hơn thế nữa, trong điều kiện kinh tế đang phát triển theo hướng thị trường
hóa hiện nay, khi khối lượng tài sản của công dân tăng lên, nhu cầu riêng cũng
nhiều hơn, ý thức, tâm lý tài sản riêng để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống, nghề
nghiệp, sinh hoạt cá nhân được chủ động hình thành và phù hợp với tâm lý dân
tộc, mong muốn tạo lập cho mình một khoản tài sản độc lập không bị phụ thuộc
bất cứ ai kể cả giữa vợ và chồng cùng với tình trạng ly hôn ngày một gia tăng thì
việc chia tài sản giữa vợ chồng là một yêu cầu hợp lý. Và vấn đề phải đảm bảo

nhân gia đình hiện hành” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đÒ tài
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực HN&G§ đã
có nhiều bài viết về tài sản vợ chồng trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân… đề cập đến những khía cạnh khác nhau
của tài sản vợ chồng: Ví như “Quyền sở hữu của vợ chồng theo luật Hôn nhân
và gia đình 2000” (Nguyễn Văn Cừ, Tạp chí Luật học số 4/2000. Tr. 3); “Hậu
quả pháp lý của việc chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” (Nguyễn
Phương Lan, Tạp chí Luật học số 6/2002)… Ngoài ra cũng đã có những khóa
luận tốt nghiệp cử nhân và luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu về vấn đề tài sản


Khoá luận tốt nghiệp

3

Nguyễn Thị Vân

vợ chồng như luận văn tốt nghiệp cao học luật khóa I của Th¹c sü Hoàng Ngọc
Huyên với nội dung “Chế độ tài sản vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình”
và gần đây nhất là công trình khoa học “Chế độ tài sản vợ chồng theo luật Hôn
nhân và gia đình Việt Nam” được thầy giáo Nguyễn Văn Cừ bảo vệ thành công
luận án tiến sĩ vào đầu năm 2005. Đây thực sự là những công trình có giá trị về
khoa học và thực tiễn, nhưng những công trình này chủ yếu tập trung đi vào
phân tích những khía cạnh chế độ tài sản của vợ chồng theo luật HN&G§ hiện
hành chứ chưa nghiên cứu dưới góc độ bình đẳng giới. Chính vì vậy vấn đề
“Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo pháp luật Hôn
nhân và gia đình hiện hành” mặc dù đã được nghiên cứu và trình bày trong giáo
trình Luật HN&G§ Việt Nam của Trường Đại Học Luật Hà Nội và trong các
giáo trình giảng dạy luật học tại các cơ sở đào tạo luật học ở nước ta, nhưng việc

chia tài sản.
Chương II: Quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản theo
quy định của pháp luật hiện hành.
Chương III: Thực tiễn bảo vệ quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc
chia tài sản và một số giải pháp hoµn thiÖn ph¸p luËt.


Khoá luận tốt nghiệp

5

Nguyễn Thị Vân

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA VỢ
CHỒNG TRONG VIỆC CHIA TÀI SẢN
1.1. Khái niệm chung.
1.1.1. Khái niệm giới, giới tính, bình đẳng giới
* Khái niệm giới
“Giới” là phạm trù chỉ mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ, biểu
hiện cách thức phân định xã hội giữa hai đối tượng này, có liên quan đến các
vấn đề thuộc về thể chế xã hội.
Các vai trò giới khác với các vai trò giới tính – mang đặc điểm sinh học.
Những vai trò khác nhau này chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố lịch sử, tôn giáo,
kinh tế, văn hóa và chủng tộc. Do vậy, vai trò giới của chúng ta không phải có từ
khi chúng ta được sinh ra mà là những điều chúng ta được dạy dỗ và thu nhận từ
khi còn nhỏ và trong suốt quá trình trưởng thành.
Các vai trò giới là sự hội tụ của những hành vi ứng xử được dạy dỗ về mặt
xã hội, mong muốn về những đặc điểm và năng lực xã hội coi là thuộc về đàn
ông hoặc thuộc về đàn bà (bé trai hay bé gái) trong một xã hội hay một nền văn

nhiên ấy của giới tính cũng đã ít nhiều chi phối sự bình đẳng giữa nam và nữ,
giữa vợ và chồng nói chung. Bởi lẽ, khi các yếu tố sinh học của giới tính tác
động đến quan hệ vợ chồng thì xét ở một phương diện nào đó người vợ sẽ khó
có được sự bình đẳng với chồng ví dụ vấn đề thể lực. Và khi cần có sự bình
đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản thì yếu tố giới tính đã ít nhiều có sự
tác động đến.
* Khái niệm bình đ¼ng giới
Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống
và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới. Họ cùng có vị thế ngang nhau và được
tôn trọng như nhau, có điều kiện và cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và
thụ hưởng các thành quả phát triển trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Bình đẳng giới không có nghĩa nam giới và phụ nữ là hoàn toàn giống
nhau, được chia đều nhau quyền lực, quyền năng, nghĩa vụ hoặc trách nhiệm
trong mọi trường hợp, bởi họ không đồng nhất về đặc điểm sinh lý, thể trạng sức
khỏe, nhu cầu, chức năng xã hội, lợi ích… Bình đẳng giới đòi hỏi sự công bằng,
sự nhận biết và đánh giá đúng những mặt mạnh, mặt yếu của mỗi giới để từ đó
1

Viện ngôn ngữ học, từ điển tiếng việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học Hà Nội – Đà Nẵng, 2003, Tr.405
Ts. Đào Thị Hằng. “Vấn đề bình đẳng giới và những đảm bảo trong pháp luật lao động Việt Nam” – Đặc san về
bình đẳng giới. Tr. 10
2


Khoá luận tốt nghiệp

7

Nguyễn Thị Vân


hoạch định và thực thi chính sách”, Hà Nội 2004. Tr41
4
Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2002. Tr.13.


Khoá luận tốt nghiệp

8

Nguyễn Thị Vân

ngày 3/1/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành Nghị Quyết 35/2000 đã quy định như sau:
Quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 sau đó họ mới đăng
kí kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ được công nhận là đã xác lập kể từ ngày
họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng mµ không phải từ ngày đăng kí
kết hôn.
Nam nữ chung sống như vợ chồng từ sau ngày 1/1/2003 mà không đăng
kí kết hôn thì họ không được công nhận là vợ chồng và không được xác lập thời
kỳ hôn nhân.
Nam nữ chung sống như vợ chồng từ sau ngày 1/1/2003 họ mới đăng kí
kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ chỉ được công nhận là đã xác lập kể từ ngày
họ đăng kí kết hôn. Vµ thời kỳ hôn nhân được bắt đầu kể từ ngày đăng kí kết hôn.
Nam nữ chung sống như vợ chồng bắt đầu từ ngày 1/1/2001 trở đi mà
không đăng kí kết hôn thì pháp luật không công nhận là vợ chồng và thời kỳ hôn
nhân không được xác lập.
Như vậy việc xác định thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc giải quyết các vụ kiện liên quan đến quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đặc
biệt là trong việc chia tài sản. §ã lµ mét trong nh÷ng c¬ së đảm bảo quyền bình
đẳng và quyền lợi chính đáng cho cả hai bên.

nhãn hiệu hàng hóa. Các quyền này phải giá trị được bằng tiền và có thể chuyển
giao trong giao lưu dân sự.
* Khái niệm quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
Dưới góc độ pháp lý, tài sản của vợ chồng có thể hiểu là tổng hợp các quy
phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề tài sản vợ chồng bao gồm các quy định về
căn cứ xác lập tài sản vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản
chung, tài sản riêng, căn cứ thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ về tài sản của
vợ chồng.
Dưới góc độ pháp luật HN&G§ thì quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
được hiểu là quyền sở hữu đối với tài sản chung và quyền sở hữu đối với tài sản
riêng của vợ chồng.
Quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng: Tài sản chung của vợ
chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, thu nhập do
lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản được tặng cho chung, được thừa kế
chung hoặc tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất
mà vợ chồng có sau khi kết hôn cũng là tài sản chung của vợ chồng (Điều 27
Luật HN&GĐ năm 2000).
6

Bộ luật dân sự 2005. Điều 163. Tr.83


Khoá luận tốt nghiệp

10

Nguyễn Thị Vân

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Vợ chồng có

Khoỏ lun tt nghip

11

Nguyn Th Võn

chng cú ton quyn trong vic chim hu, s dng v nh ot ti sn riờng
ca mỡnh phự hp vi quy nh ca phỏp lut. V, chng cú quyn tng, cho,
mua bỏn, trao i ti sn riờng ca mỡnh vi bt c ch th no mt cỏch c lp
v bỡnh ng. V chng cú quyn nhp hoc khụng nhp ti sn riờng vo khi
ti sn chung(7).
Quyn t nh ot ca v, chng i vi ti sn riờng ca mỡnh chớnh
l s bỡnh ng m phỏp lut ó tha nhn v bo m thc hin. Nú cho phộp
ngi cú ti sn riờng nhp hay khụng nhp ti sn ú vo khi ti sn chung m
khụng bờn no cú quyn ộp buc bờn no. Mc dự Ti sn riờng ca v, chng
cng c s dng vo cỏc nhu cu thit yu ca gia ỡnh trong trng hp ti
sn chung khụng ỏp ng (Khon 4 iu 33 Luật HN&GĐ năm 2000) thc
cht ó hn ch quyn s hu ti sn riêng ca v chng, nhng quy nh ú
khụng lm nh hng n quyn bỡnh ng ca v chng trong s hu ti sn
riờng vỡ nú nhm m bo nhu cu i sng chung ca gia ỡnh.
* Khỏi nim chia ti sn ca v chng
Chia ti sn ca v chng theo Lut HN&GĐ l tng hp cỏc quy phm
phỏp lut do Nh nc ban hnh quy nh v nguyờn tc phõn chia, cn c phõn
chia, phng thc phân chia cng nh hu qu phỏp lý ca vic chia ti sn v
chng nhm m bo nhu cu v li ớch chớnh ỏng ca cỏc bờn v chng.
Chia ti sn ca v chng c xỏc nh trong cỏc trng hp: Chia ti
sn chung trong thi k hụn nhõn; Chia ti sn khi ly hụn; Chia ti sn khi mt
bờn v, chng cht hoc b Tũa ỏn tuyờn b l ó cht. Ngoài ra luật còn quy
định một số trờng hợp chia tài sản đặc biệt nhằm thỏa mãn yêu cầu và phù hợp
với thực tế cuộc sống khi giải quyết các vụ án liên quan đến vấn đề chia tài sản

hành các văn bản pháp luật liên quan đến quyền lợi của người phụ nữ nhằm đảm
bảo tính khả thi các quyền của phụ nữ được thực hiện trên thực tế đời sống, làm
ổn định quan hệ HN&G§. Đó chính là cơ sở để đảm bảo một gia đình dân chủ,
hòa thuận và hạnh phúc.
Quy định về quyền bình đẳng trong việc chia tài sản của vợ chồng góp
phần thúc đẩy quá trình xã hội hóa theo xu hướng bình đẳng thực sự từ trong gia
đình đến cả xã hội, tiến tới mục tiêu bình đẳng giới trên toàn thế giới.
1.2.2. Ý nghĩa vÒ xã hội
Từ thực tế cuộc sống cho thấy, do bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng lạc
hậu, phong kiến nên vẫn tồn tại trong xã hội sự bất bình đẳng giữa nam và nữ,
giữa vợ và chồng. Sự bất bình đẳng ấy đã đẩy người phụ nữ vào tình trạng lệ
thuộc, không có sự đảm bảo về quyền lợi chính đáng của mình. Quyền bình
đẳng giữa vợ và chồng trong việc chia tài sản được khẳng định và thể hiện là
một nhu cầu cấp thiết, góp phần bảo vệ quyền lợi của người vợ, đẩy lùi tư tưởng


Khoá luận tốt nghiệp

13

Nguyễn Thị Vân

lạc hậu phong kiến, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa thực sự dân chủ và bình
đẳng ở nước ta.
Đặc biệt trong điều kiện kinh tế, xã hội đang phát triển theo hướng thị
trường hóa hiện nay, sự đa dạng hóa các mối quan hệ đã ảnh hưởng không nhỏ
tới vấn đề tài sản của vợ chồng. Đó là, khi họ muốn kinh doanh riêng cần phải
sử dụng một phần tài sản chung mà không muốn ly hôn hay vì một lý do nào
khác thì việc đảm bảo quyền bình đẳng khi chia tài sản giữa vợ chồng là hoàn
toàn cần thiết và phù hợp với thực tiễn.

- Tài sản vợ chồng cùng nhau tạo ra trong thời gian chung sống gọi là tần
tảo điền sản.
Như vậy tài sản chung của vợ chồng trong thời kì này gọi là tần tảo điền
sản. Trong một số quy định của Bộ Quốc Triều Hình Luật và Hoàng Việt Luật
Lệ thì vợ chồng có thể chia tài sản chung khi một bên chết hoặc khi vợ chồng ly
hôn: Trường hợp vợ chồng ly dị nếu có con chung thì tài sản sẽ để lại nuôi con,
người vợ không có con thì có thể được mang tài sản về nhưng nếu là thời gian
sống dài mà không sinh con. Nhưng nếu phạm vào thất suất sẽ không được
mang thê điền sản về nhà mình.
§ã lµ sự bất bình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng. Yếu tố lỗi
của người vợ là yếu tố quyết định phần tài sản mà người vợ được mang về khi ly
hôn, thÓ hiÖn sù coi trọng quyền lợi của người chồng mà coi nhẹ vị trí của người
vợ. Người vợ luôn phải chịu thiệt thòi khi chia tài sản chung với chồng
Trong pháp luật phong kiến, sự bất bình đẳng giữa vợ chồng trong việc
chia tài sản là không tránh khỏi bởi ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo, người
chồng được coi là chủ gia đình (gia trưởng) còn người vợ thì phải “tứ đức” và
tuân theo thuyết“tam tòng”. Vì vậy vai trò của người phụ nữ rất mờ nhạt, họ
hoàn toàn lệ thuộc vào người chồng nên người chồng có toàn quyền trong việc
quản lý, sử dụng tài sản trong gia đình, kể cả khi tài sản đó là cộng đồng tài sản.
Tuy nhiên, bên cạnh sự bất bình đẳng ấy thì chúng ta còn tìm thấy một số
quy định tiến bộ, thể hiện sự bình đẳng nhằm bảo vệ quyền lợi của người vợ
trong việc chia tài sản giữa vợ chồng. Về nguyên tắc, chỉ vợ chồng được xác
định là những chủ thể trong việc chia tài sản chung. Việc phân định thê điền sản,
phu điên sản và cho phép người vợ khi ly hôn có thể lấy lại thê điên sản được
coi là một bước tiến bộ đặc biệt của pháp luật thời kỳ này, quyền sở hữu tài sản
của người vợ đã được thừa nhận.


Khoá luận tốt nghiệp


của người chồng “thực hiện nguyên tắc bất bình đẳng giữa vợ với chồng với
quan niệm “thuyền theo lái, gái theo chồng”, “phu xướng phụ tùy” (8)
Tại Điều 112 Dân Luật Bắc Kỳ quy định:
8

Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
2002. Tr.58


Khoá luận tốt nghiệp

16

Nguyễn Thị Vân

“Khi nào vì sự ly hôn mà thành ra tiêu việc giá thú, nếu người vợ bị ly
hôn đã có con thì được một phần trong tài sản chung, phần ấy sẽ tùy theo kỷ
phần của người vợ đã góp vào hoặc đã tăng thêm cho của chung. Nếu người vợ
vì sự gian thông mà bị ly hôn thì cái phần ấy sẽ bị bớt đi một nửa”.
Đây là trường hợp chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn nhưng quy định
đó không đảm bảo được quyền lợi của người vợ. Vì khi ly hôn nếu người vợ đã
có con thì được một phần trong tài sản chung và phần ấy được nhiều hay ít tùy
thuộc vào công sức đóng góp trước đó của người vợ là bao nhiêu vào khối tài
sản chung của vợ chồng mà không phải là sự chia đôi, ngang bằng. Mặt khác,
yếu tố lỗi của người vợ là một yếu tố quan trọng để quyết định “kỷ phần” mà
người vợ được mang theo hay không khi ly hôn, ®ó là trường hợp nếu người vợ
“gian thông”. Mặc nhiên quy định này hoàn toàn không đề cập đến lỗi của
người chồng và điều đó cũng chính là sự bất bình đẳng mà pháp luật thừa nhận
giữa vợ với chồng khi chia tài sản. Song do điều kiện kinh tế, xã hội còn quá
nghèo nàn, dưới ách thống trị của chế độ thực dân nửa phong kiến và ảnh hưởng

HN&G§ đã góp phần đáng kể vào việc xóa bỏ chế độ HN&G§ phong kiến lạc
hậu, góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ khỏi chế độ đó, thúc đẩy sự phát
triển của xã hội Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Tuy nhiên cả hai sắc lệnh này vẫn chưa thể hiện đầy đủ và chặt chẽ về chế độ tài
sản cũng như vấn đề chia tài sản giữa vợ chồng nªn quyền bình đẳng giữa vợ
chồng trong việc chia tài sản cũng chưa được thể hiện một cách rõ nét.
* Giai đoạn 1954 – 1975
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã thắng lợi (n¨m
1954) nhưng đất nước ta vÉn tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ
chính trị khác biệt. Miền bắc được giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Miền nam tiếp tục cuộc Cách mạng dân tộc, dân chủ, đấu
tranh thống nhất nước nhà. Chính sự khác biệt đó làm cho hệ thống pháp luật
điều chỉnh hai miền cũng khác nhau.
Ở miền Bắc, chế độ HN&G§ phong kiến lạc hậu vẫn còn ảnh hưởng sâu
sắc trong đời sống nhân dân nên cần phải xóa bỏ triệt để những tàn tích đó, xây
dựng chế độ HN&G§ xã hội chủ nghĩa. Cùng với việc ban hành Hiến pháp n¨m
1959 vào 31/12/1959 Quốc hội khóa I đã chính thức thông qua dự luật HN&G§
ngày 29/12/1959. Một trong những nguyên tắc cơ bản được đề ra đó là nguyên
tắc nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong gia đình.


Khoá luận tốt nghiệp

18

Nguyễn Thị Vân

Vấn đề chia tài sản giữa vợ chồng trong Luật HN&G§ n¨m 1959 đã có sự
quy định cụ thể hơn so với các văn bản pháp luật về HN&G§ trước đó. Ví dụ
“Khi ly hôn, việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp công sức vào của mỗi

19

Nguyễn Thị Vân

Cả ba văn bản pháp luật này tuy đã hủy bỏ chế độ đa thê song vẫn duy trì
quyền gia trưởng của người chồng. Những quy định về chế độ tài sản cũng chỉ
nghiêng về bảo vệ quyền lợi cho người chồng. Người vợ có toàn quyền quản lý
tài sản khi người chồng không thể bày tỏ ý chí được vì thất tung hoặc đi xa
vắng. Tuy về mặt quản lý tài sản thì người vợ không được bình đẳng như người
chồng nhưng khi ly hôn hoặc ly thân thì người vợ sẽ được nhận lại phần tài sản
riêng của họ (Điều 204, Dân Luật Sài Gòn). Và ngay cả trong khi hôn nhân đang
tồn tại thì cả vợ và chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết chế độ biệt
sản, nhưng đều phải có lý do theo luật định và phải được Tòa án công nhận bằng
một án biệt sản. (Điều 165- Dân Luật Sài Gòn).
Như vậy, vấn đề chia tài sản giữa vợ chồng đã được đề cập đến trong
những văn bản pháp luật này nhưng cũng còn rất khái quát, mờ nhạt, chưa thể
hiện được quyền bình đẳng giữa vợ chồng thậm chí vẫn là sự bất bình đẳng vốn
đã tồn tại lâu đời ở nước ta.
* Giai đoạn 1975 – 2000
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi (30/4/1975), cả nước
thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với tình hình mới đó thì việc áp
dụng Luật HN&G§ n¨m 1959 có một số điều không phù hợp nữa. Vì vậy ngày
29/12/1986 Dự Luật HN&G§ mới đã được Quốc hội Khóa VII kỳ họp thứ 12
thông qua. Luật HN&G§ n¨m 1986 được xây dựng và thực hiện trên các
nguyên tắc tiến bộ. Và một trong những sự tiến bộ đó là nguyên tắc vợ chồng
bình đẳng mà nhất là bình đẳng trong việc chia tài sản giữa vợ chồng.
Theo luật này, việc chia tài sản giữa vợ chồng được quy định tại các §iều
17, 18, 42 mà nội dung là sự ghi nhận việc thanh toán tài sản chung của vợ
chồng trong các trường hợp luật định, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với
tài sản đó. Việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại là

đã khẳng định đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc giải phóng người phụ
nữ, là cơ sở pháp lý để Luật HN&G§ n¨m 2000 tiếp tục kế thừa, phát triển và
đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản được thực hiện
trong thực tế đời sống hiện nay.
* Giai đoạn tõ n¨m 2000 ®Õn nay
Sau hơn 10 năm thực hiện Luật HN&G§ n¨m 1986, bước đầu quyền bình
đẳng giữa vợ chồng đã được khẳng định và thực thi. Tuy nhiên thực tiễn áp
dụng Luật HN&G§ n¨m 1986 cho thấy những quy định còn mang tính khái
quát, định khung, chưa cụ thể. Việc áp dụng luật để giải quyết các tranh chấp từ


Khoá luận tốt nghiệp

21

Nguyễn Thị Vân

các quan hệ HN&G§ đặc biệt là vấn đề chia tài sản vợ chồng gặp nhiều vướng
mắc. Tình hình đó đòi hỏi Nhà nước ta phải sửa đổi, bổ sung Luật HN&G§ n¨m
1986 một cách toàn diện. Theo đó, Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 7 chính thức
thông qua dự luật HN&G§ n¨m 2000 vào ngày 9/6/2000.
Luật HN&G§ n¨m 2000 tiếp tục kế thừa và phát triển hệ thống pháp luật
HN&G§, nguyên tắc “vợ chồng bình đẳng” tiếp tục được khẳng định là nguyên
tắc cơ bản của Luật. Theo Luật này, việc chia tài sản của vợ chồng được quy
định ở các Điều 29, 30, 31, 32, 95. Ngoài sù ghi nhận viÖc chia tài sản của vợ
chồng khi ly hôn thì Luật còn quy định cả việc chia tài sản vợ chồng khi hôn
nhân đang tồn tại cũng như khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố
là đã chết. H¬n thÕ cách chia mà Luật HN&G§ n¨m 1986 áp dụng còn quá
chung chung, chưa cụ thể nguyên tắc chia đôi tài sản cũng như phương thức chia
tài sản khi một bên vợ, chồng chết và khi vợ chồng ly hôn. Bởi vậy, quyền bình

iu 52 Hin phỏp năm 1992 ó quy nh: Mi cụng dõn u bỡnh ng
trc phỏp lut(9). Theo nguyờn tc ny thỡ mi cụng dõn bình đẳng trong quá
trình thc hin quyền và nghĩa vụ của mình. Bt c cụng dõn no, khụng phõn
bit ngi ú l ai, thnh phn xó hi nh th no, tỡnh trng ti sn ra sao, nm
gi chc v gỡ trong b mỏy nh nc, theo tớn ngng tụn giỏo no u cú
quyn v ngha v nh nhau. Lut phỏp Nh nc khụng tha nhn bt k mt
s c quyn, c li ca bt k mt i tng, tng lp no (10). Bỡnh ng trc
phỏp lut cũn bao hm c ni dung bỡnh ng nam n, bỡnh ng v chng. ú
l mt trong nhng tiờu chun c bn ỏnh giỏ mc tin b ca mt xó hi
l mc gii phúng ph n, gii phúng v trớ l thuc ca ngi v trong gia
ỡnh.
* Cụng dõn cú quyền t do kinh doanh theo quy nh ca phỏp lut
Xut phỏt t iu 57 Hin Phỏp năm 1992 cụng nhn: Cụng dõn cú
quyn t do kinh doanh theo quy nh ca phỏp lut. C th húa quyn ny, Bộ
Luật Dân sự, Lut Doanh Nghip v mt s vn bn phỏp lut khỏc ó quy nh
cho cỏc ch th khi tham gia vo hot ng kinh doanh cú cỏc quyn nh:
thnh lp doanh nghip, la chn ngnh ngh, hỡnh thc u t, kinh doanh
nhng ngnh ngh m phỏp lut khụng cm. Nn kinh t th trng m ra
nhiu c hi lm giu cho nhiu ngi, nhng vi s vn ng v nhng quy
lut riờng thỡ kinh t th trng ũi hi nhng ngi tham gia phi nm bt cỏc
9

Hin Phỏp nc cng hũa xó hi ch ngha Vit Nam nm 1992 (sa i), Nxb Chớnh tr quc gia, H Ni
2004, Tr.32.
10
Trng i Hc Lut H Ni, Giỏo trỡnh Lut Hin Phỏp Vit Nam, Nxb Cụng An Nhõn Dõn 2004. Tr.283.


Khoỏ lun tt nghip


quan h v chng, v, chng l nhng ch th c lp khi tham gia bt k mt
giao dch hp phỏp m bờn kia khụng cú quyn ngn cn, cỏc bờn luụn phi tụn
trng quyn bỡnh ng ú. Cú nh vy, thỡ gia ỡnh mi hnh phỳc v xó hi


Khoỏ lun tt nghip

24

Nguyn Th Võn

mi phỏt trin c. Mặt khác, cỏc ch th phi luụn tụn trng li ớch ca nh
nc, li ớch cụng cng, quyn v li ớch hp phỏp ca ngi khỏc (iu 10 B
Lut Dõn S năm 2005). Có nghĩa rằng, quyền bình đẳng luôn nằm trong khuôn
khổ pháp luật. Quyn bỡnh ng của vợ chồng trong vic chia ti sn luôn đợc
tôn trọng phát huy, luôn hớng tới sự đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các
chủ thể, và trong một chừng mực có thể, bảo vệ lợi ích chung của gia đình và xã
hội.
* Nguyờn tc quyn bỡnh ẳng ca v chng
iu 40 B Lut Dõn S năm 2005 quy nh: V chng bỡnh ng vi
nhau, cú quyn, ngha v ngang nhau v mi mt trong gia ỡnh v trong quan
h dõn s, cựng nhau xõy dng gia ỡnh no m, bỡnh ng, tin b, hnh phỳc,
bn vng(11). Quy định đó đã thể hiện s bỡnh ng về mọi mặt gia v chng
trong gia đình, cng nh phi cú s bỡnh ng trong vic chia ti sn ca v
chng. Cú nh vy thỡ mi xõy dng c mt gia ỡnh no m, tin b, hnh
phỳc v bn vng. ng thi hn ch c cỏc mõu thun phỏt sinh trong i
sng v chng v m bo quyn li chớnh ỏng cho cỏc bờn.
2.1.3. Nguyờn tc v chng bỡnh ng theo Lut HN&GĐ nm 2000.
Nguyờn tc v chng bỡnh ng ó c quy nh ti iu 19 Lut
HN&GĐ nm 2000: V chng bỡnh ng vi nhau, cú ngha v v quyn

khác cũng như để tránh những rủi ro tiềm ẩn như phá sản và những hậu quả của
phá sản trong kinh doanh thì việc đảm bảo quyền bình đẳng khi chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là hoàn toàn cần thiết. Đồng thời có
những trường hợp mâu thuẫn gia đình không thể hòa giải được nhưng do vợ
chồng đã tuổi cao mà không muốn ly hôn vì ngại dư luận nên giải pháp chia tài
sản chung của vợ chồng là phù hợp nhất. Hoặc trường hợp người vợ, hay người
chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng như trả nợ, cấp dưỡng, bồi thường
thiệt hại… mà bản thân người đó lại không đủ tài sản riêng để thực hiện nghĩa
vụ này thì việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cũng là một giải pháp.
Chính vì vậy cần thiết phải quy định về các vần đề liên quan đến quyền bình
đẳng giữa vợ chồng khi chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân nhằm đảm bảo được
các quyền năng về tài sản của mỗi người và giúp cho cuộc sống gia đình bền
vững, hôn nhân đạt được mục đích.
Tại Khoản 1 Điều 29 Luật HN&G§ n¨m 2000 quy định:
“Khi hôn nhân tồn tại trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh
riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ
chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung, việc chia tài sản chung phải lập
thành văn bản, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu tòa án giải
quyết”.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status